PDA

View Full Version : Lobby Holdings


thoidaianhhung
04-25-2009, 06:49 PM
Lobby United States of America

LobbyUSA®.com maintains a unique database that delivers four streams of data to be cross-referenced and tailored to match subscribers' needs. Information can be cross-referenced by corporation, industry, state or Congressional District and campaign contributions. Information is quickly and easily downloaded into Excel spreadsheets through a secure, user-friendly database

The information in LobbyUSA.com®'s database comes from a variety of sources, including a licensed agreement with Dun & Bradstreet, the leading provider of global business information, as well as other commercial databases. PAC information used by LobbyUSA® comes from the Federal Election Commission (FEC). And our industry information is based on the NAICS codes used by the U.S. Department of Commerce to categorize industry sectors

LobbyUSA®.com sells annual subscriptions to lobbyists and corporate government affairs executives, as well as trade association, coalition, communications and non-profit professionals, who are interested in identifying the business constituents of U.S. Senators and Congressional Representatives in all 435 Congressional Districts

LobbyUSA®.com is a privately held Limited Liability Corporation (LLC), headquartered in Free Union, VA. Its two principal partners, Emilio Collado and Carolyn Tieger, are respected public affairs professionals who have more than 60 years of experience combined working in Washington, D.C., and within the lobbying community specifically. They are both political strategists, have built numerous coalitions, managed integrated communications campaigns and mobilized grassroots support for numerous clients on some of the toughest issues ever to come before the U.S. Congress

thoidaianhhung
04-25-2009, 06:51 PM
Tìm hiểu cơ chế vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/quochoiMy.jpg

- Chính sách đối ngoại của Mỹ có ảnh hưởng không nhỏ tới nền chính trị của nước Mỹ. Tuy nhiên, chính sách này cũng chịu sự tác động rất lớn của cơ chế vận động hành lang (lobby) - một thói quen chính trị - đặc trưng nổi bật của các chính trị gia Hoa Kỳ.

Lobby hay vận động hành lang từ lâu đã là một thói quen chính trị, một phần không thể thiếu trong đời sống chính tr - xã hội Mỹ. Được coi là nét đặc trưng, một thứ văn hóa - chính trị Mỹ cho nên ở đây hoạt động lobby diễn ra rất sôi nổi, phổ biến và được pháp luật ghi nhận, quy định và bảo hộ.

Theo nghĩa đen, danh từ lobby chỉ hành lang rộng của toà nhà quốc hội, phòng chờ trong tiền sảnh của khách sạn hay tòa nhà lớn. Nhưng theo nghĩa bóng, lobby được hiểu là việc "vận động người có chức quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích và chính trị, kinh tế, xã hội". Ởnước Mỹ, đó chính là quá trình vận động các nghị sĩ, dân biểu trong quốc hội để họ đưa ra hoặc ủng hộ các đạo luật, nghị quyết, chính sách có lợi cho các "nhóm lợi ích" khác nhau.

Tại sao vận động hành lang lại phát triển mạnh nhất ở nước Mỹ và trở thành đặc trưng của nền chính trị Hoa Kỳ? Điều này một phần xuất phát từ đặc điểm của quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ.

Nước Mỹ được tổ chức theo chế độ liên bang, gồm ba bộ phận là cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan hành pháp (Chính phủ, đứng đầu là Tổng thống) và cơ quan tư pháp (Tòa án liên bang). Ba cơ quan này có quyền hạn và chức năng độc lập với nhau nhưng vận hành theo cơ chế cân bằng và kiểm soát nhằm bảo đảm cho quyền lực không tập trung quá nhiều vào một cá nhân hoặc một cơ quan nào. Theo cơ chế đó, các cơ quan của bộ máy nhà nước không chỉ nắm giữ những quyền lực đặc trưng của mình mà còn được trao một số quyền lực thuộc lĩnh vực của các bộ phận khác. Như vậy là giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị nước Mỹ có sự phụ thuộc, kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau.

Trong ba bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Mỹ thì Quốc hội là cơ quan lập pháp, có quyền lực cao nhất, giữ vai trò lãnh đạo đất nước và đại diện cho toàn thể nhân dân Mỹ. Quốc hội gồm hai viện là Thượng viện và Hạ viện. Quốc hội ngoài quyền ban hành, thông qua các đạo luật, sửa đổi Hiến pháp còn có quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của một cơ quan hay cá nhân nào đó. Với quyền lực này buộc Tổng thống phải có quan hệ chặt chẽ với Quốc hội để tranh thủ sưu đồng thuận với những chính sách của mình. Quốc hội Mỹ còn có quyền tối cao trong lĩnh vực thương mại, quyền tuyên bố chiến tranh hay hoà bình, ngăn cản chiến tranh hoặc tiến hành các chương trình nghiên cứu nhằm bảo đảm các vấn đề quốc phòng chung. Trong lĩnh vực đối ngoại, Quốc hội còn có quyền nắm giữ ngân sách và trong thực tế, đã có nhiều lần Quốc hội dùng quyền phân bổ ngân sách để tác động lên chính sách đối ngoại. Quốc hội có thể không thông qua việc chi ngân sách để thực thi một hiệp định mà Tổng thống đã ký với một nước khác hoặc không phân bổ ngân sách cho một kế hoạch cụ thể của Tổng thống. Ngay cả trong trường hợp Tổng thống muốn điều động quân đội để tiến hành chiến tranh nhưng nếu không được Quốc hội phê chuẩn và cấp ngân sách thì cuộc chiến tranh cũng không thể tiến hành được.

Trong quá trình hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách đối ngoại có sự tham gia của cơ quan hành pháp, đứng đầu là Tổng thống. Tổng thống là đại diện tối cao của đát nước trong quan hệ đối ngoại, có toàn ký kết các hiệp ước với sự phê chuẩn của Thượng viện và trên thục tế, Thượng viện phê chuẩn phần lớn các hiệp ước mà Tổng thống đã ký. Tổng thống còn có toàn quyền ký kết các hiệp định hành pháp với các quốc gia khác trên thế giới.

Sự vận hành của nền chính trị nước Mỹ còn có sự tham gia, tác động của các tổ chức chính trị, xã hội khiến cho nó ngày càng thêm phức tạp. Quốc hội thường rất nhạy cảm trước công chúng về các chính sách đối ngoại vì Quốc hội phải đối mặt với các cuộc thăm dò dư luận về các vấn đề cụ thể, trước việc công chúng có thực sự quan tâm đến chính sách đối ngoại hay không. Đây là cơ hội cho các tổ chức chính trị, xã hội có thể tác động nhằm thúc đẩy hay cản trở việc thông qua hoặc thực hiện một chính sách nào đó bằng việc thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, giới truyền thông hoặc thông qua ảnh hưởng của các nhóm lợi ích khác nhau. Sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều chủ thể khác nhau và quá trình lập pháp nói chung và quá trình hoạch định chính sách đối ngoại nói riêng của nước Mỹ khiến cho nó trở nên rất phức tạp, chồng chéo, nhiều khi còn dẫn tới xung đột, mâu thuẫn với nhau. Các nhóm lợi ích, các giai cấp trong xã hội đều muốn thể hiện vai trò và sự ảnh hưởng của mình đối với những quyết định của các cơ quan lập pháp nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Các nhà lập pháp, hành pháp cũng mong muốn những quyết định mà họ đưa ra nhận được sự ủng hộ của đông đảo công chúng, những người mà họ là đại diện. Đó chính là cơ sở để hoạt động lobby phát triển mạnh mẽ và trở thành đặc trưng trong đời sống chính trị Mỹ.

Vận động hành lang gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích (nhóm gây áp lực) trong xã hội Mỹ. Thực chất đó là những nhóm chính trị có chung lợi ích với nhau nên tập hợp lại để tự bảo vệ mình, thường là các hiệp hội nghề nghiệp như Hiệp hội Y tế, Hội luật gia, v.v..Ở Mỹ, yếu tố sắc tộc và thành phần xã hội rất đa dang, phức tạp có nhiều tộc người, nhiều nhóm cư dân cho nên quyền lợi của mỗi nhóm cư dân không giống nhau, nhiều khi còn đối lập, mâu thuẫn với nhau. Do vậy họ cần thể hiện được vai trò, sự tác động của mình với hệ thống chính trị thông qua các nhóm lợi ích. Trong tác phẩm "Logic chính trị Mỹ", các tác giả Samuel Kernell, Gary C.Jacobson phân tích: "Các nhóm lợi ích được đánh giá là bộ phận tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại”. Các nhóm lợi ích tham gia vận động hành lang liên tục, vào tất cả các cơ quan quyền lực và theo đuổi mục tiêu của mình bằng tất cả các cách thức có thể. Sức mạnh của các nhóm lợi ích chính là ở là phiếu họ ủng hộ cho các ứng cử viên trong cuộc bầu cử vào các chức vụ của Chính phủ hoặc đóng góp tài chính cho các chiến dịch vận động tranh cử. Chính nhờ hoạt động của các nhóm lợi ích mà các chính sách của chính phủ ban hành phù hợp với mong muốn của nhân dân.

Vận động hành lang là việc vận động người có chức quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích và chính trị, kinh tế, xã hội. Còn nhà vận động hành lang là một người, một nhóm người hoặc một tổ chức chuyên nghiệp giữ vai trò trung gian giữa cử tri, các nhóm lợi ích với nghị sĩ quốc hội nhằm tác động tới những chính sách, dự luật đang được xem xét tại Nghị viện.

Tại Mỹ, lobby là một trong những nghề được coi trọng và đông đảo nhất. Đến năm 2007, tại thủ đô Washington DC của Mỹ có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề lobby. Tại đây có một con phố mang tên K-Street, được coi là con phố của hoạt động lobby, nơi tập trung hàng loạt các công ty lobby lớn, hoạt động sôi nổi, tấp nập.

Những nhà vận động hành lang thường là các quan chức nghỉ hưu, chuyên viên làm việc tại Quốc hội, luật sư có kinh nghiệm. Những nhà vận động hành lang có danh tiếng thường là cựu bổ trưởng, tướng lĩnh quân đội, cố vấn, trợ lý của tổng thống, thượng nghị sĩ đã từng nắm giữ chức vụ chủ chốt tại quốc hội, kể cả Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ. Nghề lobby có sức hút như vậy cho nên nhiều nghị sĩ Mỹ, đã từng được đông đảo các nhà lobby vây đón xung quanh, sau khi nghỉ hưu cũng trở thành nhà vận động hành lang. Từ năm 1998 đến năm 2005, đã có tới 43% trong tổng số 198 thành viên của Quốc hội Mỹ rời khỏi chính trường đã đăng ký hành nghề lobby. Điển hình là trường hợp của Nghị sĩ Bob Livingston, sau khi rời khỏi chính trường, năm 1998, ông đã chuyển sang làm nghề lobby. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm lobby do ông thành lập đã phát triển thành một trong 12 công ty lobby lớn nhất nước Mỹ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger từng là nhà vận động hành lang cho nước Nhật.

Tuy nhiên, hoạt động lobby cũng rất dễ bị lợi dụng, bị mua chuộc bởi những lợi ích to lớn, những khoản lợi nhuận khổng lồ mà nó mang lại. Để minh bạch hoạt động này và kiểm soát nó, luật pháp Mỹ có quy định rất rõ ràng và cụ thể đối với hoạt động lobby. Ngày 19-12-1995, Tổng thống Clinton ký ban hành Đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) nhằm “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả...”Sau này, các điều khoản bổ sung, sửa đổi cho bộ luật này cũng được ban hành nhằm quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động lobby. Theo đó, các cựu đại diện thương mại Mỹ và phó của họ bị nghiêm cấm suốt đời đối với việc vận động hành lang cho người nước ngoài; Các quan chức Nhà trắng không được phép làm cho các công ty lobby trợ giúp về luật và tư vấn trong vòng 5 năm kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ của mình...Tuy có nhiều quy định và kiểm soát chặt chẽ như vậy nhưng ở Mỹ vẫn thường xuyên có nhiều vụ bê bối liên quan tới hoạt động lobby. Samuel Ward, “ông vua lobby của Mỹ ” ở thế kỷ XIX đã nói: “bữa tối là phương thức hiệu quả nhất để tiến hành lobby”.

Không chỉ quan trọng và phổ biến trong bản thân nền chính trị Mỹ, hoạt động lobby còn cần thiết với các quốc gia, tổ chức khi có quan hệ kinh tế, chính trị với Mỹ và muốn có lợi ích từ mối quan hệ này mang lại. Tại Washington có nhiều đại diện của các chính phủ, công ty, tổ chức nước ngoài. Lobby được họ sử dụng như phương cách quan trọng để tiếp cận Quốc hội và chính quyền Mỹ, bảo vệ lợi ích và bày tỏ mong muốn của mình.

Điển hình cho các nhóm vận động hành lang nước ngoài là Israel. Bằng sự năng động của giới lobby Do Thái, của Uỷ ban Quốc hội công cộng Mỹ-Israel (AIPAC), Israel đã nhận được sự ủng hộ của Mỹ trong hàng loạt các vấn đề, kể cả việc dựng hàng rào an ninh trên vùng lãnh thổ tranh chấp với Palestin. Nhóm lobby của Israel là sự kết hợp của nhiều tổ chức có quy mô lớn, được hỗ trợ bởi nguồn tài chính mạnh mẽ (15 triệu USD năm 1994) và các mối quan hệ gắn bó, thân thiết với các quan chức Mỹ.

Ở châu Á, Nhật Bản là nước đi đầu và gặt hái được nhiều thành công trong hoạt động lobby với Mỹ. Hoạt động lobby được Chính phủ Nhật xây dựng thành chiến lược hết sức chi tiết và khôn khéo, phối hợp nhịp nhàng giữa chính trị và kinh tế để bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh cũng như tạo ra lợi thế cho mình. Nhật Bản chi khoảng 400 triệu USD mỗi năm cho hoạt động lobby với Mỹ và là nước chi nhiều nhất cho hoạt động này với Mỹ. Tất nhiên là với số tiền chi tiêu lớn như vậy thì lợi ích nó mang lại không hề nhỏ, đơn cử là trường hợp của Công ty Toshiba của Nhật. Năm 1987, Toshiba đã bán kỹ thuật tàu ngầm tiên tiến cho Liên Xô, vì vậy mà Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu ra quyết định cấm nhập khẩu các sản phẩm của Toshiba trong 3 năm. Nếu quyết định này có hiệu lực thì thiệt hại của Toshiba ước tính lên tới khoảng 10 tỉ USD. Công ty này đã bỏ ra 10 triệu USD cho chiến dịch lobby của Chính phủ Nhật trong quan hệ Nhật-Mỹ. Nhờ vậy mà cuối cùng Quốc hội Mỹ chỉ hạn chế một số sản phẩm của Toshiba và thiệt hại của công ty này chỉ là vài trăm triệu USD.

Trung Quốc cũng là nước thực hiện rất thành công hoạt động lobby với Mỹ. Hội đồng kinh doanh Mỹ-Trung (HCBC) gồm hàng trăm công ty, tập đoàn của Mỹ có lợi ích trong việc làm ăn với Trung Quốc đã tích cực vận động Quốc hội và Chính phủ Mỹ xem xét việc tiếp tục giành quy chế thương mại cho Trung Quốc. Họ đã tranh thủ tối đa sự ủng hộ của Tổ chức Nông nghiệp liên bang Mỹ để mở rộng quy chế Thương mại bình thường (NTR) cho Trung Quốc được gia hạn hằng năm. Tổ chức Nông nghiệp liên bang là nhóm vận động hành lang có ảnh hưởng rộng lớn với dân chúng Mỹ. Tổ chức này có tới hơn 4,9 triệu gia đình thành viên tại 50 bang, được thừa nhận là tổ chức lobby có khả năng huy động sự ủng hộ của dân chúng lớn nhất đối với các vấn đề trong nước và quốc tế có liên quan đến nông dân và những người chăn nuôi gia súc ở Mỹ. Trung Quốc chính là thị trường lớn thứ sáu cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Mỹ. Nếu lobby thành công, Quy chế Thương mại bình thường hàng năm cho Trung Quốc và hàng dệt may Trung Quốc được xuất sang Mỹ thì đổi lại, hàng nông nghiệp của Mỹ cũng được xuất sang trung Quốc. Những nông hộ Mỹ có thêm việc làm, có thêm thu nhập. Trong suốt 2 tháng Hạ viện Mỹ thảo luận về vấn đề này, các nhóm kinh doanh và nông dân đã bao vây các Hạ nghị sĩ bằng các cuộc điện thoại, thư từ, email, các boá cáo ngắn theo chuyên đề để thuyết phục họ về những lợi ích của việc phê chuẩn NTR cho Trung Quốc. Sau đó, trong quá trình Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì lobby cũng là một biện pháp hữu hiệu và đắc lực nhất trong các phiên đàm phán đa phương và song phương kéo dài suốt 12 năm. Cho tới nay, hoạt động lobby của Trung Quốc với Mỹ vẫn được tiếp tục và tăng cường hơn trước, kết hợp nhiều phương thức khác nhau. Mỗi năm, Trung Quốc chi khoảng 80 triệu USD cho hoạt động lobby với Mỹ.

Tại Đông Nam Á, một số quốc gia như Campuchia, Inđônêsia, Philippin, Malaysia, Myanma, Singapo, Thái Lan... đều có chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động lobby với Mỹ. Các tập đoàn kinh tế, thương mạicủa các quốc gia này chũng chi những khoản tiền lớn, đôi khi gấp tới hàng chục, hàng trăm lần của chính phủ cho hoạt động lobby, phục vụ lợi ích của công ty, tập đoàn đó tại Mỹ.

Theo quan điểm của các nhà sáng lập nước Mỹ, chính trường cũng như thương trường, nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, chính trường sẽ ổn định vì nhà nước có đủ thông tin để biết dân cần gì, có yêu cầu, nguyện vọng gì. Nhà vận động hành lang cần thiết và được xem như người làm dịch vụ thông tin tiếp thị, môi giới trong thương trường. Chính vì vậy, lobby được xã hội và luật pháp thừa nhận như một phần không thể thiếu, như bộ phận song sinh của nền chính trị Mỹ. Tất cả những mối quan hệ, việc ban hành đạo luật, chính sách hay các vụ mua bán, làm ăn đều không thể thiếu hoạt động lobby. Tất cả những ai muốn ảnh hưởng với dư luận hay quá trình hoạch định chnhs sáhc của chính quyền đều phải thực hiện lobby. Trong một chính trường phức tạp, nhiều mối quan hệ đan xen như ở Mỹ thì lobby đơn giản chính là sự trao đổi, cung cấp thông tin cho các bên hiểu đâu là lợi ích liên quan thiết thực đến vấn đề mình quan tâm. Các nhà lobby giúp các nhóm cư dân, các tổ chức trong xã hội Mỹ, có lợi ích ở Mỹ đạt được nguyện vọng của mình một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ một phía hay nhiều phía. Đồng thời, các nhà lập pháp cũng cần đến thông tin mà các nhà lobby cung cấp cho họ song thông tin phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và thuyết phục. Đó là mối quan hệ xuất phát từ lợi ích của cả hai phía, mối quan hệ trao đổi, “có đi có lại” đúng với bản chất của người Mỹ.

Bên cạnh các nhân tố có sự chi phối lớn là tiền và quyền lực thì sự ảnh hưỏng của công chúng cũng đóng vai trò quan trọng. Nhiều nhóm bobby nước ngoài ở Mỹ đã sử dụng kênh ngoại giao nhân dân, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tác động đến công chúng Mỹ, tạo những ấn tượng tốt đẹp với cử tri Mỹ.

Tuy nhiên, chính vì lobby gắn với tiền bạc, quyền lực và lợi ích cho nên nó là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, ranh giới giữa sự trong sáng, công khai, minh bạch với vụ lợi, hối lộ là rất mong manh dễ bị vượt qua. Do vậy, bên cạnh những quy định của luật pháp thì đạo đức của các nhà vận động hành lang, bản lĩnh của các chính trị gia chính là những nhân tố hết sức quan trọng để lobby đóng góp tích cực, hiệu quả nhất vào nền lập pháp và hành pháp của nước Mỹ cũng như đối với các quốc gia, tổ chức, công ty, cá nhân có quan hệ với Mỹ, có lợi ích tại Mỹ.

thoidaianhhung
04-28-2009, 10:32 AM
Vấn đề vận động hành lang trên thế giới
Bài học kinh nghiệm với Việt Nam

Gần đây, vấn đề “Vận động hành lang” đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Có hẳn một cuộc hội thảo lớn đã được tổ chức. Điều đó cho phép chúng ta khẳng định rằng: Vận động hành lang là một vấn đề quan trọng đã xuất hiện khá lâu trên thế giới và vấn đề này đang ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chúng ta.

Theo cuốn từ điển Anh-Việt được tín nhiệm ở Việt Nam, “Lobby” trước hết là một danh từ có 3 nghĩa: a. cổng, lối vào, sảnh đường. b. phòng họp nghị viện. c. nhóm người cố gắng tác động đến các nhà chính trị. “Lobby” còn là động từ có hai nghĩa: a. vận động ủng hộ luật mới. b. vận động thông qua (hay bác bỏ) một đạo luật. Tìm trong cuốn “ Bách khoa toàn thư” tiếng Anh, chúng tôi gặp từ mục “Lobbying”, trong đó đề cập nhiều tới kinh nghiệm lobby ở Mỹ, vấn đề “Lobbies” và vấn đề vận động hành lang gián tiếp (Indirect lobby).

Ở Việt Nam có một phản xạ tự nhiện khá chính xác là: mỗi khi nói tới vấn đề vận động hành lang là người ta tức khắc liên tưởng, gắn nó ngay vào xã hội Mỹ, quốc hội Mỹ, chính phủ Mỹ, chính trường Mỹ. Chính xác bởi lẽ vận động hành lang ở Mỹ luôn được coi là sôi động nhất thế giới. Dưới góc độ lịch sử, vận động hành lang (Lobby) được lấy theo tên địa điểm diễn ra đầu tiên trong lịch sử - đó là hành lang của nghị viện Anh – nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp hoặc bất cứ người nào bên cạnh để bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại nghị viện.

Trên thực tế, từ “lobby” (vận động hành lang) bắt nguồn khoảng năm1840 tại quốc hội Anh Quốc, khi công dân Anh có quyền đến hành lang Quốc hội gặp các nghị sĩ để bày tỏ nguyện vọng của mình. Dần phát triển và lan rộng, giờ đây ở Mỹ, Châu Âu, Canada - những nơi được xem là có các hoạt động lobby chuyên nghiệp và sôi động nhất, các tổ chức và cá nhân hành nghề lobby đều phải đăng ký hoạt động. Đa số là đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh, với ngân khoản rất lớn để được hưởng lợi về chính sách. Mới đây, một uỷ viên Hội đồng Vận động hành lang của Québec (Canada) đã giới thiệu kinh nghiệm của nước này: người vận động hành lang phải công khai về cá nhân và thân chủ, công khai tổ chức công mà anh ta sẽ vận động. Đồng thời, nhà vận động hành lang còn phải công khai các hoạt động gián tiếp cho việc vận động như quảng cáo, vận động công luận…Một cơ quan về vận động hành lang được thành lập để giám sát kiểm tra các hoạt động này và các nhà vận động hành lang phải đăng ký hoạt động với cơ quan này.

Tổng quan, tại các nước phát triển, lobby được pháp luật thừa nhận và hoạt động công khai. Hoạt động lobby không phải ở trong phòng họp mà ở ngoài hành lang với nhiều hình thức phong phú. Các chuyên gia lobby gây ảnh hưởng với các đối tác thông qua việc mời đi dự thảo nước ngoài, phát các hồ sơ kỹ thuật, gọi điện thoại, đến thăm văn phòng làm việc, tặng quà, mời giữ vai trò cố vấn cho công ty…Thực tế nhãn tiền là khi Liên minh Châu Âu (EU) chọn Bruxells (Bỉ) làm trụ sở thì dòng chảy các chuyên gia lobby cũng ồ ạt về đây bởi các công ty biết rằng những gì diễn ra ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tương lai và chiến lược hoạt động của họ. Các chuyên gia lobby hoạt động dưới những cái áo như: văn phòng đại diện báo chí, tìm hiểu thị trường, luật…Hiện tại đây có tới 1.000 nhà báo nước ngoài, 3.000 hãng lobby với khoảng 15.000 nhân viên. Đã có một thời Pháp không quan tâm tới hoạt động lobby và khi đó hàng đống hồ sơ làm ăn của các doanh nghiệp Pháp nằm tồn đọng dài dài. Ngược lại Anh khá có kinh nghiệm làm lobby tại đây.

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Ngày nay, từ lobby tại Mỹ chỉ việc người dân tìm cách ảnh hưởng đến quyết định của các nhân viên chính phủ, từ các nghị sĩ đến các nhân viên trong guồng máy hành chính bằng nhiều hình thức khác nhau như gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý, biểu tình. Lobby có nền tảng vững chắc trong Hiến pháp Mỹ - đó là quyền được đề nghị với chính phủ trong hiến pháp. Tại Mỹ, hiện có rất nhiều công ty tư vấn về lobby. Thông thường họ là các cựu nghị sĩ . Các tổ hợp luật chuyên về nhà nước cũng thường làm lobby. Các công ty lớn thường có một văn phòng ngoại giao hay văn phòng liên chính phủ chuyên về lobby. Các văn phòng này thường đặt ở thủ đô Washington D.C. Các tổ chức phi chính phủ lớn cũng thường có một văn phòng hay chí ít là một nhân viên chuyên về liên hệ chính phủ. Trong lobby ở Mỹ cũng có xảy ra tham nhũng. Vì vậy Quốc hội Mỹ tìm cách giảm tham nhũng bằng cách yêu cầu các chuyên gia lobby (tiếng Anh là lobbyist) đăng ký với Quốc hội trong một danh sách công khai. Luật Mỹ cấm nhân viên nhà nước nhận quà trên 25 USD. Các công ty nước ngoài cũng có thể lobby tại Mỹ, thông thường là qua một công ty chuyên về lobby. Đài Loan được coi là bỏ chi phí lớn nhất cho việc lobby tại Mỹ vì họ cần Mỹ hỗ trợ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các công ty Trung Đông cũng khá tốn kém về lobby khi muốn đầu tư tại Mỹ.

Pháp luật Mỹ công nhận lobby là một hoạt động hợp pháp, công khai và được điều chỉnh bởi 3 Bộ Luật: Luật công khai vận động hành lang (lobbying Disclosure Code), Bộ Luật về Ngân sách Liên bang (Internal Revenue Code) và Luật đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act). Thực tế, ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington.D.C, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề: viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Hiện có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức tại Mỹ và khoảng 50.000 người đăng ký chính thức hành nghề lobby. Trong đội ngũ đang hành nghề lobby có khá nhiều luật sư (ở thủ đô Washington cứ 40 người dân thì có một luật sư) và các cựu quan chức của chính phủ. Cựu ngoại trưởng Henry Kissingger có thời kỳ làm lobby cho Nhật Bản, cựu Bộ trưởng Lục quân làm lobby cho một tập đoàn đầu tư…Các nước đồng minh của Mỹ như: Anh, Pháp, Đức, úc, Nhật, Hàn Quốc…cũng có một đội ngũ lobby hùng hậu ở Mỹ. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho các hoạt động lobby ở Mỹ, do vậy đã có được mối quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc luôn đặc biệt phức tạp. Singapore cũng là nước thành công trong các hoạt động lobby tại Mỹ nhờ đội ngũ chuyên gia lobby thuộc biên chế sứ quán nước này tại Mỹ được đào tạo rất tốt và hoạt động rất hiệu quả.

Chúng ta có bài hát rất hay, ở đó đậu lời có cánh “ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay”. Hiện trạng lobby ở Mỹ hiện nay có điểm tựa vững chắc trong lịch sử. Ngay từ ngày lập quốc, những cha đẻ của nước Mỹ, đã hình dung một xã hội dân chủ trong đó tiếng nói của người dân phải được truyền tải một cách đầy đủ nhất đến chính quyền. Một trong những công thần lập quốc của nước Mỹ là ông James Madison (sau này trở thành Tổng thống thứ tư của Mỹ vào năm 1809) là người phổ biến thuyết “bàn tay vô hình” trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, chính trường cũng như thương trường. Nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, vì nhà nước có đủ thông tin (những yêu cầu, nguyện vọng, áp lực từ dân) để biết và cung cấp được những cái dân cần. Từ đó, vai trò của những người vận động hành lang trong chính trường Mỹ được xem là cần thiết như vai trò của người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới…trong thương trường. Người lobby ở Mỹ có thể đại diện cho bất cứ một cá nhân, tập thể chính trị, xã hội, kinh tế, thương mại nào, kể cả những cá nhân, tập thể chính phủ nước ngoài, chỉ cần điều kiện là họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ. Phần lớn những người lobby là các quan chức hội hữu, những chuyên viên từng làm việc ở Quốc hội, các luật sư có kinh nghiệm chuyên ngành (của thân chủ họ). Những người lobby có tên tuổi lớn thường là những cựu Bộ trưởng, tướng lĩnh, cố vấn hay trợ lý của tổng thống, dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm những chức vụ chủ chốt ở Quốc hội, hoặc ngay cả những cựu tổng giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ.

Để hiểu và vận dụng tốt lobby ở Mỹ cần quan tâm tới một số vấn đề sau. Trước hết, công bằng đối với người Mỹ có nghĩa “sòng phẳng” nhiều hơn là “đúng” theo nghĩa đạo đức. Nghĩa là, nếu tôi đẩy được anh làm chuyện gì mà anh đồng ý dù không thực sự hài lòng, hoặc anh bị toà xử thiệt hại vì anh không có người biện hộ tốt thì cũng là sòng phẳng. Như vậy, khi chính quyền Mỹ có áp lực từ Hiệp hội Thuỷ sản Mỹ ( trực tiếp hay gián tiếp qua các dân biểu của họ) và lấy lý do nào đó để ngăn chặn một nước đưa tôm, cá vào Mỹ, mà nước xuất khẩu không có tiếng nói và một phần lực mạnh mẽ thì phải chấp nhận thiệt thòi. Nguyên tắc này áp dụng cho cả người Mỹ với nhau. Hoạt động lobby ở Mỹ tuy là công khai nhưng giá trị chính lại nằm ở những hoạt động “hậu trường”, vì các cuộc gặp gỡ giữa chính phủ và chính phủ thường có giá trị rất giới hạn. Các chính khách khi gặp nhau thường phải giữ kẽ, phải theo bài và không quan chức nào muốn xem là vì áp lực trực tiếp của một chính phủ khác mà phải thay đổi chính sách. Cho nên những nước khôn khéo biết làm việc với Mỹ thường cật lực lobby chính trường Mỹ và đã thương lượng, dàn xếp một tình thế tối ưu trước khi gặp nhau chỉ để chính thức hoá câu chuyện.

Nếu ai đó trên thế giới này ước muốn làm tốt công tác lobby ở Mỹ để mang lại lợi ích cho đất nước mình mà lại không chịu khó tìm hiểu thấu đáo Hệ thống quyền lực chính trị ở Mỹ thì người đó suốt đời sẽ mãi chỉ là người mơ mộng đáng yêu. Cơ quan quyền lực cao nhất và mạnh nhất ở Mỹ là Quốc hội - gồm Hạ viện với 435 dân biểu có nhiệm kỳ 2 năm và Thượng viện với 100 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Hiến pháp Mỹ quy định nhiệm kỳ 2 năm cho dân biểu là để các vị này luôn bị áp lực phải phục vụ dân vì phải đi năn nỉ dân bầu lại cho mình 2 năm một lần. Vai trò của thượng nghị sĩ là để cân bằng những đòi hỏi quá đáng từ Hạ viện vì các thượng nghị sĩ không bị áp lực tranh cử nặng nề như các dân biểu. Quyền lực của Quốc hội phần lớn dựa trên vai trò làm luật theo nhu cầu, nguyện vọng của dân và chuẩn chi ngân sách nhà nước. Do Quốc hội Mỹ nắm hầu bao nên cơ quan này có quyền chi phối mọi hoạt động của cơ quan hành pháp. Tổng thống có muốn làm gì mà Quốc hội không duyệt thì cũng không xong. Tổng thống có ký hiệp định với ai mà Quốc hội không duyệt thì không có hiệu lực. Quốc hội muốn gì, nếu không ảnh hưởng lớn đến an ninh, quyền lợi, chiến lược của quốc gia thì thông thường phía hành pháp đều xuôi theo. ở Mỹ, Quốc hội thực sự là cánh cửa để doanh nghiệp, tập thể, hội đoàn tác động trực tiếp nhằm cải thiện quyền lợi của họ.

Tại Mỹ, khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng là thương lượng , qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, làm sao mỗi bên có lợi một ít, hoặc không bên nào được lợi hết hoặc bị thiệt hết. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thoả thì mới đem nhau ra toà hay để cho phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn chi phí và thời gian.

Đầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém. Nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh cho nên thực ra còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Kinh nghiệm của các nước làm lobby hữu hiệu với Mỹ là dùng các chuyên gia lobby có thế lực ở Mỹ. Người nước ngoài khó có kiến thức, quan hệ, tư cách pháp nhân cần thiết để tiếp cận dễ dàng với chính giới Mỹ. Trong phạm trù kinh tế, thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược, chương trình lobby cụ thể.

Vừa qua, một cơ quan thông tấn lớn của Việt Nam đã cho ra mắt một tài liệu có giá trị về bầu cử và vận động hành lang ở Mỹ. Theo đó, hiện có hơn 20.000 nhà vận động hành lang đã đăng ký chính thức với nghị viện Mỹ. Về bản chất, khái niệm “Nhà vận động hành lang – Lobbyist” để chỉ những người có khả năng gây ảnh hưởng, tác động đến những quan chức chính trị trong chính quyền. Trong lịch sử nước Mỹ, những nhà vận động hành lang đầu tiên bắt đầu xuất hiện vào những năm 1870. Mục tiêu của những người này là nhằm vào Chính quyền và Nghị viện. Còn nhớ khi luật về chăm sóc sức khoẻ được đưa ra thảo luận vào năm 2003 tại Hạ viện, người ta đã thống kê được 950 nhà bảo vệ cho ngành công nghiệp dược và các công ty bảo hiểm y tế, trong khi Hạ viện chỉ có hơn 400 nghị sĩ có mặt. Theo luật liên bang, vận động hành lang là một quá trình được thực hiện bởi một người liên quan trước một đại biểu được bầu, một công chức làm việc trong phủ tổng thống hay trong khoảng 200 cơ quan liên bang (các cơ quan chính quyền Mỹ) nhằm đệ trình hay đề nghị sửa đổi một đạo luật. Luật năm 1995 quy định người làm công việc vận động hành lang kiếm được ít nhất 5.000 USD hoặc tiêu ít nhất 20.000 USD cho hoạt động này trong suốt sáu tháng và phải thiết lập được hơn một mối quan hệ. Người làm công việc này buộc phải đăng ký và thông báo tài khoản của họ. Tính tới tháng 3/2005, đã có 21.500 nhà vận động hành lang đăng ký ở Hạ viện. Theo đánh giá của Trung tâm Hoà nhập công chúng thì kể từ năm 1998, đã có 22.000 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của 3.500 công ty vận động hành lang và hơn 27.000 người làm công việc này. Văn phòng vận động hành lang Akin, Gump, Strauss, Hauer & Felt có khoảng 100 luật sư với doanh thu 6 triệu USD hiện là đại diện của tập đoàn Boeing, ngành kinh doanh điện ảnh Hollywood hay tập đoàn dầu lửa Trung Quốc.

Nước Mỹ hiện có khoảng 20 công ty chuyên vận động hành lang có thứ hạng cao, trong đó nổi bật có 2 công ty đóng trụ sở trên phố K (thủ đô Washington). Năm 2005 có 1.300 nhà vận động hành lang là các cựu nghị sĩ. Ngài John Asheroft - cựu Bộ trưởng tư pháp của tổng thống Bush - hiện là đại diện của “Choise Point”, một công ty chuyên thu thập và bán các thông tin cá nhân, đồng thời là đại diện của tổ hợp công nghiệp hàng không quân sự Ixraen Airecraft. Giờ đây, các chuyên gia vận động hành lang thường hứa hẹn tặng các chuyến du lịch cho các nhân vật trong mục tiêu hay cung cấp tài chính cho chiến dịch tranh cử của các ứng cử viên. Vừa qua, tại Mỹ, một thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm bị đối phương cáo buộc đã nhận 11 triệu USD từ một người bạn đứng đầu một công ty vận động hành lang.

Việt Nam cũng đã từng biết và làm lobby ở Hoa Kỳ. Lịch sử bang giao giữa Mỹ và Việt Nam liên hệ tới hoạt động lobby dài hơn một thập niên. Hẳn chúng ta còn nhớ Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam hồi năm 1988 và Trung tâm quốc tế tại Washington đồng ý thành lập Hội đồng thương mại Mỹ-Việt để thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ và rồi Hội đồng thương mại Mỹ-Việt (United States-Vietnam Trade Council) đã ra đời năm 1989. Thành phần hội viên đầu tiên gồm một số chuyên gia và đại công ty tại Mỹ như AT&T, City Bank, Boeing, Caterpilla, Nike… Qua sự điều hợp của Hội đồng, các công ty thường xuyên gặp mặt riêng với các nghị sĩ liên bang, cũng như trình bày quan điểm tại các cuộc họp của Quốc hội về việc cần thiết lập giao thương kinh tế với Việt Nam.

Như vậy, lobby trong tiếng Anh có nghĩa là hành lang rộng của nhà Quốc hội, nơi chờ đợi trong tiền sảnh của khách sạn hay toà nhà lớn. Đồng thời, lobby còn có nghĩa bóng rất thông dụng là vận động người có chức có quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội…Hiệu quả của lobby rất cao. Năm 1987, công ty Toshiba sau khi bán kỹ thuật tàu ngầm tiên tiến cho Liên Xô đã xuýt bị cấm đưa sản phẩm Toshiba vào Mỹ trong vòng 3 năm. Thiệt hại của Toshiba có thể sẽ lên đến 10 tỷ USD nếu lệnh cấm được thực hiện. Toshiba đã chi ra 10 triệu USD cho chiến dịch lobby và sử dụng Hệ thống lobby của chính phủ Nhật trong quan hệ Nhật-Mỹ. Cuối cùng chỉ có một số sản phẩm của Toshiba bị cấm và thiệt hại tính ra chỉ mất vài trăm triệu USD. Với Việt Nam, gần đây có vụ kiện cá tra, cá Basa khiến người nuôi cá Việt Nam lao đao cũng xuất phát từ áp lực của các lobby đại diện cho các tập đoàn nuôi cá da trơn ở Mỹ. Từ đó, có thể thấy rằng tất cả các mối quan hệ, những vụ mua bán lớn, làm ăn lớn ở Mỹ đều không thể thiếu hoạt động lobby. Trong khi hầu hết các nước Châu á đã “vào cuộc”, lo thúc đẩy việc vận động hành lang ở Mỹ thì theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, đến năm 2004, tại khu vực Đông Nam á, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby.

LOBBY.VN
08-02-2009, 11:17 AM
Ngoại giao cho thuê

- Trên thế giới bắt đầu xuất hiện những nhà ngoại giao hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ một chính phủ hay định chế quốc tế nào. Họ sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ về quan hệ ngoại giao với mức phí thấp, nhưng đạt kết quả bất ngờ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/217885.jpg
J.Petersen (phải), thành viên ID trong một cuộc thương thảo Ảnh: AP

Independent Diplomat (ID) có trụ sở chính tại Mỹ có lẽ là tổ chức phi lợi nhuận duy nhất hiện nay trên thế giới chuyên cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, ngăn chặn xung đột; hỗ trợ các chính quyền lèo lái bộ máy hành chính phức tạp; tư vấn cho các định chế quốc tế trong việc giúp đỡ một quốc gia... ID là tập hợp của các nhà cựu ngoại giao, luật sư quốc tế và chuyên gia quan hệ quốc tế danh tiếng đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

ID bắt đầu nổi danh khi góp phần giúp tỉnh Kosovo thuộc Serbia giành được sự công nhận độc lập từ nhiều nước trên thế giới. “Chúng tôi nhận được sự hỗ trợ lớn từ họ (ID) vào thời điểm chúng tôi cần nhất”, đại diện Kosovo tại Liên minh châu Âu (EU), phát biểu với hãng tin AP.

Tuy nhiên, ID cũng đối mặt với làn sóng chỉ trích rằng các nhà ngoại giao hoạt động tự do không nên gia tăng ảnh hưởng.

“Chính phủ hoặc các quan chức quốc tế thường từ chối trao đổi với khách hàng của chúng tôi hoặc nếu có nói chuyện họ cũng không muốn cung cấp những thông tin cần thiết”, Nicholas Whyte, Giám đốc Văn phòng ID tại Brussels (Bỉ), giải thích với báo chí.

Cựu chuyên gia quốc tế người Ai-len (Ireland) này cũng cho biết thêm: “Về phía khách hàng của chúng tôi, họ thường thiếu kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và không có ai chịu trao đổi với họ”.

Hoạt động của ID chủ yếu dựa vào khoản đóng góp từ các quỹ và từ các chính phủ trị giá khoảng 1,8 triệu USD mỗi năm. Khách hàng cũng phải trả tiền khi cần thuê dịch vụ của ID, nhưng mức lệ phí thường tùy theo khả năng của họ. Với những nước nghèo, khoản tiền phải trả cho ID thường rất nhỏ.
Với văn phòng tại New York, Washington (Mỹ), London (Anh), Brussels (Bỉ) và Addis Ababa (Ethiopia), tổ chức độc lập này cung cấp cho khách hàng trên toàn thế giới phương cách để tiếp cận với chính phủ nước ngoài hoặc các định chế quốc tế như Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu.

ID cũng tư vấn cho các quốc gia trên những vấn đề mà họ thiếu chuyên môn. Cộng hoà Quần đảo Marshall được ID tư vấn để tham gia vào chương trình chống biến đổi khí hậu của UN. Trong khi đó, một số nước Đông Âu cần tới sự giúp đỡ của các nhà cựu ngoại giao, chuyên gia luật quốc tế của ID để tiến trình gia nhập EU trôi chảy hơn.

Cựu quan chức ngoại giao Anh Carne Ross, người sáng lập và hiện là Giám đốc ID, khẳng định tổ chức này tuân thủ chính sách nghiêm khắc trong việc từ chối những khách hàng có liên quan tới xung đột quân sự như Hamas ở dải Gaza (Palestine), Những con hổ Tamil ở Sri Lanka.

Tổ chức các nhà ngoại giao độc lập khẳng định họ có thế mạnh nổi bật trong vai trò trung gian, bao gồm việc tổ chức cuộc gặp gần đây giữa các quan chức EU và Tổng thống của chính phủ lưu vong thuộc Tây Sahara.

Vùng đất này thuộc về Morocco cách đây 35 năm, nhưng chính phủ lưu vong của Tây Sahara đang đòi độc lập. Những vùng lãnh thổ khác như Bắc Cyprus, Somaliland cũng nhờ tới sự giúp đỡ của ID. Những quốc gia độc lập có liên quan tới vùng lãnh thổ còn tranh chấp kể trên không hài lòng với sự tham gia của ID.

Phát biểu với AP, Robert Cooper, Tổng Thư ký Hội đồng châu Âu ở Brussel, cho rằng đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO), đạt được bất kỳ thành công nào trên các vấn đề quốc tế thường rất khó khăn.

“Một số NGO hoạt động hiệu quả và được tôn trọng, nhưng cuối cùng chẳng được gì cả”, ông Cooper nói.

Richard Dalton, cựu Đại sứ Anh tại Iran, lại nói rằng các hoạt động kể trên là nỗ lực của cá nhân, những người có thể tạo nên sự khác biệt. “Các quy tắc và triết lý của họ có thể phủ lấp lỗ hổng cho các nước, phong trào, nơi người ta chưa thể tiếp cận được với hệ thống quốc tế”, cựu Đại sứ Dalton phát biểu với AP.

LOBBY.VN
08-07-2009, 08:50 AM
Sức mạnh vận động hành lang

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/p21-FAN2013686_Veer.jpg

John Newhouse thuộc Viện An ninh Thế giới (Mỹ) viết trên tờ Foreign Affairs rằng, chính các hoạt động lobby của nước ngoài tại Mỹ đã góp phần làm giảm uy tín và ảnh hưởng của Washington trên thế giới.

Do biết sử dụng đồng tiền “đúng mục đích”, Nhật Bản cũng đã khá thành công trong lĩnh vực vận động hành lang (lobby) với mục tiêu bảo vệ tối đa lợi ích kinh tế của mình. Còn tại chính trường Mỹ, nổi lên các hoạt động vận động ồ ạt của các nước Trung và Đông Âu nhằm mục tiêu gia nhập NATO.

“Mua” cả Washington

Đó là phương châm lobby nổi tiếng của người Nhật trong việc vận động các chính sách kinh tế, thương mại tại Mỹ có lợi cho nước này. Theo thống kê của Bộ Tư pháp Mỹ, hiện ở Mỹ có khoảng 200 tổ chức chuyên vận động hành lang cho các cơ quan chính phủ, tổ chức thương mại và doanh nghiệp tư nhân của Nhật. Trung bình mỗi năm Nhật Bản chi khoảng 500 triệu USD cho các hoạt động này. Luật tranh cử Mỹ cho phép công ty nước ngoài thông qua Ủy ban vận động chính trị để quyên góp tiền cho ứng cử viên. Nhật Bản đã tận dụng “lỗ hổng” này và khuyến khích các tập đoàn bán lẻ, nhà cung cấp của Mỹ thành lập các Ủy ban vận động chính trị để tiến hành quyên góp chính trị.

Những năm 1980, thông qua Công ty Sony, Nhật đã huy động được 29 triệu USD quyên góp cho nghị sĩ của California để vận động bang này áp dụng chính sách thu thuế có lợi cho Sony. Ngoài ra, Nhật còn thông qua các công ty PR, ngân hàng, các tổ chức xã hội để chi tiền “thù lao” cho các quan chức chính phủ Mỹ khi họ thuyết trình, tham gia hội thảo…

Các hoạt động lobby của Nhật còn nhằm vào các trợ lý và các nhân viên làm việc trong Quốc hội vì đây là những người có ảnh hưởng tới các nghị sĩ. Các cơ quan nghiên cứu Nhật đã đi sâu tìm hiểu về đời sống, sở thích, phân bổ tuổi tác,... của các trợ lý nghị sĩ. Đại sứ quán Nhật thường tổ chức các buổi chiêu đãi, khiêu vũ, mời các trợ lý này sang thăm Nhật...

Lobby chính trị

Giữa những năm 1990, trong giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ nổi lên cuộc tranh luận về vấn đề mở rộng NATO. Năm 1991, lãnh đạo Liên Xô Gorbachev nhận được bảo đảm từ Mỹ là NATO sẽ không triển khai lực lượng dọc biên giới Đông Đức, đổi lại, Liên Xô sớm thừa nhận nước Đức thống nhất. Tuy nhiên, ngày 30/4/1998, Thượng viện Mỹ thông qua dự luật ủng hộ NATO mở rộng. Tháng 3/1999, CH Séc, Hungary và Ba Lan đã được chấp nhận gia nhập NATO. Tiếp đó, tháng 3/2004, là các nước Bulgaria, Romania, Slovakia, Slovenia và ba nước Baltic khác.

Có được kết quả trên là do các hoạt động lobby mạnh mẽ của các nước Trung và Đông Âu. Một trong những nhà vận động hăng hái nhất là Randy Scheunemann, người có chủ trương đem NATO đến gần nước Nga và từng là cố vấn chính sách đối ngoại cho ứng cử viên tổng thống Mỹ John McCain. Năm 2006, McCain trở thành đồng tài trợ cho dự luật đã thông qua tại Thượng viện ủng hộ NATO kết nạp Albania, Croatia, Gruzia và Macedonia. Đến đầu năm 2008, Scheunemann vẫn tiếp tục chiến dịch này, đồng thời là một cố vấn được chính phủ Gruzia trả thù lao.

Trong số các công ty tham gia vận động có Jefferson Waterman International (JWI) đại diện cho Bulgaria và Romania. Đây là công ty đã thu hút được nhiều cựu quan chức, nhân viên CIA và hoạt động rất hiệu quả. Samuel Hoskingson, Phó Chủ tịch và quản lý tài chính hàng đầu của công ty, cũng từng là cố vấn cấp cao cho ba cố vấn an ninh quốc gia là Henry Kissinger, Brent Scowcroft, và Zbigniew Brzezinski. Chính Hoskingson tháng 6/2007 tham gia thành lập nhóm gọi là Liên minh vì Kosovo mới để vận động Quốc hội và Nhà trắng công nhận Kosovo độc lập. Nhóm này đã thuê 8 người để vận động Quốc hội và Bộ Ngoại giao và kết quả là tháng 2/2008, Mỹ cùng một số nước phương Tây thừa nhận Kosovo độc lập.

LOBBY.VN
09-17-2009, 10:35 AM
Hàn Quốc sắp chính thức hoá vận động hành lang


Từ trước tới nay, nhiều hình thức vận động hành lang hay gây tác động ngầm đã tồn tại trên chính trường Hàn Quốc song nó chưa bao giờ được ghi lại. Chỉ khi một bí mật hay một hành động trái phép nào đó bất ngờ bị tiết lộ và phơi bày trên báo chí thì công chúng mới có dịp ''ngó'' vào thế giới bóng tối của những người vận động hành lang.

Bà Lee Seung-hee, một nghị sĩ thuộc đảng nhỏ đối lập Dân chủ Thiên niên kỷ (MDP) đã tìm cách thay đổi tình trạng trên bằng cách đề xuất một đạo luật về vấn đề này. Nghị sĩ Lee hy vọng bộ luật có thể đưa ra chỉ dẫn về các hoạt động của vận động hành lang.

Hôm qua, một cuộc tranh cãi nóng bỏng về đạo luật vận động hành lang đã diễn ra tại Quốc hội. Đây là diễn đàn đầu tiên trong một loạt diễn đàn tương tự do bà Lee mở ra để bàn về đạo luật này trước khi đệ trình nó lên cơ quan lập pháp.

''Lần tôi cảm thấy thất vọng nhất kể từ sau khi trở thành nghị sĩ đó là phải chứng kiến một đạo luật quan trọng được một vài người hấp tấp thông qua, chỉ bởi vì không có chuyên gia nào hay đảng phái nào có liên quan thu hút được đầy đủ sự chú ý'', nghị sĩ Lee nói trong bài phát biểu khai mạc.

Nhà lập pháp này thừa nhận, trước đây Hàn Quốc từng tạo ra một hình ảnh không mấy thiện cảm trong con mắt quốc tế. Tiêu biểu là, ông Park Tong-sun - một người vận động hành lang dưới thời cố Tổng thống Park Chung-hee đã gây ra vụ ''Korea Gate'' tại Quốc hội Mỹ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh những hoạt động kiểu trên ngày càng quan trọng Hàn Quốc phải tận dụng ưu thế của những nhà vận động hành lang trong và ngoài nước bằng cách đặt họ vào trong hệ thống, bà Lee nhấn mạnh. Quan điểm của bà Lee được nhiều người ủng hộ.

Theo dự thảo luật do Nghị sĩ Lee đệ trình, cá nhân hay tổ chức muốn tác động tới quá trình làm luật có thể vận động các quan chức chính phủ sau khi đăng ký tại Bộ Tư pháp. Những người, tổ chức này phải báo cáo hoạt động cho Bộ Tư pháp 2 lần trong năm.

Bà Lee dự định tổ chức 2 cuộc thảo luận tương tự về chủ đề này nhằm thu thập ý kiến của những người quan tâm như luật sư, các thành viên tổ chức dân quyền, các chuyên gia pháp lý vào 18 và 25/5.

thoidaianhhung
09-28-2009, 12:08 AM
“May áo” cho lobby


Những năm gần đây, việc các cơ quan quản lý lấy ý kiến người dân, DN, hiệp hội DN… khi xây dựng các văn bản pháp luật được xem như một xu hướng mới trong việc xây dựng chính sách. Hơn lúc nào hết, “vận động chính sách công” phải được xem như việc làm cần thiết và hợp lý - đó là ý kiến của nhiều chuyên gia nghiên cứu! Tuy nhiên, nhiều DN, hiệp hội… lại cho rằng tiếng nói của họ đang bị các cơ quan quản lý xem nhẹ.

Ngay từ năm 2001, với Chỉ thị 16 CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc vận động chính sách ở nước ta đã được thực hiện. Đó là việc tham vấn ý kiến của các DN, các hiệp hội DN, hiệp hội nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân về các văn bản luật, pháp lệnh, các nghị định của Chính phủ... Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) - đại diện của cộng đồng DN - được giao thực hiện nhiệm vụ này. Qua cầu nối VCCI, DN từ vị trí “đối tượng thực thi” đã có thêm vai trò phản biện và xây dựng chính sách ngay từ khi còn trứng nước. Tuy nhiên, theo nhìn nhận của nhiều chuyên gia, sự “lắng nghe và tiếp thu” những ý kiến này nhiều khi vẫn chỉ là hình thức. Vận động chính sách vẫn bị gán với một ý nghĩa khá tiêu cực đã trở thành trở ngại cho việc thừa nhận và xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động này.

“Việt Nam cần có quy định về hoạt động lobby và công khai hóa hoạt động này. Chỉ khi nào Nhà nước ra tay thì lobby mới có thể phát triển. Phân tích đúng và đủ giữa lợi ích liên quan, đó là một hoạt động kỹ thuật và cũng đầy nghệ thuật của lobby. Thông thường lợi ích của hoạt động lobby không phải là “phong bì” mà là lá phiếu và nó được xem như là một loại lobby tử tế. Đây là hai mặt của một vấn đề: muốn có lobby tử tế thì cần phải có hệ thống pháp chế tốt. Hệ thống pháp chế tốt khi có trách nhiệm và đáng tin cậy, đồng thời cũng phải công khai và minh bạch trong hoạt động. Nếu thể chế đó không tốt thì khó có thể có... lobby tử tế”.

Danh chưa chính

Phải khẳng định rằng, hoạt động "vận động chính sách" của DN đã có ở VN. Điều này có thể minh chứng bằng những điều chỉnh của Chính phủ về chủ trương trong hoạt động kinh doanh và khẳng định rằng kết quả này có sự tác động của công tác vận động. Tuy nhiên, điều đáng buồn là việc "lấy ý kiến DN..." vẫn mang tính hình thức. Vì thế tất yếu khi văn bản quy phạm pháp luật ấy ra đời, các DN, hiệp hội DN... vẫn bức xúc những điều đã... thắc mắc khi nó còn là dự thảo.

Trong một cuộc "lobby chính sách" đầu 2007, ông Phúc Tiến - Giám đốc Trung tâm đào tạo VN Hợp Điểm, cho rằng, cần “danh chính” cho các thuật ngữ "to lobby", "vận động chính sách" để DN thuận lợi hơn trong việc tổ chức các hoạt động kiến nghị, tác động đến Chính phủ xem xét điều chỉnh chủ trương, để giúp hoàn thiện luật pháp, cải thiện tốt hơn cho môi trường kinh doanh. Bởi “danh có chính, ngôn mới thuận...”. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng: "Không nên ngại từ "vận động chính sách" và ngại hoạt động này. Hơn nữa, còn phải lập quỹ để phục vụ cho tốt hơn". Nên thành lập một "Ban Vận động chính sách công" nhằm tạo bước đi tiên phong trong việc tác động để Nhà nước, xã hội công nhận hoạt động “vận động chính sách”.

Ngôn nhiều khi... bất thuận

Điều này là một thực tế, bởi chưa có văn bản quy định rõ ai sẽ là cơ quan tiếp thu tham vấn, thậm chí là phản biện của DN, Hiệp hội DN... nên trong quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện này vấn đề cần điều chỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành nào thì Bộ, ngành đó được giao chủ trì soạn dự thảo và tiếp thu ý kiến tham vấn. Nhiều chuyên gia cho rằng với cách thức này, “đối tượng bị quản lý” khó có thể được tiếp thu một cách triệt để và khách quan. Bởi về hình thức, chúng ta có một Ban dự thảo với đầy đủ thành phần của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan nhưng quyết định cuối cùng khi trình Chính phủ vẫn thuộc về đơn vị chủ trì. Vì vậy, thông qua văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hơn nữa quyền lực của Bộ, ngành và tư tưởng “không quản được thì... cấm” vẫn là một rào cản khó vượt qua của vận động chính sách. Hậu quả của tình trạng nêu trên là, nhiệt tình của nhân dân, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu, góp ý, phản biện cho các văn bản chính sách có thể mòn mỏi đi, Bởi vì, họ cho rằng, những góp ý đầy tâm huyết chưa được tiếp thu xứng đáng.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã khẳng định: Thực chất lobby là sự trao đổi lợi ích, là sự trao đổi quyền lợi khả thi và hiệu quả. Đó không chỉ là hoạt động của DN mà còn là công việc của quốc gia. Lobby hiệu quả sẽ tạo ra một sự đồng cảm giữa chính quyền và DN và từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế. Nói như Luật gia Vũ Xuân Tiền - đó chính là hướng tới một tương lai xa - tương lai của một “Nhà nước dịch vụ” xóa dần tư tưởng “Nhà nước quản lý” vẫn đang còn... rơi rớt từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp trước đây.

Bà Phạm Chi Lan - Chuyên gia kinh tế: "Nhiều cơ quan nhà nước chưa thực sự coi trọng tham vấn, tổ chức tham vấn một cách hình thức, hỏi nhưng không lắng nghe DN. Một số trường hợp cơ quan nhà nước coi quyền và lợi ích của mình là trên hết nên thiết kế văn bản pháp quy có lợi cho mình, tránh và khước từ tham vấn, hoặc chọn người tham vấn thuận lợi cho mình... Vì vậy, rất cần sớm có Luật về hội; Nghị định về Hiệp hội DN, văn bản pháp quy về vận động chính sách”.

Ông Nguyễn Tiến Nghi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép VN: “Có những việc “đúng luật” nhưng thiếu đạo đức kinh doanh cũng cần được lobby để xã hội có thái độ thích đáng. Đơn cử như vụ NK thép Trung Quốc của Cty CP Thép Việt Ý. Sau hàng loạt văn bản và kiến nghị của Hiệp hội Thép, văn phòng luật sư, Ban Pháp chế VCCI, cơ quan truyền thông và ý kiến của người tiêu dùng, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Thủ tướng đã kết luận: "Đây là việc làm đúng luật nhưng Thủ tướng không khuyến khích vì thiếu đạo đức kinh doanh, giao cho Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Hiệp hội Thép Việt Nam kiểm điểm, rút kinh nghiệm”

Ông Vũ Xuân Tiền - Chủ tịch Hội đồng thành viên - Cty tư vấn VFAM VN: Tôi cho rằng, hiện nay, có khá nhiều tổ chức đủ khả năng "nhận thầu" việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách, việc “lobby chính sách” như VCCI, Hội Luật gia VN, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật VN, một số viện nghiên cứu và một số Cty tư vấn, Cty luật... Tuy nhiên, "nhận thầu" việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách kinh tế - xã hội phải là hoạt động có điều kiện, trong đó, điều kiện về nhân lực nghiên cứu và quá trình hoạt động trong lĩnh vực pháp luật có vị trí quan trọng hơn cả. Vì vậy, trước hết phải quy định những điều kiện hoạt động của các tổ chức vận động chính sách chuyên nghiệp và bổ sung hoạt động này vào danh mục ngành nghề đăng ký kinh doanh.

LOBBY.VN
10-06-2009, 04:00 PM
Lobby không còn là nghề xa lạ

Nghề lobby (vận động hành lang) là một nghề khá phổ biến ở các nước phát triển nhưng còn mới mẻ và đôi khi còn được hiểu chưa chính xác ở các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam.

Đầu năm mới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với bà Maria Laptev - một nhà lobby chuyên nghiệp có hai quốc tịch Anh và Canada, xung quanh việc phát triển nghề mới này tại Việt Nam.

Bà Maria Laptev hiện là Giáo sư môn lobbying, Học viện quản lý kinh tế UBI, Bruxel, Vương quốc Bỉ. Bà đồng thời còn là Phó chủ tịch Tập đoàn quan hệ chiến lược Fleishman-Hillard; là sáng lập viên của Hiệp hội chuyên nghiệp EPACA; nguyên là thành viên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Liên minh châu Âu (EU).

Thưa bà, lobby vẫn là một khái niệm còn khá xa lạ trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Hiện tại, còn rất nhiều người đánh đồng một cách rất đơn giản là "lobbying" với việc đưa tiền để được nhận một sự ủng hộ hay giúp đỡ nào đó. Trên quan điểm của một nhà tư vấn quản lý chuyên nghiệp cho nhiều công ty đa quốc gia lớn, xin bà vui lòng cho biết thêm một số những nội dung cơ bản của lobbying?

Khái niệm "lobby" có thể được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định hoặc có thể mang một nghĩa rộng hơn thế nữa.

Tôi thì định nghĩa lobby là một cuộc đối thoại giữa một ngành hoặc những người có tiền khác với các nhà lập pháp, và tất nhiên mục tiêu của nó luôn là ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định. Tuy nhiên lobby nên là con đường hai chiều, tiếp thu và truyền đạt cho người khác hiểu được làm thế nào họ có thể tìm được một chính sách tốt nhất trong việc ban hành pháp luật.

Lobby là công cụ quản lý cần thiết cho tất cả các công ty, kể cả các hoạt động sản xuất nhỏ, riêng lẻ, công ty vừa và nhỏ, các tập đoàn lớn hay công ty đa quốc gia. Nó có thể là việc được thông báo ở giai đoạn sớm nhất về các chính sách có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của bạn hoặc hành động bạn thấy cần thiết để làm tăng lợi nhuận, hay đơn giản chỉ là việc xếp hạng doanh nghiệp - sự kiện thể hiện cam kết của công ty bạn với một số nội dung nào đó của chính sách, hay đặc biệt hơn là lobby quá trình lập pháp hay ngăn chặn những quy định cụ thể có thể ra đời thông qua tiến trình làm luật.

Vậy hoạt động lobby ở các nước đang phát triển thì sao?

Lobby còn là một khái niệm không chỉ xa lạ với Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay tại một số nước là thành viên mới của Liên minh châu Âu - EU, một số người vẫn còn nghĩ rằng một khi bạn trả tiền, nhất định bạn sẽ được nhận một kết quả cụ thể nào đó, ví dụ nếu bạn chi tiền để gặp một ai đó ở Bộ Giao thông, bạn sẽ buộc họ phải đồng ý dành cho bạn hợp đồng mà Bộ này đang mời đấu thầu.

Tuy nhiên, sự thật không phải như thế. Tiền của bạn không thể mua được quyết định, do đó bình thường cứ hình thức tài chính nào liên quan đến chính sách hay quá trình ban hành quyết định nên cởi mở và minh bạch hơn cho tất cả mọi người biết điều đó.

Ví dụ, cho đến tận bây giờ, ở rất nhiều quốc gia, đại biểu quốc hội vẫn có thể giữ vị trí lãnh đạo trong công ty và được trả lương cho việc đó. Rõ ràng khi người ta đang làm công việc như một người ban hành quyết định, họ sẽ đặt lên bàn tất cả những lợi ích của công ty mà người ta đang làm việc. Cảm giác chung là ở đâu việc đó diễn ra thì ở đó con người hiểu được lợi ích của bạn và tuyên bố nó một cách minh bạch (nói cách khác chỉ trước cuộc thảo luận liên quan đến công ty bạn), và đây là một hoạt động được chấp nhận.

Quan điểm hiện đại tại các nước phát triển đã thừa nhận lobbying là một nghề, mà đã là nghề thì thường có những quy định hành nghề (Codes of Conduct). Xin bà cho biết đôi nét về những quy định ấy ở các nước phát triển?

Khi nghề lobby đang trở nên phổ biến hơn và hoạt động lobby đang ngày càng được nói đến nhiều hơn, lobby đang được dạy trong các trường chuyên về kinh doanh như một môn học của chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), thì có nghĩa là hoạt động này đang được chuyên nghiệp hoá. Quy định về đăng kí và hoạt động lobby mới chỉ tồn tại ở Mỹ và Canada.

Tuy nhiên, hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề từ hàng chục năm nay. (Quy định hành nghề này được thông qua bởi Nghị viện châu Âu).

Theo tôi thì quy định hành nghề lobby ở đâu thì cũng cần phải dựa trên tính minh bạch cao và vì thế tất cả mọi người cần phải biết mình đang đại diện cho ai và vì lợi ích của ai.

Bà nghĩ thế nào nếu những người làm lobby (lobbyist) tại Việt Nam cần một số tư vấn của một người làm lobby chuyên nghiệp như bà?

Tôi tin rằng tôi có thể tư vấn được cho lobbyist ở Việt Nam nếu tôi được làm việc với họ. Có thể nói bao trùm công việc lobbying chính là phương pháp tiếp cận, cụ thể hơn đó chính là phương pháp tiếp cận một cách có hệ thống giữa hai hay nhiều bên. Theo đó mục tiêu cuối cùng là quá trình xây dựng chính sách. Tuy nhiên, quá trình đưa ra quyết định ở các nước khác nhau lại dựa trên những yếu tố văn hoá rất khác nhau.

Thực ra tôi chưa có nhiều thực tiễn làm lobby tại Việt Nam. Tuy nhiên, tôi muốn khẳng định rằng khía cạnh văn hoá trong lobby là vô cùng quan trọng, quyết định tạo nên một cách tiếp cận hiệu quả hay không.

Lobby và quan hệ công chúng (PR) hay bị lẫn lộn, bà nhìn nhận vấn đề này thế nào?

Lobbying và PR đều là hai hoạt động giao tiếp nhằm tạo nên ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là để thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định.

Điều này đồng nghĩa với việc người ta có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby.

Bà có thể nói rõ hơn về tính minh bạch của Lobby?

Tính minh bạch trong lobby là yếu tố quan trọng bậc nh t trong việc xây dựng lòng tin và tạo ra một nhà Lobby chân chính. Để có được một quan hệ có giá trị và bền vững, cả hai bên đều rất rõ ràng và cởi mở về mục tiêu và lợi ích của mỗi bên.

Theo quan điểm của bà, Việt Nam có nên có một bộ luật hay những quy định pháp lý về lobby hay không? Và tại sao?

Việc xây dựng một hành lang pháp lý đương nhiên phải dựa trên nhu cầu và phải có sự chuẩn bị và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, như thế mới đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng có liên quan.

Tôi cho rằng thực tiễn của hoạt động lobby tại Việt Nam đã có rồi và theo những cách rất riêng, với một hoạt động chưa có những quy định hành nghề thì không tránh khỏi những hiểu sai và cách tiếp cận vấn đề sai. Trước tiên cần phải có những quy định hành nghề đã, còn việc tạo ra những văn bản pháp lý hay bộ luật sẽ là công việc phải làm sau khi công nhận nó là một nghề.

LOBBY.VN
10-10-2009, 04:15 PM
About STRATFOR

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Friedman.jpg
George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor. Ông đã viết nhiều sách và bài báo về các chủ đề chính sách an ninh, truyền thông & công nghệ


STRATFOR is the world’s leading online publisher of geopolitical intelligence. Our global team of intelligence professionals provides our Members with insights into political, economic, and military developments to reduce risks, to identify opportunities, and to stay aware of happenings around the globe.

STRATFOR provides three types of intelligence products:

* Situational Awareness - News is a commodity that you can get anywhere on the Internet. Situational Awareness is knowing what matters, and an intelligence professional’s responsibility - STRATFOR’s responsibility - is to keep you apprised of what matters without wasting your time with clutter. We provide near real-time developments from street revolutionary movements to military invasions. OJ’s latest arrest and mudslinging in Washington and Brussels don’t make the cut.

* Analyses - STRATFOR tells its Members what events in the world actually mean. We also tell you when events are much ado about nothing. Oftentimes the seemingly momentous is geopolitically irrelevant and vice versa. We discern what’s important objectively - without ideology, a partisan agenda, or a policy prescription.

* Forecasts - Knowing what happened yesterday is helpful; knowing what’s going to happen tomorrow is critical. STRATFOR’s intelligence team makes definitive calls about what’s next. These aren’t opinions about what should happen; they’re analytically rigorous predictions of what will happen.

STRATFOR provides published intelligence and customized intelligence service for private individuals, global corporations, and divisions of the US and foreign governments around the world. STRATFOR intelligence professionals routinely appear at conferences and as subject-matter experts in mainstream media. STRATFOR was the subject of a cover-story article in Barron’s entitled The Shadow CIA.

STRATFOR was founded by Dr. George Friedman in 1996. STRATFOR is privately owned and has its headquarters in Austin, TX.

P.S: George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor

STRATFOR (http://www.stratfor.com/tour/)

LOBBY.VN
10-29-2009, 03:30 PM
Những người vận động hành lang ảnh hưởng đến việc cải cách y tế

Ủy ban Tài chánh Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua một dự luật cải cách bảo hiểm sức khỏe nhằm giảm chi phí bảo hiểm và mở rộng bảo hiểm đến cho nhiều người dân Mỹ hơn nữa. Tại cuộc bỏ phiếu của Ủy ban, Thượng nghị sĩ Olympia Snow là thành viên đầu tiên của đảng Cộng hòa bỏ phiếu ủng hộ việc cải cách bảo hiểm sức khỏe. Tuy nhiên những nhà lập pháp không phải là những người duy nhất có liên quan đến những cuộc tranh luận về bảo hiểm sức khỏe. Những người vận động hành lang cũng đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. những chuyên gia về chính sách công có nhận xét là những nhóm đại diện cho các công ty bảo hiểm, bệnh viện và ngành công nghiệp dược phẩm có nhiều quyền lực trong việc hình thành các luật lệ về chăm sóc sức khỏa. Những nhóm đại diện cho người tiêu thụ và công đoàn lao động cũng nỗ lực ảnh hưởng đến kết quả. Thông tín viên Elizabeth Lee của Ðài VOA giải thích.

Tại Washington, Tổng Thống Barack Obama đạt được thắng lợi khi dự luật bảo hiểm sức khỏe được thông qua tại Ủy ban Tài chánh Thượng viện và giúp ông tiến thêm một bước gần hơn đến việc cải cách được hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Mỹ. Dự luật mới này đòi hỏi hầu hết dân chúng Mỹ phải mua bảo hiểm nếu không sẽ bị phạt. Những công ty bảo hiểm không còn có thể từ chối bảo hiểm cho những người có bệnh từ trước.

Tuy nhiên biện pháp này vẫn còn gặp phải sự chống đối mạnh mẽ. Một bản phúc trình mới đây của một nhóm thuộc ngành bảo hiểm sức khỏe cho biết là nhìn chung, chi phí bảo hiểm hàng năm một gia đình phải trả sẽ tăng lên khoảng 4000 đô la trong thập niên tới.

Bà Karen Ignagni, chủ tịch của tổ chức Các chương Trình bảo Hiểm Sức khỏe Hoa Kỳ tuyên bố là dự luật được Thượng viện thông qua không bao gồm những khoản phạt đủ mạnh để bắt buộc những người không có bảo hiểm mua bảo hiểm.

Bà nói: "Nếu mọi người không bị bắt buộc thì sẽ xảy ra tình trạng là có người chỉ mua bảo hiểm một khi họ thấy cần."

Cách đây 7 tháng, nhóm các công ty trong ngành bảo hiểm hứa ủng hộ kế hoạch của Tổng Thống Barack Obama: "Chúng tôi cam kết ủng hộ, đóng góp và giúp thông qua luật bảo hiểm sức khỏe năm nay."

Giáo sư Judy Feder thuộc đại học Georgetown cho biết là những người vận động hành lang thường hay thay đổi quan điểm của họ khi những dự luật tại Quốc hội thay đổi: "Những nhóm có quyền lợi, như là ngành bảo hiểm, công nghiệp dược phẩm, bệnh viện và các bác sĩ có những may rủi lớn lao trong bất cứ những sự thay đổi nào trong hệ thống bảo hiểm sức khỏe của chúng ta và trong hệ thống hiện nay và họ luôn luôn theo dõi những thay đổi này để xem những thay đổi có lợi hay có hại cho họ."

Bà Feder nói là những quyền lợi đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại chương trình cải cách bảo hiểm sức khỏe khi Tổng thống Bill Clinton ngồi tại Tòa Bạch Ốc. Vào những năm đầu của 1990, ngành bảo hiểm sức khỏe nỗ lực làm cho dân chúng Mỹ lo sợ tránh xa các kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe bằng những chương trình quảng cáo thương mại.

Bà nói: "Một số những chương trình này có liên hệ đến những việc chống đối mạnh mẽ của những nhóm quyền lợi liên hệ đến ngành bảo hiểm cùng với những nhóm quyền lợi trong doanh thương, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ thường thực sự tấn công kế hoạch cải cách."

Hơn một thập niên qua, những tiếng nói ủng hộ cải tổ hệ thống y tế lại lớn hơn. Ngành công nghiệp dược phẩm cũng như hiệp hội bác sỹ lớn nhất của Hoa Kỳ đang ủng hộ Tổng thống Obama, để cân bằng lực lượng trong cuộc trnah đấu để cải tổ y tế. Giờ đây những chương tirnh quảng cáo cũ lại được làm sống dậy.

Bây giờ lại có những cách quảng cáo mới dựa trên nội dung quảng cáo cũ nhắm gây sợ hãi trong dân chúng về chuyện cải tổ y tế.

Các chuyên gia về chính sách công tuyên bố là việc gây áp lực đối với các nhà lập pháp và tạo nên sự sợ hãi trong dân chúng Mỹ là dụng cụ mà những nhà vận động hành lang áp dụng để ảnh hưởng đến kết quả của những chính sách đang được tranh cãi tại Quốc hội.

Và nỗi sợ hãi được cả hai phía áp dụng. Bà Feder nói: "Họ làm dân chúng hoảng sợ vì công chúng Hoa Kỳ hoàn toàn không đoan chắc được về hệ quả của một cải cách lớn lao."

Con đường đi đến cải cách bảo hiểm sức khỏe vẫn còn rất dài, Hạ và Thượng viện Hoa Kỳ còn phải phối hợp dự luật của mỗi viện. Còn về việc nhóm nào thắng trong cuộc tranh luận này thì còn tùy công luận chuyển biến như thế nào và còn tùy vào các nhà lập pháp cảm thấy là họ nên biểu quyết ủng hộ hay nên bác bỏ dự luật cải tổ.

LOBBY.VN
11-28-2009, 08:29 AM
Viet Nam businesses must learn to lobby

Vietnamese business associations still lack the experience and strategies necessary to effectively lobby State officials, economists said last week.

Nguyen Dinh Cung, director of the Central Institute for Economic Management’s (CIEM) Macroeconomic Policy Department, told a seminar in HCM City that business associations have yet to establish independent lobbying units or outline clear-cut objectives for their interactions with the Government.

Lobbying is an important part of policy-making, especially with regards to the development of new bills or legal documents, changes to the business climate or state measures on raising businesses’ competitiveness.

Before associations lobby, they should be aware of the rules of the game, Cung said, especially knowing which state agencies deal with which specific legal issue.

In addition to contacting these agencies, business associations can take the further step of approaching the policy makers, technocrats or specialists who draft the new policies – as long as lobbyists work only to persuade, not coerce, public officials, Cung said.

Businesses should also assemble lobbying task forces, as well as develop clear and concrete objectives. For example, HCM City’s Young Entrepreneurs’ Association established a Policy Lobbying Committee at an early stage and it was very successful, Cung said.

"No less important are the associations’ financial strength, passion and enthusiasm," he said.

Luong Trong Nghia, a lawyer at the HCM City-based Investment and Trade Promotion Centre (ITPC), said the most formidable legal obstacles to associations’ conducting effective lobbying were in the fields of taxation and customs laws.

ITPC, which lobbied for policies to raise the competitiveness of small- and medium-sized businesses, said the laws surrounding lobbying are often too complicated for many business associations to understand.

Nguyen Thanh Nhon, general director of the Technology Joint Stock Company, said that since lobbying is a sensitive procedure, it requires certain formal processes.

Meanwhile, Tran Hong Lac, vice president of the HCM City Informatic Association, said lobbying at the National Assembly would be better than the current situation.

A lawyer based in HCM City said lobbying, as a legitimate business activity, should be conducted by businesses in an appropriate fashion.

As businesses still lack regular contacts with administrators, associations should lobby to build connections between the State and the Vietnamese business community

LOBBY.VN
01-06-2010, 09:05 PM
Nền Dân Chủ Hoa Kỳ với các đảng
Cộng Hòa, Dân Chủ và đảng Tư Bản Lobby

Trên lý thuyết thì tại Hoa Kỳ có nhiều đảng phái, nhưng trong thực tế, với chính sách bầu bán của Mỹ thì chỉ còn lại hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ là có thể hoạt động hữu hiệu, nhưng cả hai đều phải có sự bảo trợ của nhóm Tư bản tài phiệt.

Tập đoàn tài phiệt qua trung gian các lobbyist dùng tiền bạc hay lợi lộc hối lộ hợp pháp hay phi pháp các nhân viên Chính phủ và Quốc Hội để họ điều hành hay ban hành các luật lệ có lợi cho các công ty tư bản, với điều kiện giản dị: hãy giúp Công ty chúng ta thì nhà ngươi sẽ được ủng hộ tài chánh khi tranh cử, khi về vườn sẽ được thuê làm cố vấn lương cao bạc triệu, hay bảo trợ đi thuyết trình với cả trăm ngàn đô la mỗi buổi, được mua các cổ phần đặc biệt của công ty, gia đình, con cái được bảo trợ giúp đỡ, v.v....

Do đó tất cả hai đảng đều bị nhóm tư bản tài phiệt chi phối, nghĩa là bị tiền bạc chi phối. Hơn nữa phần đông người làm chính trị là người giàu, có tiền đầu tư vào cổ phần các công ty nên họ cũng củng cố quyền lợi cá nhân của họ, cũng như người vô sản thì thích cộng tài sản của cả mọi người lại để rồi phân chia đồng đều.

Những người không thuộc hai đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa thường được gọi là "Độc lập", hay các đảng không mấy người biết đến tên, nếu mấy nhóm nầy có một hai người đắc cử vào Quốc hội, thì cũng bị đa số dùng biểu quyết dân chủ áp đảo thành ra đơn độc cũng không làm nên trò trống gì.

Trong các cuộc bầu cử ta thường thấy hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ kình chống lẫn nhau để dành phiếu, nhưng đảng nào khi thắng thế cũng đưa đến thi hành chánh sách của nhóm Tư Bản.

Vì sao ? Vì bất kỳ người nào ra tranh cử mà muốn được đắc cử đều phải có tiền, tiền quảng cáo để đề cao mình và hạ thấp đối thủ bằng mọi thủ đoạn, kể cả các thủ đoạn mà báo chí thường mệnh danh là "hạ cấp".

Muốn cho cử tri biết đến tên mình, muốn nhồi vào đầu óc cử tri việc không thành có, có thành không, để hạ đối phương, nâng cao thành tích của mình, thì phải trả tiền cho giới truyền thông ngày ngày lải nhải quảng cáo trên TV, radio, báo chí, gieo rải tin đồn thất thiệt, nhồi sọ cử tri, biến đổi sự thật. Do đó người làm chính trị cần phải có thật nhiều tiền, và khi đã nhận tiền của ai thì phải làm vừa lòng người ta, nếu không thì cũng chẳng đứng được lâu, được một kỳ là bị thải. Không có tiền thì làm sao mà ứng cử với đắc cử ?

Nhóm tư bản khôn khéo vừa ra tranh cử, mà mà còn đưa con rối của mình lên chính trường rồi giật dây bên trong do các lobbies điều khiển. Người dân đi bầu thường có ngạn ngữ " Đi bầu để chọn người ít xấu nhất trong đám xấu" (to select the bad rather the worst).

Người đang có điạ vị tại chính trường mà không theo hướng dẫn của Tư bản thì khó mà tái cử, vì tư bản sẽ không cấp tiền tranh cử, mà lại dồn tiền cho kẻ đối lập, dùng mỹ nhân kế gài bẫy để phế truất. Đấy là một cách tham nhũng hợp pháp chỉ có Mỹ mới dám công khai làm như vậy, và Mỹ đã dùng cách nầy để đảo chánh hạ bệ đối thủ tại các nước khác một cách hợp pháp.

Người ủng hộ tha hồ đóng tiền hay lập các tổ chức dùng để ủng hộ hay bôi nhọ người ra tranh cử, và chỉ có nhóm tài phiệt mới có nhiều để tiền trợ cấp vì khi phe ta mà đắc cử thì có dịp thâu lại hàng ngàn hàng triệu lần.

Hảng sản xuất khí giới, bom đạn, xe cộ, phi cơ, xăng nhớt, hóa chất muốn bán được hàng chỉ cần cho các lobbyist đến rỉ tai các cố vấn chính trị, là phải đánh chỗ nầy, tấn công nước nọ... bí mật cung cấp tin tức giả tạo... thì sẽ có chiến tranh ngay. Thế là toàn dân phải è cổ đóng thuế mua khí giới cho chiến tranh làm giàu cho các nhà thầu, nhà sản xuất khí cụ, máy bay, xe tăng v.v....

Tại Mỹ, tất cả trẻ thường phải học xong hết bậc trung học, việc học hành đều được hoàn toàn miễn phí, trẻ nghèo còn được trợ cấp đầy đủ để yên tâm theo học. Ngưòi nghèo, trẻ em, người già cả, người yếu đau đều được trợ cấp tiền bạc, thực phẩm, y tế và nhà ở rất đầy đủ.

Như vậy dân trí và kinh tế cá nhân rất là cao, nhưng phần đông lại bị ảnh hưởng của quảng cáo tuyên truyền mánh mung của chuyên viên bầu cử nên thường sai lầm khi xử dụng lá phiếu của mình. Đối với dân di cư
không rành tiếng Mỹ, việc sai lầm càng có độ rất cao, như một mặt thì thích hưởng trợ cấp xã hội cao, khai gian lận, nhưng mặt khác lại thích vào đảng của người giàu cho sang dù đảng nầy chủ trương cắt xén trợ cấp xã hội.

Do việc gia nhập đảng rất tự do và dễ dãi, nên cử tri Hoa Kỳ không thấy "Đảng" là quan trọng, vào đảng nào cũng vậy, chỉ được hãnh diện khi đảng ta thắng. Trên thực tế thì cử tri thường chọn đảng theo quyền lợi của mình, nhưng cũng có người chọn đảng theo lý tưởng xã hội hay tôn giáo.

Đại khái có thể tạm xếp loại như sau:

- Đảng Cộng Hòa - Republican: Đảng nầy được cho là bảo thủ, phần đông gồm các người giàu có, các nhà tôn giáo, những nhà kinh doanh, đầu tư tài chánh và chứng khoán; phần đông họ là những người giàu có, hay thừa hưởng tài sản giàu có, họ muốn giữ nguyên tình trạng đã đưa họ lên sự giàu sang, hoặc được sự kính nể và đóng góp tài chánh của những con chiên ngoan đạo, muốn bớt thuế trên số tài sản to lớn của họ. Một số người nghèo, hoặc một số năm nhận trợ cấp xã hội, làm việc nhọc nhằn đã tạo nên sự nghiệp có nhà, có xe, có tài sản, trở thành giàu sang (nếu so với mực sống tại các nước nghèo khổ của quê hương cũ), họ thích có được danh dự cùng đảng phái với những quan quyền, người giàu sang. Một số khác thường bị ảnh hưởng của tôn giáo mà chọn đảng mà họ cho là bảo vệ tôn giáo.

- Đảng Dân Chủ - Democratic: Thường đa số là những người phải làm việc mới có tiền sinh sống, nói nôm na là "tay làm hàm nhai". Vì phải làm để có tiền sinh sống họ ít có thời giờ, chỉ mong có luật lệ giúp đỡ cho những người kém may mắn, có công ăn việc làm đều đặn, có trợ cấp khi thất nghiệp, con em có cơ hội đến trường ĐH để sau nầy có một đời sống dễ chịu hơn, sung túc hơn, không luôn lo sợ cảnh tay làm hàm nhai, lâu lâu lại nhận được tờ giấy màu hồng báo thôi việc. Tuy nhiên vì lý tưởng hay vì lý do nầy nọ, nhóm người nầy cũng thích nhập đảng Cộng Hoà và nhóm người của Cộng Hòa nói trên cũng thích nhập đảng Dân Chủ.

Một số khác được thành danh với cấp bằng đại học, có việc làm quan trọng, hoặc trở nên rất giàu có, hiểu rằng cũng nhờ chánh sách trợ cấp xã hội cho người già, người nghèo, các sinh viên gặp cảnh khó khăn, nên họ mới có cơ hội hiên tại để đền ơn lại xã hội, họ có cái lý tưởng là làm việc gì để giúp lại cho người kém may mắn như mình ngày xưa, hơn là "qua sông rồi lại chặt cầu", để tự hào là giàu có giữa đám người nghèo khổ.

Đảng Tư Bản Lobby: Gồm nhân viên của nhóm tài phiệt của thị trường chứng khoán phố Wall, các công ty về dầu hỏa, ngân hàng, tài chánh, bảo hiểm, y tế, dịch vụ và sản xuất (xe hơi, khí giới,v.v..) gọi chung là Tập đoàn tài phiệt. Nhóm nầy thường xử dụng một lực lượng lobbyist hùng hậu lên đến cả hàng trăm ngàn lobbyist thường là những người có liên lạc mật thiết với các quan chức hành pháp, dân biểu, nghị sĩ, như là cựu đồng nghiệp, cựu công chức, thân nhân, v,v... Tư bản thuê các lobbyist với giá cao và thường trả thêm các phí tổn, để ngày ngày đến hành lang Quốc hội, Nhà Trắng, Lầu năm Góc hay các Công sở Liên Bang và các Tiểu Bang, để phục vụ chiêu đãi hết quan lớn đến quan nhỏ, rỉ tai hứa hẹn, hăm dọa, lén lút hối lộ và công khai đóng góp tiền tranh cử.

Trong thực tế thì Tập đoàn Tư bản đã nắm quyền điều khiển chính sách quốc gia bằng đoàn quân lobbyist hùng hậu trải đầy hành lang Quốc hội,(mà theo thống kê năm 2008 thì mỗi người dân cử trung bình có 85 người lobby chạy theo nâng bốc), và trong các dinh thự của Hành pháp thì số người lobbyist này càng đông gấp bội. Có báo chí cho rằng "Chính sách Năng Lượng " của ông Phó Tổng Thống đưa ra trước đây đã được chính lobbyist Tư bản Dầu hoả soạn thảo có lợi cho họ, nên chỉ có vài năm sau là giá xăng tăng gấp đôi, gấp ba, chỉ có hãng xăng dầu có lợi to, dân nghèo phải dành tiền mua xăng để đi xe nên không dám mua sắm, tiền chuyên chở cao vật giá tăng, đưa kinh tế Mỹ vào cảnh khủng hoảng năm 2008, ảnh hưởng đến cả thế giới

Trước kia đã có một số luật lệ giới hạn để bảo vệ người xử dụng ngân hàng và các công ty đầu quyền thì có chánh sách thả lỏng kiểm soát để các công ty nầy tự do, tự điều chỉnh. Thế là các nhà băng, nhà đầu tư, tài chánh tha hồ lươn lẹo, cho vay cẩu thả để có nhiều lợi, chỉ cần có vài năm thôi là giá nhà cửa và giá xăng tăng lên gấp đôi gấp ba lần giả tạo, đưa đến sự sụp đổ nền tài chánh lớn nhất thế giới là Hoa kỳ. Không lấy gì làm lạ khi vào cuối năm 2008 dân chúng Hoa Kỳ đã bầu một ông Tổng thống thuộc về thiểu số da màu

thoidaianhhung
01-07-2010, 06:49 PM
Vận dụng nguyên tắc Lobby trong hoạt động kinh doang nói chung
và kinh doanh khách du lịch OUTBOUND nói riêng

Một số nước có nên kinh tế thị trường phát triển đã vận dụng nhiều công cụ, nguyên tắc kinh tế để đạt mục đích hiệu quả kinh doanh và được pháp luật thừa nhận, một trong những vấn đề đó là LOBBY. Vấn đề này, đối với Việt Nam phần nào đã có manh nha, nhưng trên thực tế chưa thể vận dụng được vì chưa có quy định bằng văn bản pháp luật. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập thị trường quốc tế thì vấn đề đó có muốn hay không thì cũng phải chấp nhận khi làm việc với đối tác. Vì vậy việc nghiên cứu các nguyên tắc LOBBY là một sự cần thiết đối với ngành du lịch

Phần 1: Một số vấn đề cơ bản về Lobby và Lobbyist

Trong tiếng Anh từ Lobby có nghĩa là hành lang của một toà nhà quốc hội của một quốc gia nào đó; trong một khách sạn hay một toà nhà lớn thì từ Lobby là tiền sảnh tầng 1 của toà nhà là nơi để khách chờ đợi để làm thủ tục làm việc hay xuất nhập vào khách sạn. Nhưng từ Lobby còn có nghĩa bóng nữa mà từ lâu các nước thường áp dụng trong nghiệp vụ kinh doanh; nước áp dụng nhiều nhất là Mỹ. Đối với nước Mỹ hoạt động Lobby được cho là hợp pháp và được quy định bởi luật ví dụ Luật Liên bang ban hành năm 1946 có quy định về hoạt động Lobby; Luật Đăng ký Tác nhân nước ngoài ban hành năm 1938 quy định phạm vi hoạt động Lobby nước ngoài; Đạo luật về Công khai hoá hoạt động Lobby ban hành năm 1995 điều chỉnh các môi quan hệ trong và ngoài nước của Lobbyist nội dung quy định bắt buộc nhưng người hoạt động Lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, công khai các nghiệp vụ, đối tác, các cuộc tiếp xúc và tiền công được hưởng từ các dịch vụ.... tại Mỹ phố K- Street tại trung tâm thủ đô Washington D.C được xem là trung tâm hoạt động của các văn phòng, công ty Lobby; nhiều chính trị gia là Nghị sĩ đã từ bỏ chính trị mà chuyển sang hoạt động Lobby; kể từ năm 1998 đến nay có 198 thành viên Quốc hội Mỹ sau khi rời bỏ chính trường đã đăng đàn nghề Lobby- phải chăng đây là nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận mà không cần đầu tư vốn ban đầu hay lấy "nó rán nó ".

Ở một số nước phát triển hoạt động Lobby còn mang tính chính trị- xã hội sâu sắc và có tác động nhất định đến hình thành nên các chính sách đối nội, đối ngoại thậm chí các dự án kinh tế lớn...Đối với nước ta khái niệm LOBBY còn mới trên lý thuyết và chưa có văn bản pháp luật nào thừa nhận đó là hoạt động hợp pháp, công khai và nộp thuế nên chưa có văn phòng, công ty LOBBY như các nước khác trên thế giới.Tuy nhiên loại hình này đã hình thành manh nha Lobby ở nước ta từ lâu trên nhiều góc độ khác nhau và tại nhiều lĩnh vực của xã hội mà thường gọi theo nghĩa đen là chạy "cửa sau".

Vậy nghiệp vụ Lobby và Lobbyist là

Hoạt động Lobby là sử dụng các phương pháp để tranh thủ vận động những người có chức có quyền, có thế lực để giúp cá nhân, cơ quan, công ty đạt được mục đích nào đó trong kinh tế, chính trị, xã hội...

Như vậy có thể hiệu được hoạt động của LOBBY là hoạt động cung cầu thông tin và người cần thông tin để thực hiện vấn đề nào đó chính là Lobbyist.

Các thông tin cần được lấy từ những người có uy tín, có vị trí xã hội và danh tính của họ có ảnh hưởng nhất định đối với một vấn đề nào đó. Vì vậy một số nước phát triển, phần lớn Lobbyist là những cựu quan chức, cựu Bộ trưởng, thủ tướng, tướng lĩnh, các cố vấn trợ lý của Tổng thống; các dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm chức vụ quan trọng trong Quốc hội, chính phủ sau khi về hưu họ đã gia nhập Lobbyist hoặc là các văn phòng, công ty kinh doanh lobby thuê, ký hợp đồng các chính trị gia này dưới dạng hợp đồng chuyên gia hay cố vấn cho từng lĩnh vực nào đó.

Vai trò của Lobbyist có một vai trò quan trọng nhất định đối với nhiều lĩnh vực của một số nước thậm chí có vai trò đối với chính trị, cũng như thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại... Phương thức thực hiện chính của lobbyist là thông qua những mối quan hệ với các chính khách để tạo ra được cái thế chính trị, cái lực ( bao gồm cái thực hoặc ảo) để đạt một vấn đề nào đó- chính là nghiệp vụ của lobby. Vì vậy, trong chính sách của lobby có một nguyên tắc cần phải tuân thủ là để có thế lực cần thiết để đạt các vấn đề cần phải có chiến lược lobby mang tầm cở và đa lĩnh vực hay nói cách khác đầu tư vào lobby là rất tốn kém nhưng đây là giải pháp trong lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả nhất thường là mua được những thông tin hay các hợp đồng ngon nhất, nếu như có được thông tin thông qua lobby thì sẽ tiên đoán được kết quả và chuẩn bị trước được các giải pháp nhằm mang lại hiệu quả cao đặc biệt có nhiều cơ hội để thắng đối thủ cạnh tranh trong một vấn đề nào đó.

Đối với Việt Nam, việc vận dụng nguyên tắc lobby trong hoạt động kinh doanh đang bị hạn chế do quan niệm Lobby là một hiện tượng không lành mạnh. Nhưng hiện nay nước ta đã gia nhập WTO hoà nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu nên dù có không muốn vẫn phải tuân theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường trong đó có Lobby. Hiển nhiên, ngành du lịch cũng vậy. Vấn đề này đặt ra cho các nhà hoạch định về chính sách pháp luật cần phải nghiên cứu khi đất nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

Phần 2: Vận dụng nguyên tắc Lobby đối với kinh doanh khách du lịch OUTBOUND

Khách du lịch OUTBOUND là người Việt Nam, người nước ngoài học tập công tác tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài theo chương trình du lịch du lịch quốc tế của các công ty du lịch Việt Nam.

Trong mấy năm qua khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng về số lượng khách; mức chi tiêu, ngày lưu trú dài hơn khi tham quan du lịch tại nước ngoài. Điểm lại thị trường tham quan của khách du lịch Việt nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng công, Ma cao ...và các nước khối ASEAN; ngoài ra một số công ty đã tổ chức một số đoàn đi các nước Bắc Á, Châu Âu, Úc và châu Mỹ.. nhưng số lượng đoàn còn hạn chế. Qua điều tra sơ bộ cho thấy: Trước năm 2004, số lượng khách Việt Nam đi du lịch Thái Lan, Singapor, Malaisia, Hồng Kông chiếm 65%, nhưng từ năm 2006 tập trung nhiều thị trường Trung Quốc, Singapor, Malaisia; còn đi Thái lan đã giảm hơn so với những năm trước. Số lượng khách đi theo đoàn nhiều nhất tập trung vào khối cơ quan xí nghiệp, công ty liên doanh, bên cạnh đó các đại lý bán hàng cho các hãng cũng được thưởng bằng chuyến đi du lịch nước ngoài thường có số lượng khách đông nhất.

Thường khách du lịch Việt Nam đi theo đoàn cơ quan xí nghiệp... thì nguồn kinh phí được trích từ hiệu quả kinh doanh như tiền thưởng, tiền phúc lợi, lợi nhuận... để lại cho cho nhiều mục đích trong đó có tổ chức cho cán bộ công nhân tổ chức đi du lịch trong và ngoài nước. Nhưng nguồn kinh phí đó thường do thủ trưởng đơn vị bao gồm: Giám đốc, Tổ chức công đoàn là người đại diện cho cán bộ công nhân viên quyết định về mức chi, thời gian và địa điểm tham quan... Vì vậy, để lấy được các đoàn khách du lịch quyết định bới các yếu tố là tranh thủ được các nhân vật trên với chương trình du lịch hấp dẫn, giá cả hợp lý thì mới có thể cạnh tranh được được đoàn; trong thực tế các công ty lữ hành đều có chương trình du lịch, giá cả tương đối giống nhau thập chí chỉ khách nhau tiêu đề và tên công ty. Vậy vấn đề quyết định cạnh tranh thị trường là vận động hành lang ( LOBBY) đối với người quyết định của các cơ quan xí nghiệp công ty.

Bất cứ công ty lữ hành nào có thị trường tiềm năng về khách du lịch OUTBOUND nào đó thì trước đó họ đã có thời gian vận động hành lang tranh thủ được thủ trưởng nơiđơn vị có cán bộ công nhân viên đi du lịch nước ngòai và hàng năm các công ty du lịch phải luôn thực hiện LOBBY đối với nhân vật đó để giữ được thị trường. Nếu có sự thay đổi lãnh đạo tại các cơ quan đó thì công ty lữ hành phải thực hiện lại vận động hành lang với người mới để cạnh tranh.

Đối với công ty lữ hành mới thành lập chưa có thị trường tiềm năng thì cần phải vận dụng nguyên tắc LOBBY để xâm nhập thì trường hoặc cạnh tranh thị trường với các đối thủ tiềm năng. Để tiếp cận được thị trường là phải vận động hành lang để tranh thủ với đối tượng quan trọng trong các cơ quan xí nghiệp là:

Thông qua mối quan hệ quen biết để tiếp cận người quyết định. Nghiên cứu các mối quan hệ của đối tượng để nhờ họ giới thiệu làm quyen; khi tiếp cận được đối tượng thì bắt đầu tranh thủ và vận động họ giúp đỡ.

Thông qua mối quan hệ cấp trên và cấp dưới cùng ngành, cùng lãnh thổ. Vấn đề này áp dụng nguyên tắc thủ trưởng " chỉ đạo" cấp dưới để tiếp cận ban đầu với đối tượng, sau đó tiến hành vận động hành lang tranh thủ cạnh tranh thị trường.

Thông qua những nhân vật có uy tín, có quyền hoặc thế lực để họ vận động những người quan trọng ưu tiên thị trường cho đơn vị mình. Giải pháp này khó khăn hơn hai giải pháp trên, nhưng nếu thực hiện được thì đảm bảo được thị trường tương đối lâu dài.

Để duy trì được thì trường tiềm năng các công ty lữ hành phải có mối quan hệ đặc biệt với người quan trọng thông qua việc trích các khoản hoa hồng hậu hĩnh dưới các hình thức khác nhau. Bên cạnh đó, để cạnh tranh được đối thủ khác mỗi công ty lữ hành giử khách luôn có nhiều sản phẩm mới tức là luôn có chương trình hấp dẫn khách; cần phải phối hợp với các công ty lữ hành đón khách có chất lượng dịch vụ tốt, thái độ phục vụ nhiệt tình đối với khách trong quá trình tổ chức các đoàn khách du lịch Việt Nam tham quan nước ngoài; đồng thời có giá cả hợp lý phù hợp với từng đối tượng khách du lịch để khách du lịch hoặc người Lãnh đạo các đơn vị họ có thể lưa chọn, có lý do khi thông qua lựa chọn công ty công ty lữ hành

Nguyễn Đăng Tuyền
T.S Võ Quế
Viện NCPT Du lịch (http://kdulich.duytan.edu.vn/Info/Detail.aspx?id= 241&lang=VN)

LOBBY.VN
02-04-2010, 07:29 AM
Super Lobbyist Lý Gia Thành

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/LyGiaThanh.jpg

Lobbyist có nghĩa là chuyên gia vận động hành lang, nếu có cơ hội bầu chọn ai là nhân vật vận động hành lang ảnh hưởng nhất thế giới trong thế kỷ 20 tôi sẽ bầu cho tỷ phú Lý Gia Thành. Chúng ta hãy tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của tỷ phú, chuyên gia vận động hành lang Lý Gia Thành.

1. Cuộc đời và sự nghiệp kinh doanh của Lý Gia Thành

Trong văn hóa kinh doanh của người Hoa có một vị trí được cộng đồng doanh nhân xây dựng và tôn vinh là khái niệm “Ông chủ của những Ông chủ”. Khái niệm ông chủ một nhà hàng, ông chủ một nhà máy lớn, ông chủ của một tập đoàn kinh tế trong con mắt của người dân, người lao động bình thường họ đều là những nhân vật quan trọng. Hành động của họ, công việc kinh doanh của các tổ chức kinh tế mà họ điều hành có ảnh hưởng đến cuộc sống của một nhóm người nhất định có cùng lợi ích kinh tế trong tổ chức đó.

“Ông chủ của những Ông chủ” là nhân vật mà hành động của họ ảnh hưởng đến vận mệnh của các tổ chức kinh tế mà các ông chủ đang điều hành. Ông chủ của những ông chủ phải là những nhân vật nắm trong tay những lĩnh vực kinh tế huyết mạch của cả vùng, thậm chí mang tầm quốc gia.

Lý Gia Thành chính là “Ông chủ của những ông chủ” của giới kinh doanh Hong Kong cũng như giới doanh nhân người Hoa trên toàn thế giới. Lý Gia Thành nắm trong tay 5% nền kinh tế Hong Kong, những ngành kinh tế huyết mạch như Bất động sản, ngân hàng, hải cảng, đội tàu biển ở Hong Kong và Trung Quốc. Những tài sản quan trọng trong cộng đồng Hoa Kiều tại Canada, Mỹ, Singapo, Thai Land, Malaysia…

Tư tưởng, triết lý kinh doanh và hành đồng của Lý Gia Thành ảnh hưởng đến định hướng và quyết định kinh tế của các ông chủ nhỏ trong cộng đồng doanh nhân Hoa Kiều. Cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70 Lý Gia Thành nổi lên là doanh nhân người Hoa thành đạt giàu có bậc nhất tại Hong Kong. Trong kinh doanh ông là một ông chủ luôn vì lợi ích của người lao động và người tiêu dùng, trong cuộc sống ông là người sống ôn hòa được mọi người nể trọng. Ông luôn nhớ lại lời nói của người cha trước lúc mất, dù làm việc ở bất cứ nơi đâu hãy luôn nhớ về quê hương, mảnh đất Triều Châu nhỏ trong Đại Lục. Hướng về quê hương, mong muốn đóng góp cho quê hương phát triển giàu có…một người thành công trong xã hội tư bản ông đang xây dựng quan hệ để kết nối với nền kinh tế cộng sản…ông đã vượt qua những định kiến chính trị tràn ngập trong suy nghĩ của cộng đồng doanh nhân Hong Kong lúc bấy giờ…ông đã tạo ra sự khác biệt…ông chính là người mở đường cho chủ nghĩa kinh tế tư bản đến làm ăn tại Trung Quốc đại lục

Năm 1978 Đặng Tiểu Bình mở cửa nền kinh tế Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ đã nhận ra vai trò của của Lý Gia Thành trong nền kinh tế Hong Kong, chính phủ TQ đã chọn Lý Gia Thành trở thành người đại diện dẫn đường để giúp TQ tiến ra thế giới. Nền tảng từ suy nghĩ mong muốn TQ phát triển, Lý Gia Thành dự đoán được những thay đổi chính trị to lớn ở thị trường khổng lồ này, ông đã nắm được chìa khóa quan trọng…chìa khóa vàng mà bất cứ một doanh nhân hay các tổ chức kinh tế lớn nào trên thế giới đều muốn nắm giữ…lịch sử đã trao chìa khóa cho người đại diện vĩ đại Lý Gia Thành. Phải đánh giá chính xác rằng đây là thương vụ đầu tư chính trị qua trọng trong sự nghiệp kinh doanh của ông, một phần không nhỏ tài sản của ông đã được gây dựng từ mối quan hệ chính trị này.

Lý Gia Thành đã làm gì để được lịch sử và chính phủ TQ lựa chọn ? Ngay khi những điều kiện kinh tế cho phép ông đã trở về đầu tư đóng góp cho quê hương phát triển. Ông xây dựng các kênh mua bán hàng hóa từ quê hướng để xuất khẩu, đầu tư tạo công ăn việc làm cho người dân. Đóng góp xây dựng trường học, bệnh viện tại quê hương…đóng góp mà ông tâm huyết nhất đó là góp tiền xây dựng trường đại học Sán Đầu một trong những trường đại học hàng đầu TQ lúc bấy giờ. Mong muốn đóng góp cho quê hương từ tận đáy lòng, điều mà những ông chủ người Hoa lúc bấy giờ ở Hong Kong chưa dám làm…họ còn e ngại những vấn đề chính trị lịch sử tại TQ. Mảnh đất mà họ đã phải bỏ chạy sau cuộc cánh mạng văn hóa những năm 60…

Chính phủ TQ mời Lý Gia Thành làm cố vấn kinh tế đặc biệt, từ đây ông đã có thể dùng tài năng của mình giúp chính phủ quy hoạch phát triển kinh tế một cách khoa học hiệu quả…giàu có và thành công như những gì tập đoàn mà ông đã làm được. Các đặc khu kinh tế được mở ra, thị trường rộng lớn 1 tỷ dân mở cửa…đó là cơ hội lớn chưa từng có cho cộng đồng doanh nhân thế giới…doanh nhân Hoa Kiều là người nắm trong tay cơ hội lớn nhất. Lý Gia Thành là người lãnh đạo chỉ đường đối với cộng đồng doanh nhân này…

Những tập đoàn kinh tế lớn của thế giới tư bản đã thông qua Lý Gia Thành để tương tác với chính phủ TQ. HSBC đã mời Lý Gia Thành tham gia hội đồng quản trị của tập đoàn ngân hàng hàng đầu thế giới này, một điều chưa từng có trong lịch sử tồn tại, tập đoàn là hiện thân của giới tư bản Anh Quốc giờ đây có sự hiện diện của một người TQ. Chính chìa khóa chính trị mà Lý Gia Thành nắm giữ với chính phủ TQ đã tạo dựng vị trí quốc tế cho cá nhân ông và tập đoàn mà ông điều hành. HSBC đã có bước nhượng bộ đồng ý bán toàn bộ cổ phần nắm giữ tập đoàn Hòa Ký Hoàng Phố một tập đoàn thương mại hơn 100 năm tồn tại, tập đoàn thương mại hàng đầu của giới chủ tư bản. Lý Gia Thành đã nắm được một trong huyết mạch nền kinh tế Hong Kong với giá rẻ mạt…rất nhiều doanh nhân giàu có muốn sở hữu Hòa Ký Hoàng Phố và thời điểm đó tiềm lực tài chính họ có thể chiến thằng Lý Gia Thành…họ đã thất bại…Lý Gia Thành nắm trong tay chìa khoa chính trị…thứ tài sản mà họ không thể có.

Nắm được những tập đoàn kinh tế huyết mạch của Hong Kong và có vai trò quan trọng trong ngân hàng HSBC, Lý Gia Thành dẫn đầu đoàn quân khai phá thị trường TQ rộng lớn. Dẫn các nguồn tài chính tư bản khổng lồ cho nền kinh tế khát vốn mọi thứ đang cần đầu tư, nắm trong tay quyền được thực hiện xây dựng hạ tầng ngành năng lượng, dầu mỏ, hải cảng...Lý Gia Thành đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình...ông là chia khóa mở cửa nền kinh tế Trung Quốc với nền kinh tế toàn cầu.

Từ năm 1978 đến năm 1993 có hơn 75% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TQ là vốn của Hoa Kiều, nếu ví Lý Gia Thành là con Cá Mập thì khi con cá mập này đến khai phá miền đất nào đàn cá con sẽ bám theo để lấy phần và mong nhận được sự tre trở của cá mập. Ông đã thành công, tư bản Hoa Kiều với nét chung về văn hóa ngôn ngữ đã hòa nhập vào thị trường TQ nhanh và thành công hơn tư bản phương tây trong giai đoạn 10 năm đầu mở cửa. Môi trường kinh doanh mà tư bản Hoa Kiều tạo dựng giai đoạn đầu là điều kiện để đầu tư tư bản phương tây bùng nổ trong 2 thập kỷ sau đó tại Trung Quốc lục địa

2. Hệ tư tưởng Đất Mẹ của cộng đồng Hoa Kiều

Tôi muốn bắt đầu triết lý tư tưởng này bằng một chiến công của người anh hùng Heracles trong thần thoại Hy Lạp. Một câu chuyện thần thoại cho người đọc nhiều suy nghĩ. Xây dựng phép so sánh ở đây chúng ta coi thần Antaeus là hình đại diện của công đồng Hoa kiều trên khắp thế giới, nữ thần đất Gaia là hiện thân cho đất nước Trung Quốc

Heracles vượt qua miền đất xứ Libya. Tại đây chàng gặp thần Antaeus, con trai của Poseidon và Gaia. Antaeus thường bắt những người qua đường phải đánh vật với hắn, ai thua đều bị hắn giết. Gặp Heracles, Antaeus cũng bắt chàng phải vật nhau với hắn. Sở dĩ trước đây không ai địch nổi hắn vì một khi hắn còn chạm chân vào đất thì hắn còn được nhận sức mạnh từ mẹ hắn là nữ thần Đất Gaia. Heracles vật nhau khá lâu với Antaios và nhiều lần vật ngã được hắn nhưng hễ hắn ngã xuống là lại mạnh hơn trước. Thấy thế, chàng liền nhất bổng hắn lên và siết chặt hắn trên không.

Với rất nhiều quốc gia cộng đồng ngoại kiều có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, cộng đồng ngoại kiều giúp các quốc gia đó hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu nhanh chóng và thành công. Ví dụ điển hình nhất là cộng đồng Hoa Kiều và Do Thái, đây là những cộng đồng ngoại kiều rất thành công về mặt kinh tế và được cả thế giới ghi nhận.

Ngoại kiều khi đến sinh sống và làm ăn ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới họ mãi mãi chỉ là nhóm dân tộc thiểu số, họ có những bất lợi rất lớn khi cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh tế bản địa. Vậy làm thế nào họ có thể thành công rực rỡ về kinh tế và nhiều khi còn lẫn át cả doanh nghiệp bản địa. Thành công đó chỉ có được khi họ kết nối được sức mạnh của đất mẹ, tổ quốc nguồn cội của dân tộc đó, trong mọi cuộc chiến mỗi khi vấp ngã họ lại được đất mẹ tiếp thêm sức mạnh…nguồn sức mạnh vô tận đó là cơ sở để họ chiến thắng mọi đối thủ.

Hoa Kiều là cộng đồng thành công nhất, cộng đồng hoa kiều tại Mỹ, Châu Âu hay Đông Nam Á họ có tính cộng đồng rất cao, luôn luôn hỗ trợ và đùm bọc nhau để xây dựng các tổ chức kinh tế mạnh. Một doanh nghiệp tại Trung Quốc muốn đưa hàng hóa xâm nhập thị trường Mỹ, Châu Âu hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới…việc đầu tiên của họ không phải là phải đào tạo một đội quân học thật giỏi ngôn ngữ, học văn hóa…cách thức kinh doanh bản địa…việc này làm nhanh cũng phải mất nhiều năm…cơ hội thành công chưa hẳn cao. Việc đầu tiên của họ là kết nối với cộng đồng hoa kiều tại những quốc gia đó, cộng đồng sống hàng trăm năm ở quốc gia bản địa, họ hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phương thức kinh doanh bản địa…cộng đồng hoa kiều đã trở thành người đại diện bán hàng đối với các doanh nghiệp của đất mẹ xa xôi. Doanh nghiệp Trung Quốc giành thành công kinh tế nhờ họ tìm được những người đại diện hoàn hảo như thế tại một quốc gia xa xôi. Nguồn vốn của hoa kiều luôn muốn đầu tư sản xuất hàng hóa tại đất mẹ Trung Quốc nơi họ am hiểu với những lợi thế đặc biệt giúp cho họ có thể tăng lực cạnh tranh hàng hóa và cơ hội kiếm tiền nhiều hơn với các doanh nghiệp bản địa.

Lợi ích luôn có cho cả hai bên, ngoại kiều và đất mẹ. Giả sử rằng nếu cộng đồng hoa kiều không kết nối với đất mẹ Trung Quốc, họ sẽ như là vị thần Antaeus dễ dàng bị đánh bại trước những doanh nghiệp bản địa thiện chiến.

Người Do Thái cũng thế họ thành công vì họ xây dựng được các kết nối toàn cầu của cộng đồng người Do Thái, hỗ trợ nhau cùng nhau chiến đấu và chiến thắng trước kẻ địch.

Sự đồng điệu về văn hóa, ngôn ngữ…đã giúp cho cộng đồng doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục năm để thâm nhập và kinh doanh thành công tại thị trường toàn cầu.

3.Thời cơ lịch sử tạo nên huyền thoại Super Lobbyist

Theo lý thuyết những kẻ xuất chúng thì Lý Gia Thành sinh ra đúng thời, năm 1970 chính quyền Bắc Kinh từng bước mở cửa nền kinh tế, năm đó Lý Gia Thành ở độ tuổi 40, lứa tuổi chín nhất trong cuộc đời con người. Sau 20 năm lăn lội kinh doanh tại Hồng Kông ông đã xây dựng được cơ nghiệp khá lớn, ông là người nổi bật nhất trong giới kinh doanh Hoa Kiều tại Hồng Kông. Thời điểm đó hoạt động kinh doanh của Hoa Kiều vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong quy mô kinh tế Hồng Kông, những doanh nghiệp tiềm lực tài chính mạnh nhất, nắm trong tay những ngành kinh tế mũi ngọn đều nằm trong tay giới tư bản Anh Quốc và phương Tây.
Trung Quốc giành độc lập năm 1949, tự hào về sức mạnh chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh chính quyền Trung Quốc đưa ra hàng loạt kế hoạch tham vọng xây dựng lại nền kinh tế. Tầng lớp lãnh đạo không hiểu cách vận hành nền kinh tế đưa ra những chiến lược kinh tế mang tính hoang đường và chịu những thất bại nặng nề. Kế hoạch nhà nhà làm thép để trở thành nước công nghiệp, tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân năm 1964…chính quyền Bắc Kinh tập chung mọi nguồn lực cho mục tiêu ảo tưởng trên. Các ngành kinh tế khác không được đầu tư, hàng hóa khan khiếm, đời sống nhân dân đói khổ.

Đỉnh điểm các sai lầm của chính quyền Bắc Kinh là thực hiện cuộc cách mạnh văn hóa 1960 đến 1970 đã hủy hoại mọi giá trị của xã hội Trung Quốc, chính quyền không coi trọng tầng lớp tri thức, giới tư bản, xã hội mất niềm tin và chính quyền.

Từ năm 1949 tầng lớp tư bản, tri thức tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải và các thành phố lớn khác tiến hành di cư sang Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và Mỹ. Không có niềm tin vào chính quyền Bắc Kinh, sợ hãi trước chính sách và pháp luật chính quyền TQ thực hiện, họ ra đi tìm miền đất an toàn hơn để phát triển.
Cuộc di cư mang theo nguồn vốn và tầng lớp tinh anh nhất của TQ, cuối thập niên 60 xã hội TQ xơ xác, không vốn, không tầng lớp tri thức, mất niềm tin ở nhân nhân, không trông chờ gì sự giúp đỡ của phương Tây.
Chính quyền Bắc Kinh phải thay đổi, họ xóa bỏ những lý tưởng mà bao năm qua họ theo đuổi, họ nhận ra rằng ảo tưởng đó không bao giờ thành hiện thực. Một chính quyền mới ra đời, một chính quyền tư duy thực tế, chính quyền muốn TQ phát triển theo nền kinh tế tư bản.

Chính quyền Bắc Kinh phải đi tìm người thầy dạy mình hiểu về nền kinh tế tư bản, không thể dựa vào phương Tây, chính quyền TQ hiểu rằng người thầy của mình chính là cộng đồng Hoa Kiều đang sinh sống và làm ăn ở các nước Phương Tây, người thầy gần nhất chính là cộng đồng Hoa Kiều tại Hồng Kông. Cộng đồng đã mất niềm tin vào chính quyền Bắc Kinh, họ đã phải di cư để tìm con đường sống, lý do gì thuyết phục họ trở về.
- Làm thế nào để tiếp cận giới tư bản Hoa Kiều ?
- Làm thế nào để lấy được niềm tin tư bản Hoa Kiều ?
Lý Gia Thành từ bé đã được cha mẹ giảng dạy về giá trị văn hóa của quê hương và đất mẹ. Khi kinh tế ở Hồng Kông ông vẫn luôn tìm cách giữ liên hệ thông tin với quê hương, tìm mọi cách gửi tiền, về quê hướng đầu tư, về quê hương làm ăn…ngày đó hoạt đông kinh doanh Hong Kong và Đại Lục bị cấm. Ông vẫn vượt qua những khó khăn đó, ông hiểu những điều ông làm đã giúp rất nhiều cho quê hương đất mẹ, giúp đỡ cho người dân quê ông đỡ khổ.

Ông là một trong số ít doanh nhân Hong Kong duy tri hoạt động kinh doanh với Đại Lục từ năm 1949 nên ông luôn nằm trong hệ thống giám sát của chính quyền Bắc Kinh. Gần 20 năm quan sát Lý Gia Thành chính quyền Bắc Kinh hiểu được tài năng và tầm nhìn của ông, một người luôn hết mình vì nhân dân TQ. Chính quyền Bắc Kinh lựa chọn ông là người đại diện giúp đỡ chính quyền tiếp cận nền kinh tế tư bản.

Thời điểm này đã giúp Lý Gia Thành trở thành huyền thoại, ông trở thành chuyên gia vận động hành lang của chính quyền Bắc Kinh với thế giới tư bản. Không phải nói quá thời điểm đó uy tín của Lý Gia Thành với giới tư bản còn lớn hơn cả uy tín của chính quyền Bắc Kinh với giới tư bản. Lời nói và hành động của Lý Gia Thành được tôn trọng hơn cam kết của chính quyền Bắc Kinh.

Ông cố vấn giúp chính quyền Bắc Kinh xây dựng chính sách kinh tế phù hợp, đánh thức các tiềm năng như nguồn nhân lực giá rẻ, thị trường rộng lớn nhu cầu tiêu dùng cao, tài nguyên, khoáng sản phong phú. Những chính sách này nhận được sự ủng hộ của giới tư bản đầu tư Hoa Kiều và tư bản phương Tây. Trước đó giới tư bản không có cơ hội nói chuyện với chính quyền Bắc Kinh, họ không thể tác động đến các chính sách của chính quyền, Lý Gia Thành đã làm được điều mà họ đã chờ đợi bấy lâu.

Thời điểm Lý Gia Thành trở thành chuyên gia vận động hành lang trong lịch sử có lẽ phải hàng ngàn năm mới có. Chưa bao giờ chính quyền TQ lại khủng hoảng như thế, họ cần phải thay đổi nhanh để đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói. Có lẽ nhiều người phương Tây cũng không lạ gì cách làm của Lý Gia Thành nhưng họ không thể làm được đơn giản vì họ không phải là người TQ.

Lý Gia Thành là người đại diện vận động hành lang cho giới tư bản đầu tư phương tây và hơn 100 triệu Hoa Kiều trên khắp thế giới, những nhà đầu tư đã nhìn thấy miếng bánh tại thị trường TQ họ chỉ đợi minh chủ như Lý Gia Thành phất cờ dẫn đầu đội quân đầu tư này.

Lý Gia Thành mang vốn của mình tham gia các dự án khổng lồ của chính quyền Bắc Kinh, đây là cam kết lớn nhất để các nhà đầu tư khác đi theo. Thời điểm đó khi chính sách của chính quyền Bắc Kinh chưa hoàn thiện Lý Gia Thành đứng ra làm việc trực tiếp với chính quyền Bắc Kinh để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư làm ăn ở TQ. Nếu các nhà đầu tư nhỏ tự mang vốn vào đất nước mà chính sách chưa ổn định thì rất mạo hiểm, thậm chí còn vướng vào vấn đề phạm luật khi làm việc với giới quan chức địa phương thiếu hiểu biết. Lý Gia Thành làm việc trực tiếp với các siêu quyền lực tại Bắc Kinh là điều đảm bảo chắc chăn cho hoạt động đầu tư của giới tư bản.

Hoạt động vận động hành lang của Lý Gia Thành mang lại lợi ích cho nhân dân TQ và lợi ích cho giới tư bản Hoa Kiều. Hoạt động đầu tư mang lại cho ông 1 USD lợi nhuận thì đã mang lại cho nền kinh tế Trung Quốc và nên kinh tế thế giới 1000 lợi nhuận.

Giới tư bản Anh Quốc, Mỹ….đã phải nhường cho ông những miếng bánh trong thế giới của họ, liên kết làm ăn với Lý Gia Thành giúp họ tìm thấy cơ hội đầu tư vào TQ.

Phẩm chất giúp Lý Gia Thành trở thành huyền thoại vận động hành lang trong lịch sử vận động hành lang thế giới chính là khả năng dự đoán được vận mệnh đất nước Trung Quốc trong thời điểm quyết định của lịch sử.

Hai mươi năm sau khi trở thành chuyên gia vận động hành lang của chính quyền Trung Quốc và giới tư bản Hoa Kiều Lý Gia Thành đã trở thành tỷ phú được kính trọng trong giới tư bản toàn cầu.

Quan điểm chính trị về lợi nhuận và hệ tư tưởng đất mẹ mà ông đã thực hiện sẽ trở thành bài học lớn cho tầng lớp doanh nhân và chuyên gia vận động hành lang trẻ học tập.

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

LOBBY.VN
02-06-2010, 06:11 PM
“Đại gia” công nghệ Mỹ đua… lobby

Các hãng công nghệ ở thung lũng Silicon rút ra một kinh nghiệm xương máu: “thuốc đặc trị” nhiều chuyện đau đầu là đầu tư để lobby tại Capitol Hill – Văn phòng chính phủ Mỹ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/1265280505img.jpg
Google ngày càng trở nên “thân thiết” với chính quyền của Tổng thống Obama

Và Google đang là một ví dụ điển hình nhất cho bài học này. Trong vòng 5 năm qua, gã khổng lồ tìm kiếm từ chỗ gần như không có sự hiện diện nào tại Washington đã trở thành hãng công nghệ chi tiêu nhiều nhất cho các hoạt động lobby trong năm 2009.

"Sự gia tăng các khoản chi cho lobby phản ánh một cách chính xác sự phát triển của công ty, từ chỗ một “chú bé tí hon” trở thành một người khổng lồ", Dave Levinthal, giám đốc truyền thông của Trung tâm hồi đáp chính trị Mỹ nói.

Sự hiện diện của Google ở Washington không chỉ thể hiện ở việc họ “chi đậm” nhất mà người của hãng còn trở thành các “nhân vật thân cận” với các nhà lãnh đạo của chính phủ Mỹ, thậm chí có những nhân viên của Google đã trở thành quan chức nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền của Tổng thống Obama.

Hơn ai hết, Google hiểu rằng họ không thể lặp lại sai lầm mà Microsoft đã từng mắc phải trong những năm 90. Khi đó, Microsoft đã tự phụ về sức mạnh của mình và cố tình lờ đi quyền lực chính trị và cái giá phải trả là hàng loạt những vụ điều tra và phiên tòa độc quyền với những khoản phạt nặng nề.

Google luôn luôn tin rằng họ có một trách nhiệm đặc biệt trong việc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn và các chiến dịch lobby là một phần trong cuộc thập tự chinh ấy. Trên thực tế, những khoản đầu tư lên đến hàng chục triệu USD này chỉ phản ánh một điều duy nhất: Google đang đi theo bước chân của những đại gia công nghệ khác ở thung lũng Silicon.

Điều này không tốt mà cũng chẳng xấu vì đôi khi những chiến dịch lobby của họ cũng vì quyền lợi của người dùng. Trả lời câu hỏi này, Alan Davidson, người phụ trách các chính sách chính phủ của Google vẫn một mực khẳng định họ đổ tiền cho các chiến dịch lobby chỉ để chứng minh sự “khiêm tốn” của mình, "Chúng tôi hiểu rằng tăng trưởng luôn đi kèm với trách nhiệm và trách nhiệm của chúng tôi là phải thể hiện được tư cách của một hãng dẫn đầu ngành công nghiệp này”.

Bắt đầu thực thi các chiến dịch lobby của mình từ năm 2005. Trong năm 2009, Google đã chi 4,03 triệu USD, đứng thứ 2 trong số các hãng công nghệ Mỹ sau Oracle với 5,1 triệu USD. Bắt đầu từ quý IV/2009, Google đã vượt lên dẫn đầu với các khoản chi trị giá 1,12 triệu USD trong khi Oracle chi 1,05 triệu USD.

Thực ra không chỉ một mình Google “tăng tốc”, tổng số tiền mà top 10 hãng công nghệ hàng đầu thung lũng Silicon đã chi cho hoạt động lobby từ 12,4 triệu USD trong năm 2005 lên 26,4 triệu USD trong năm 2009.

Đại diện của Google không nói cụ thể những vấn đề mà Google đã và đang vận động để được giải quyết là gì nhưng ông này cũng viện dẫn những ví dụ khác như các hãng viễn thông AT&T, Verizon hay Comcast… cũng đã chi tới 17 triệu USD trong năm 2009 từ mức 12 triệu USD của năm 2005.

“Đầu tư cho các hoạt động lobby không có gì là sai vì nó thể hiện các doanh nghiệp và chính phủ đã gần nhau hơn nhưng thật nguy hiểm nếu các hãng lạm dụng việc này để che mắt khách hàng cũng như dư luận”, tờ New York Times có lần đã bình luận và lấy dẫn chứng là dự án Google Books.

Lobby & technoloby (http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=164703)

LOBBY.VN
02-06-2010, 06:14 PM
Lobby - Hợp pháp hay bất hợp pháp ?

Chủ đề chính trị luôn được coi là khô khan, và thực tế là rất nhạy cảm khi nói chuyện hay đề cập đến. Với người Mỹ mới thì dễ dàng hơn, dễ hơn chỉ 1 chút thôi, khi họ có thể thốt lên: "I hate Bush!" (Tôi ghét ông Bush) còn những con người đến từ UK nhất là England, Scotland thì điều tốt nhất là nói chuyện thời tiết ở Iraq bây giờ thế nào, chứ không nên động tới vấn đề chính trị với họ. Bởi nếu bạn hỏi 1 người già đến từ Anh Quốc: "Thưa ông, ông nghĩ thế nào về thủ tướng Tony Blair ?" thì họ sẽ gạt mà rằng: "Tôi không thích nói đến chính trị" . Còn đối với một người thế hệ sau này của cả Mỹ hay Anh Quốc, bạn sẽ nhận được câu trả lời: "Tôi không biết, mà tôi cũng chẳng quan tâm!"

Bài báo được đăng trên BBC nói về nghề lobbist có 1 câu "Làm ăn với Mỹ phải biết lobby vì đó là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài." Nếu như trong cuốn từ điển kinh tế có thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith, thì trong chính trường, vị tổng thống thứ 4 của Mỹ năm 1809, một trong những người thành lập quốc gia giàu có nhất thế giới này, James Madison là người phổ biến 1 thuyết "bàn tay vô hình" khác mang đậm màu sắc chính trị

Lobby/Lobbying (tiếng Việt được dịch là ‘Vận động hành lang”) còn được gọi với 1 cái tên khác: 'Interest representation'. Với ngôn ngữ chuyên nghiệp của 1 nghề, tiếng Mỹ sử dụng thuật ngữ 'public affairs'. Lobby có thể hiểu đơn giản và rất đặc trưng là 1 "hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành 1 quyết định". Khái niệm Lobby và PR là 2 khái niệm tách rời, và không nên đánh đồng với nhau, cho dù chúng có cùng 1 đích: tạo ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ của 1 vấn đề nào đó. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là để thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định. Và người ta hoàn toàn có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby

Đối với Việt Nam, hoạt động của một Lobbyist còn khá xa lạ và nhiều khi còn được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Tài liệu từ Tổng cục 3 - Bộ Công an (VN) có viết "ở khu vực Đông Nam á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ." Tuy nhiên, có 1 thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần thì chúng ta cũng hiểu tại sao nhiều khi tưởng chừng như rất vô lý, chúng ta thậm chí còn chưa kịp đưa ra các bằng chứng chống kiện, thì quốc hội Mỹ đã thông qua dự thảo đánh thuế hàng hoá của Việt Nam. Lý do rất đơn giản: Các tổ chức tại Việt Nam lúc này chưa hề nắm rõ thị trường Mỹ và cũng đã không có 1 ý tưởng nào về việc thuê Lobbyist trong vụ kiện (Chi phí thuê Lobby cho dù là có khá lớn, nhưng thực chất không ăn thua gì so với thiệt hại khoảng 20 triệu USD từ việc Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đánh vào sản phẩm cá tra, basa đông lạnh). Trong khi đó, những tổ chức như Liên minh Tôm miền Nam (SSA) và Hiệp hội Tôm bang Lousiana (LSA), ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine, họ còn sử dụng hàng loạt các công ty chuyên hành nghề lobby nổi tiếng tại đây như Livingston, Jones Walker, Waechter, Poitevent&Denegre... để vận động các quan chức lưỡng viện Mỹ ủng hộ họ trong vụ kiện bán phá giá Việt Nam. Và họ đã thắng

Pháp luật Mỹ đã công nhận Lobby là một hoạt động chính thức hợp pháp và công khai. Lobby được điều chỉnh bởi Đạo luật Công khai vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act 1995 - LDA) (trong đó có quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả…”.), Bộ luật về ngân sách Liên Bang (Internal Revenue Code - IRC), và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act - FARA). Chuyên gia vận động hành lang (lobbyist) được hiểu là cá nhân đại diện cho khách hàng của mình được thực hiện việc tiếp xúc trực tiếp với các quan chức có thẩm quyền. Họ thường là các cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền tiểu bang hoặc liên bang, những người đã từng giữ các vị trí tại Hạ viện, Thượng viện Mỹ. Chính vì vậy, họ đã duy trì được mối quan hệ và uy tín để có thể thực hiện các hoạt động lobby. Lobbyist là 1 nghề tại Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), và với tư cách là 1 nghề, 1 lobbyist cũng bị buộc phải tuân theo những quy định hành nghề đặc trưng (thuật ngữ 'Codes of Conduct'). Những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới $50.000.Hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề từ hàng chục năm nay và được thông qua bởi Nghị viện châu Âu. Những người Mỹ có câu "Ở đây, chỉ có Toà án là không thể lobby mà thôi!"

Thời báo Sài Gòn (Saigon Times) viết: "Các cuộc vận động hành lang đóng vai trò rất lớn trong chính trường Mỹ. Tuy nhiên, chúng ta không nên rập khuôn theo bất cứ một khuôn mẫu nào bởi Việt - Mỹ có những nét đặc thù khác hẳn xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử riêng trong quan hệ hai nước. Phương châm mà chúng ta theo đuổi sẽ là tiếp xúc rộng rãi, chủ động tiếp cận và đối thoại thẳng thắn không né tránh kể cả với những nhân vật có quan điểm khác biệt." Lobby rõ ràng là nhu cầu thiết yếu trong phát triển chính trị và kinh tế, nhưng nếu rập khuôn của Mỹ hay bất kỳ nước nào khác, thì cũng chẳng khác gì việc chúng ta bê nguyên bộ giáo dục của Liên bang Nga thời trước vào Việt Nam

Một ví dụ điển hình của Lobby chính trị từ nước khác vào Mỹ là năm 1994, khi Tổng thống Mỹ lúc đó là Clinton trao quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho Trung Quốc, đồng thời tuyên bố: từ nay sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm. Việc lobby đó được thực hiện ở đâu ? Đầu thập niên 1990, thời điểm Trung Quốc bắt đầu nổi lên tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã bắt đầu tỏ ra lo ngại trước cái mà họ coi là "mối đe doạ từ Trung Quốc". Trong quan hệ với Trung Quốc, Mỹ thường xuyên dùng chiêu "nhân quyền" để gây sức ép về thương mại, cụ thể là đe doạ miễn áp dụng quy chế MFN. Theo điều luật sửa đổi của Tu chính án Jackson-Vanik áp dụng cho những nước hạn chế tự do di trú, Tổng thống phải xác định xem các nền kinh tế bị Mỹ coi là "phi thị trường" có cho phép tự do di trú không trước khi ban cho họ quy chế MFN. Có được MFN đồng nghĩa với việc được hưởng mức thuế quan thấp nhất ở Mỹ. Thời hạn của việc áp dụng MFN chỉ trong vòng 1 năm, nên cứ sau 12 tháng, Quốc hội Mỹ lại sẽ bỏ phiếu để quyết định xem có tiếp tục trao MFN cho các nước hay không. Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống, điều này không những gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc khi muốn vào thị trường Mỹ, mà đặc biệt cản trở các tập đoàn lớn của Mỹ khi muốn làm ăn tại Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu Lobby của Trung Quốc tại thời điểm này là "làm sao gây ảnh hưởng để Trung Quốc được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) tại cuộc bỏ phiếu hàng năm ở Quốc hội" và trước tiên "tập trung nhằm thuyết phục Quốc hội và chính quyền Mỹ tách vấn đề nhân quyền khỏi việc áp dụng MFN."

Chẳng phải ngẫu nhiên khi cùng lúc các lãnh đạo Boeing công khai lên tiếng yêu cầu chính quyền Mỹ tiếp tục dành cho Trung Quốc quy chế MFN (Wall Street Journal trước đó đã đưa tin hãng Boeing đang sắp hoàn tất hợp đồng bán máy bay chở khách trị giá khoảng 5 tỉ USD cho Trung Quốc), chủ tịch Hạ viện Tom Foley công khai "đối đầu" với các thành viên đảng Dân chủ tại Nhà Trắng khi tuyên bố rằng Tổng thống Clinton "không nên gắn vấn đề nhân quyền với thương mại". "Đó là hành động thách thức và đối đầu", ông Foley nói. Thực chất, Hạ nghị sĩ Foley đại diện cho vùng Spokane, bang Washington - quê hương của hãng Boeing. Về phía Trung Quốc, sau khi nhận được những tín hiệu tích cực mở đường ấy, nhiều đoàn đại biểu cũng đã sang thăm Mỹ để đẩy mạnh hoạt động hành lang. Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung (UCBC) thành lập năm 1973 với mục tiêu ban đầu là giúp đỡ những doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại Trung Quốc trong điều kiện hai bên chưa thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Thế nhưng mục tiêu của tổ chức này lúc đó là gì thì ai cũng hiểu, đó là kêu gọi liên kết giữa các tập đoàn của Mỹ và Trung Quốc trong việc lobby quy chế MFN. Tới năm 2005, số thành viên của Hội đồng đã lên tới gần 250 công ty và sẽ tiếp tục tăng mạnh do tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và những thách thức doanh nghiệp Mỹ phải đối mặt tại thị trường này. Trong số các thành viên chủ chốt của Hội đồng, có rất nhiều tập đoàn khổng lồ, nổi tiếng thế giới như Boeing, Intel, IBM, Coca Cola, HP, Morgan Stanley, AIG, Exxon, Erricson, Motorola....) Kết quả thì ai cũng rõ Trung Quốc giành được quy chế Tối huệ quốc năm 1994 với lời bảo của Clinton "sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm"!

Tại Mỹ, khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng và ổn định chung là thương lượng, qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, mỗi bên có lợi một ít, không bên nào được lợi hết, hoặc thiệt hết. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thỏa thì mới “đụng trận” đem nhau ra tòa, hay để cho một phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn kém chi phí cũng như thời gian. Muốn có được cái thế lực cần thiết để thủ thân thì cần phải có một chiến lược lobby ở tầm quốc gia (về mặt chính trị) và ở tầm doanh nghiệp / hiệp hội (về mặt kinh tế thương mại). Cựu chủ tịch Hạ viện Mỹ, ông Thomas O’Neil đã nói một câu mà sau này rất hay được các nhà chính trị và vận động hành lang sử dụng: “Chính trị là việc địa phương” (“All politics is local”). Ý nghĩa của câu nói này là các dân biểu bị áp lực trực tiếp và thường xuyên từ cử tri của mình, và phải ưu tiên phục vụ đòi hỏi của họ; nếu không thì sẽ thất cử, khi ấy cho dù người dân biểu có mục tiêu phục vụ lý tưởng tốt đến đâu cũng không có đất để hoạt động

Một đoạn từ BBC "Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay một cách bài bản và có hiệu quả khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không biết lo xa tất sẽ có buồn gần; cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn."

Mashimaro (http://webdoanhnhan.com/diendan/index.php?action= printpage;topic=1792.0)

thoidaianhhung
02-06-2010, 06:26 PM
Tìm hiểu về lobby

Lobby (danh từ): hành lang; hành lang ở nghị viện (a lobby politician : kẻ hoạt động chính trị ở hành lang, kẻ hoạt động chính trị ở hậu trường); (từ Mỹ,nghĩa Mỹ) nhóm người hoạt động ở hành lang (nghị viện). Động từ lobby: (từ Mỹ,nghĩa Mỹ) vận động ở hành lang (đưa ra hoặc thông qua một đạo luật ở nghị viện); hay lui tới hành lang nghị viện; tranh thủ lá phiếu của nghị sĩ

Khái niệm "lobby" hiểu theo nghĩa đơn giản là “vận động hành lang” - là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích - hay nhóm gây áp lực. Lobby cũng có thể được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định - gây tác động đến các quan chức có thẩm quyền hoặc có thể mang một nghĩa rộng hơn thế nữa

Đây là một nghề được giới thượng nghị sỹ Mỹ lựa chọn sau khi nghỉ hưu và là một nghề khá phổ biến ở các nước phát triển

Quy định của pháp luật Mỹ

Về cơ sở pháp lý, Lobby được điều chỉnh bởi Đạo luật Công khai vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act 1995 - LDA), Bộ luật về ngân sách Liên Bang (Internal Revenue Code - IRC), và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act - FARA)

Hiến pháp Mỹ năm1787 trong bản sửa đổi đầu tiên, bằng việc khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và yêu sách hoà bình, đã cung cấp các cơ sở pháp lý cho cái gọi là “những nhóm lợi ích đặc biệt”. Theo đó, bất cứ một nhóm nào cũng đều có quyền yêu cầu các quan điểm của họ phải được sự lắng nghe của công chúng, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và các toà án. Đến năm 1946, Luật về nhóm gây áp lực được thông qua. Đến năm 1995, Quốc hội Mỹ đã biểu quyết chấp thuận một đạo luật mới quy định thể lệ hành nghề vận động hành lang để thay thế đạo luật năm 1946


Chính thức là vào ngày 09/12/1995, Tổng thống Mỹ đã ký ban hành Đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) - điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động lobby cả trong và ngoài nước Mỹ và quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả…”. Luật này đã có những quy định hạn chế cho những người làm lobby. Chẳng hạn, luật cấm các thượng nghị sỹ và nhân viên văn phòng thượng viện không được nhận quà hoặc chiêu đãi đáng giá trên 100 đô la mỗi người mỗi năm, cấm không được tham dự những chuyến đi giải trí do tư nhân đài thọ. Tuy nhiên, thể lệ về quà cáp và chiêu đãi cũng có tới 24 trường hợp ngoại lệ. Luật mới cũng buộc những người làm lobby mỗi năm phải báo cáo với nhà nước hai lần về số tiền họ nhận của các công ty, nhận để làm gì và thân chủ của họ là ai; và quy định rằng, bất cứ ai được trả tiền để vận động các nhà lập pháp và các quan chức chính phủ đều được coi là người làm lobby, nếu người ấy dùng ít nhất 20% thì giờ của mình để đại diện cho thân chủ trong mỗi thời gian sáu tháng. Luật cũng yêu cầu, cả những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới 5 vạn đôla

Hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề (được thông qua bởi Nghị viện châu Âu) từ hàng chục năm nay

Các nhóm lợi ích

Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. Các nhóm lợi ích, về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Do đó, các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng, nhiều nhóm có lợi ích đối lập nhau và thậm chí có mâu thuẫn với lợi ích của cả bản thân nước Mỹ

Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế. Theo Madison, một trong những người sáng lập nền cộng hoà Mỹ, “nguồn gốc lâu đời và phổ biến nhất tạo nên các phe phái là ở sự phân chia khác nhau và không công bằng của cải”. Cho đến ngày nay, các tổ chức về thương mại, kinh doanh và nghề nghiệp là những tổ chức đông đảo và có thế mạnh hàng đầu trong số các nhóm lợi ích ở Mỹ; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, đòi quyền bình đẳng của phụ nữ trong bầu cử…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Đặc biệt, khi chính phủ mở rộng các hoạt động của mình thì đồng thời cũng xuất hiện thêm các nhóm lợi ích để gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ nhằm nâng cao lợi ích của họ. Chẳng hạn như sự ra đời của các tổ chức hưu trí, cựu chiến binh, hay cả những nhóm lợi ích thuộc chính phủ như Liên hiệp quốc gia các thành phố, Liên đoàn các thị trưởng Mỹ, Hội đồng chính phủ các bang…; thứ tư, các nhóm lợi ích ra đời cũng nhằm đối phó với những quy định của chính phủ. Khi có thêm các công việc kinh doanh và nghề nghiệp hoạt động dưới sự điều hành của nhà nước, nhiều tổ chức mới lại ra đời để bảo vệ những lợi ích của họ. Các nhóm lợi ích này thường là những hiệp hội nghề nghiệp có hiểu biết sâu về lĩnh vực của mình. Trong số này, có những nhóm lớn và mạnh như Hiệp hội y tế Mỹ, Hội luật gia Mỹ, Hiệp hội quốc gia các đài phát thanh…

Sự phát triển hết sức nhanh chóng của các nhóm lợi ích này có thể được giải thích bởi sự đa dạng về mặt xã hội và sắc tộc ở Mỹ. Việc đánh giá vai trò và tác động của các nhóm lợi ích là hết sức khác nhau, tuỳ theo đối tượng, lĩnh vực và trường hợp cụ thể. Nhìn tổng thể, các nhóm lợi ích đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Đối với các nhóm lợi ích có tổ chức, hoạt động vận động diễn ra liên tục, nhằm vào tất cả các cơ quan quyền lực của chính quyền và theo đuổi các mục tiêu của họ bằng tất cả những cách thức có thể. Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các uỷ ban hành động chính trị (PAC)

Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Liên đoàn các trang trại (Farm Breau Fedaration); Tổ chức công đoàn AFL - CIO; Hiệp hội các nhà chế tạo quốc gia (National Farmers Union); Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union); Liên đoàn toàn quốc của những người đóng thuế (Natinonal Taxpayers Union)… Các nhóm quyền lợi này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Điều này thường dẫn đến sự hình thành liên minh giữa các nghị sỹ của hai đảng có chung lợi ích để vận động và thông qua các dự luật có liên quan.

Lobbyist - Họ là ai ?

Lobbyist (Chuyên gia vận động hành lang) được hiểu là cá nhân đại diện cho khách hàng của mình được thực hiện việc tiếp xúc trực tiếp với các quan chức có thẩm quyền. Họ thường là các cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền tiểu bang hoặc liên bang, những người đã từng giữ các vị trí tại Hạ viện, Thượng viện Mỹ. Các thượng nghị sỹ Mỹ sau khi nghỉ hưu 1 năm có thể làm nghề Lobby. Chính vì vậy, họ đã duy trì được mối quan hệ và uy tín để có thể thực hiện các hoạt động lobby.
Các chuyên gia và tổ chức lobby chuyên nghiệp tại Mỹ được khuyến khích đăng ký hoạt động chính thức. Họ phải thực hiện chế độ báo cáo hai lần một năm về các nội dung hoạt động và vụ việc mà mình tham gia. Riêng đối với các hoạt động lobby đại diện cho các chính phủ nước ngoài, theo quy định của FARA, phải báo cáo trực tiếp cho Bộ Tư Pháp Mỹ

Chuyên gia lobby hoạt động nhằm gây ảnh hưởng, tác động đến các quan chức, những người có thẩm quyền; các hoạt động chuẩn bị lên kế hoạch, nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ để thực hiện một mục đích nào đó...

Các lobbyist làm gì để gây ảnh hưởng? Họ tiếp xúc với các đối tác, các quan chức... mời đối tác đến những nhà hàng sang trọng nhất, mời đi hội thảo nước ngoài, phát các hồ sơ kỹ thuật, thi thoảng gọi điện thoại, hay bất chợt đến văn phòng làm việc tặng quà, mời các quan chức giữ vai trò cố vấn cho công ty...

Nghề Lobby và lợi ích mang lại từ công nghệ Lobby

Nguyên nhân của sự ra đời, tồn tại và không ngừng phát triển của nghề lobby ở Mỹ là chế độ đa đảng phái và các quy định liên quan đến hoạt động lập pháp của nghị viện gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ

Pháp luật Mỹ công nhận đây là một hoạt động chính thức hợp pháp và công khai. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh

Trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại, “đồng thời cũng góp phần làm suy yếu các đảng phái chính trị”. Trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, lobby Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang tính chất xã hội. Nhưng xét về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của lobby cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Hoa Kỳ

“Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình”. Tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc của tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của tư bản. “Nói cách khác, tư bản đã bỏ tiền ra để sắp đặt người làm việc nhà nước…, đôn đốc, theo dõi xem những người đó có phục vụ đúng quyền lợi của tư bản không”. Ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề làm công nhân viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Tại đây, hiện có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề này và đội ngũ ngày càng thêm đông đảo. Năm 1981 có 5.662 người làm lobby đăng ký hợp pháp tại Văn phòng thượng viện, đến năm 1986 đã lên tới hai vạn người, chưa kể thủ phủ các bang và các thành phố trong cả nước. Trong đội ngũ lobby, một số không ít là luật sư (ở Washington cứ 40 người dân thì có một người là luật sư) và những cựu quan chức chính phủ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger có thời kỳ làm lobby cho nước Nhật, cựu Bộ trưởng lục quân Clifford Alexander làm lobby cho một tập đoàn đầu tư… Những tổ chức doanh nghiệp, công nghiệp hoặc những công ty càng lớn thì đội ngũ lobby của họ càng mạnh

Về hình thức hoạt động, lobby không phải ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Ngoài việc chiêu đãi tiệc tùng liên miên, đưa các nghị sĩ đi chơi đâu đó bằng máy bay riêng hay mời dự hội thảo, hội nghị, những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. “Cái tục lệ dùng tiền bạc để vận động tranh cử và vận động làm luật này, luật khác, xét về bản chất, có thể sánh với tục “mua quan bán tước” trong thời phong kiến. Nó gây nhiều lạm dụng, tệ đoan và tai tiếng”. Bởi vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của những kẻ “đổi chác mua bán quyền thế ” ở thủ đô Washington. Từ những kẻ chạy vòng ngoài chiêu đãi công nhân viên nhà nước ở cấp thấp, cho đến những người có vây cánh giao dịch mật thiết và kín đáo hoặc công khai với những thượng nghị sĩ và các thành viên nhà nước cấp cao

Ở Mỹ, những lobby nhiều tiền và do đó nhiều thế lực nhất là những lobby đại diện cho các tập đoàn tư bản, tiêu biểu là:

Lobby công nghiệp quốc phòng: Có sức mạnh vô địch, chi phối Quốc hội và nhà nước. Nó đại diện cho đông đảo các công ty và các nhà thầu cực lớn, cung cấp máy bay, tàu chiến, súng, bom và mọi thứ hàng cần thiết cho quân đội Mỹ. Trong suốt thời gian của cuộc chiến tranh lạnh, đông đảo các nghị sỹ của cả hai phe đã liên hệ mật thiết với lobby của các công ty này. Trong kỳ tổng tuyển cử 1987 - 1988, những uỷ ban hành động chính trị của các công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng đã ủng hộ trên 7 triệu đô la tiền cứng, tức là tiền ủng hộ trực tiếp cho các cá nhân là ứng cử viên Thượng viện và Hạ viện.

Lobby dầu khí: Sức mạnh chỉ sau lobby công nghiệp quốc phòng. Sau cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990, lobby dầu khí vận động nhà nước có chính sách bao cấp để gia tăng sản xuất dầu khí trong nước nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.

Lobby phục vụ nước ngoài: Những người làm lobby phục vụ quyền lợi của chính phủ nước ngoài phải đăng ký hoạt động với nhà nước Mỹ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Công việc của họ trên hai phương diện: Cố vấn cho chính phủ nước ngoài về chủ trương, chính sách và xu thế của nhà nước Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến hai nước; vận động để Quốc hội và Tổng thống Mỹ theo đường lối hợp với nguyện vọng của chính phủ nước ngoài mà người làm lobby phục vụ. Trong lịch sử và hiện tại, rất nhiều chính phủ là khách hàng của các lobby Mỹ như Trung Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, ăng-gô-la, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Ở Châu Âu, phải nói rằng hoạt động lobby phát triển mạnh mẽ nhất tại Bruxellers (Bỉ). Từ khi Liên minh Châu Âu chọn nơi này làm trụ sở, Bruxellers trở thành “miền đất hứa” đối với các lobbyist, bởi các công ty biết rằng nhất cử nhất động ở đây dều ảnh hưởng tới tương lai, tới chiến lược hoạt động lâu dài của họ. Các lobbyist sẽ hoạt động dưới những cái tên như: văn phòng đại diện báo chí, tư vấn, tìm hiểu thị trường, luật... Theo thống kê, hiện có khoảng 1000 nhà báo nước ngoài, 3000 hãng lobby các loại (văn phòng giao tế nhân sự, đại diện của các doanh nghiệp, liên đoàn nghề nghiệp...) với số nhân viên khoảng 15.000 người. Riêng số lobbyist ở Bruxelles đã tương đương với số nhân viên của EU. Điều này cho ta thấy các doanh nghiệp, các nước quan tâm đến hoạt động lobby như thế nào. Về lý thuyết, thể chế của Châu Âu hoạt động trên cơ sở công khai, mọi quyết định đều phải được 15 nước thành viên với hơn 600 dân biểu thông qua trước bàn dân thiên hạ; nhưng thực tế các cuộc vận động hành lang của các lobbyist có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định này.

Đơn cử như Pháp đã phải trả giá cho việc không quan tâm đến công nghệ lobby là việc hàng đống hồ sơ làm ăn của các công ty Pháp vẫn ằm phủ bụi trên bàn của các quan chức EU. Hay Scheider Electrics lên tiếng rằng học thiệt hại vài tỷ euro vì các quan chức Bruxelles không cho học sát nhập với Legrand vào năm 2001

Người Anh thì rất hài lòng với hoạt động lobby của họ tại Bruxellers. Họ có 2 công ty tư vấn là Hill & Knowton và Busson Marsteller; về luật thì có Cleary Gottlieb, Linklaters.

Qủa là lợi ích do lobby mang lại cực kỳ to lớn do vậy mà ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cu Ba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam…

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các hoạt động lobby nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ.

“Ở khu vực Đông Nam Á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Cam-pu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ”. Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ được hưởng quy chế “tối huệ quốc”, để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế, thương mại, vấn đề mua vũ khí và kỹ thuật cao của Mỹ… Bên cạnh những hoạt động lobby của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước này cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty đó ở Mỹ

Được biết trong vụ kiện tôm, Thái Lan đã phải chi khoảng 2 tỷ USD cho việc thuê các công ty lobby của Mỹ. Cũng trong vụ kiện bán phá giá tôm, Liên minh tôm miền nam (SSA) và Hiệp hội tôm Lousianna (LSA) ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine còn sử dụng hàng loạt các công ty khác như: Livingston, Jones Walker, Poievent & Denegre để tổ chức các hoạt động lobby nhằm tạo sự ủng hộ trong vụ này.

Hoạt động lobby ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, tại các thành phố lớn, chúng ta đã ít nhiều nghe nói đến hoạt động PR (Public Relations – Quan hệ công chúng), tuy nhiên, các hoạt động lobby còn quá xa lạ và nhiều khi được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Lobby và PR đều là hai hoạt động giao tiếp nhằm tạo nên ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là nhằm thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định. Điều này đồng nghĩa với việc người ta có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby.

Theo bà Maria Laptev - nhà lobby chuyên nghiệp có hai quốc tịch Anh và Canada – trong một lần trao đổi với báo giới Việt Nam (TBKTVN) – đã chỉ ra rằng công việc lobby chính là phương pháp tiếp cận, cụ thể hơn đó chính là phương pháp tiếp cận một cách có hệ thống giữa hai hay nhiều bên. Theo đó mục tiêu cuối cùng là quá trình xây dựng chính sách. Tuy nhiên, quá trình đưa ra quyết định ở các nước khác nhau lại dựa trên những yếu tố văn hóa rất khác nhau. Và bà cũng khẳng định rằng khía cạnh văn hóa trong lobby là vô cùng quan trọng, quyết định tạo nên một cách tiếp cận hiệu quả hay không. Các quy định hành nghề lobby cần phải dựa trên tính minh bạch và tất cả các lobbyist cần phải biết mình đang đại diện cho ai và vì lợi ích của ai. Tính minh bạch trong lobby là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng lòng tin và tạo ra một nhà lobby chân chính. Để có được một quan hệ có giá trị và bền vững, cả hai bên đều rất rõ ràng và cởi mở về mục tiêu và lợi ích của mỗi bên. Việc xây dựng một hành lang pháp lý đương nhiên phải dựa trên nhu cầu và phải có sự chuẩn bị và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, như thế mới đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng có liên quan. Bà cho rằng thực tiễn của hoạt động lobby tại VN đã có rồi và theo những cách rất riêng, với một hoạt động chưa có những quy định hành nghề thì không tránh khỏi những hiểu sai và cách tiếp cận vấn đề sai. Trước tiên cần phải có những quy định hành nghề đã, còn việc tạo ra những văn bản pháp lý hay bộ luật sẽ là công việc phải làm sau khi công nhận nó là một nghề.

Thực tế, qua vụ kiện bán phá giá cá basa và vụ kiện bán phá giá tôm, các luật gia cho rằng, ý nghĩa đích thực của các hoạt động lobby cần được hiểu rõ để có thể áp dụng. Chúng ta không thể đứng ngoài xu thế hội nhập, và dĩ nhiên để có chỗ đứng ở thị trường nước ngoài, chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam có lẽ đã đến lúc cần phải quan tâm nhiều hơn đến điều này


HTH (http://my.opera.com/hathihong/blog/t)

LOBBY.VN
02-17-2010, 09:36 PM
Doanh nghiệp Việt trong “Thế giới phẳng”


- Trong cuốn “Thế giới phẳng”, cuốn sách gối đầu giường của doanh nhân, chính trị gia và các nhà nghiên cứu quốc tế, thông điệp của Thomas L. Friedman với độc giả là: toàn cầu hoá là xu hướng khách quan, đó chính là quá trình thu hẹp mọi khoảng cách, phá vỡ dần mọi rào cản - quá trình làm phẳng thế giới. Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam (DNVN), cũng đồng nghĩa với việc phải thích nghi với một thị trường toàn cầu với luật chơi quốc tế. Trước khi tận dụng được những cơ hội của toàn cầu hoá, DN phải biết đối phó với những thách thức của quá trình làm phẳng thế giới.

Sai một ly, đi một dặm

Hơn 15 năm làm công tác xuất nhập khẩu khẩu, đã từng đàm phán với các đối tác của hơn 20 quốc gia khác nhau nhưng ông Trần Bình Duyên, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty Dược Trung ương Mediplantex cho đến giờ vẫn không thể quên bài học “xương máu” đối với doanh nghiệp ông trong khi làm ăn với đối tác nước ngoài cách đây không lâu.

Ông Duyên kể, vì tin cậy nên Công ty đã ưu tiên cho một đối tác nước ngoài -tự “lựa chọn” phương thức thanh toán. Lúc đó, đối tác chọn phương thức thanh toán điện chuyển tiền, chứ không thanh toán theo phương thức L/C. Không may, khi thực hiện hợp đồng lớn này, đối tác mất khả năng thanh toán, giá trị hợp đồng lại lên tới hàng triệu USD. Hậu quả là Công ty Dược Trung ương Mediplantex mất quá nhiều thời gian và chi phí cho việc theo kiện và chỉ đòi lại được một phần giá trị hợp đồng.

Có thể thấy, câu chuyện kinh doanh thời hội nhập bây giờ sẽ hoàn toàn khác trước. Nguyên Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan đã từng nói: “DN hội nhập giống như con thuyền ra khơi mà ra khơi phải biết thời tiết sẽ như thế nào? Chính vì thế, DN không chỉ cần thu thập và hiểu rõ thông tin thị trường, bạn hàng, mà còn phải hiểu rõ luật pháp quốc tế, đặc biệt là tập quán kinh doanh, “luật chơi” của nước sở tại nhằm tránh rủi ro“.

Theo ông Emmanuel Moulin, luật sư điều hành của hãng luật Ngo, Miguérès & Associés, khó khăn lớn nhất mà các DNVN gặp phải hiện nay là khả năng thích nghi với thị trường quốc tế. “Lấy ví dụ việc xuất khẩu gạo của VN sang Nga chẳng hạn. Mặc dù Nga chưa gia nhập WTO, nhưng nước này lại áp dụng các qui định nhập khẩu gạo như của WTO. Theo qui định của WTO, bất kỳ nước thành viên WTO nào cũng có quyền quyết định cấm nhập khẩu mặt hàng nào đó, cụ thể là gạo, nếu thấy không an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì thế, khi các DNVN xuất khẩu vào thị trường Nga, cần nắm rõ các qui định này” - ông Emmanuel Moulin nói.

Ý tưởng mới là nhân tố quyết định

Lâu nay, không ít doanh nhân vẫn nghĩ: vốn liếng, công nghệ, mặt bằng, lao động là những yếu tố kinh doanh quan trọng nhất. Nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, những ý tưởng kinh doanh mới lạ, độc đáo còn quan trọng hơn nhiều.

Ví dụ, sau khi 2 hãng nước giải khát có gas lớn của thế giới thâm nhập vào thị trường VN là Cocacola và Pepsi thì sản phẩm có gas của công ty nước giải khát Sài gòn Tribeco không thể cạnh tranh được với sản phảm của 2 hãng này. Một thời gian sau, Tribeco quyết dịnh thay đổi nước uống có gas bằng các đồ uống khác hẳn như: sữa đậu nành đóng chai, các loại nước trái cây.... Và rõ ràng, sự khác biệt này đã giúp Tribeco có chỗ đứng ở thị trường trong nước và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Một ví dụ khác là cho đến thời điểm này, Phở 24 đã là một thương hiệu nổi tiếng của Tập đoàn An Nam. Giám đốc Tập đoàn này, ông Lý Quí Trung đã thành công khi lựa chọn mô hình bán loại đồ ăn giữa phân đoạn quán phở bình dân và nhà hàng sang trọng, điều chưa từng có trên thị trường. Chính sự lựa chọn độc đáo này đã giúp phở 24 có được một thị phần đáng kể, và quan trọng là cho đến giờ vẫn chưa có đối thủ cạnh tranh.

Kinh doanh cũng phải lobby

Với thế giới, thuật ngữ lobby (vận động hành lang) không mới, nhưng còn lạ lẫm với nhiều DN, doanh nhân VN. Thực tế là khi chinh phục thị trường quốc tế, các DN sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là những rào cản thương mại. Những vụ kiện bán phá giá cá da trơn, tôm vào thị trường Hoa Kỳ hay da giày vào thị trường EU... đã dạy cho các nhà quản lý VN rất nhiều bài học quí. Theo Tổng lãnh sự VN tại Francisco (Mỹ) - ông Trần Tuấn Anh, “lobby” cần phải đi trước một bước. Đặc biệt là ở Mỹ, nếu không lobby thì sẽ không bảo vệ được lợi ích của quốc gia, lợi ích của DN. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái lan, Philipin, Mailaysia… đều cho thấy Lobby là công cụ tối quan trọng. “Tất nhiên, lobby có nhiều cách và chúng ta phải làm một cách bài bản và cần phải làm thường xuyên và liên tục cả một quá trình, chứ để xảy ra chuyện bán phá giá hay sự cố, DN mới tiến hành lobby thì chẳng khác gì nước đến chân mới nhảy” - ông Trần Tuấn Anh nói.

Còn ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội thêu đan TP.HCM cho biết: “Liên quan đến cơ chế giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam mà Mỹ hiện đang áp dụng, Hiệp hội dệt may Việt Nam đã có một số hoạt động Lobby, cụ thể là đã gửi một bản điều trần tới Nhóm phụ trách giám sát bên Hoa kỳ; Hiệp hội dệt may VN cũng đã gửi người tham gia điều trần trực tiếp đối với Uỷ ban thương mại Hoa kỳ, chúng ta cũng liên tục thông tin về những bấtt hợp lý của cơ chế giám sát trên phương tiện thông tin đại chúng… Chúng tôi cũng tác động đến Hiệp Hội DN nhập khẩu Hoa Kỳ, và Hội người tiêu dùng Hoa Kỳ để họ hỗ trợ tác động tới Chính phủ Hoa Kỳ trong vấn đề chống giám sát này”

LOBBY.VN
02-17-2010, 09:41 PM
Lobby, một nghề ngoài tầm tay chúng ta ?


Ở Hoa Kỳ, lobby tức là nghề vận động hành lang (VĐHL) được coi là hợp pháp. Chúng ta cứ tập gọi “lóp bi” cho tiện bởi vì nếu dịch ra tiếng Việt rất là dài dòng.

Lương căn bản của nghề này khoảng $47.983/năm. Người ta ước tính hơn 10% trong tổng số những người hành nghề này kiếm nhiều hơn $100.000/năm. Người mới vào nghề tại các công ty tư nhân (private firm) cũng suýt soát gần $40.000/năm.

Theo đài truyền hình PBS gần đây, hiện nay có khoảng 37 ngàn người hành nghề lobby ở Thủ đô Washington.

Có người cho lobby là một hình thức “hối lộ”. Nhận xét này không đúng mà cũng không sai. Bởi vì nếu đúng là hối lộ, chắc chắn những người Mỹ sống bằng nghề này đã bị tù.

Chúng ta thấy Tổng thống Richard Nixon bị buộc phải từ chức về vụ Watergate. Tổng thống Bill Clinton bị thẩm vấn về vụ Monica Lewinski. Gần đây nhất, Thống đốc tiểu bang Illinois, Rod Blagojevich bị Thượng viện bang truất phế vì mưu tính hối mại chức quyền…

Trong khi đó, Tổng thống George H.W. Bush Senior sau khi rời khỏi Tòa Bạch Ốc, ông được công ty Carlyle Group mời làm cố vấn với đồng lương cao. Tưởng cũng nên nhắc lại, tập đoàn Bin Laden của Saudi Arabia có phần hùn trong công ty này. Lúc đó, chính phủ Saudi Arabia đã chi hơn 170 tỷ USD để mua vũ khí của Mỹ qua trung gian Carlyle Group.

Cũng thế, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara sau khi rời khỏi chức vụ, hai tháng sau đó ông được bổ nhiệm chức Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (Work Bank). Vì thế, viên chức cao cấp ở Mỹ không còn giữ chức vụ, chưa phải là hết cơ hội hái ra tiền.

Ở đất nước này, đại đa số viên chức hay những nhà lập pháp đương quyền hầu như không bao giờ họ nhận quyền lợi hay tặng phẩm từ nhóm lobby. Và ai là người cần đến vận động hành lang (lobby) để thông qua luật lệ có lợi cho họ? Thường là những công ty hay tập đoàn đấu thầu các dịch vụ liên quan đến quốc phòng, họ mới bỏ tiền ra trả lương cho những công ty hay văn phòng chuyên về vận động hành lang.

Hiện nay, tổ chức Organizing for America cho biết các công ty bảo hiểm sức khỏe đã bỏ ra hàng trăm triệu đô la để lobby ở Quốc hội và Thượng viện với hy vọng giết chết dự luật cải tổ y tế do Tổng thống Barack Obama đề nghị.

Trong tổng số 37 ngàn người nói trên, sống bằng nghề này, không biết có người Việt Nam nào không. Ngoài ra, cũng có những hình thức lobby khác nữa, có lẽ rất ít người Việt Nam ở Mỹ quan tâm tới

LOBBY.VN
02-25-2010, 07:15 AM
Hé lộ thêm về người từng 'làm mưa làm gió' ở Washington

Nhờ có nhân vật “hảo tâm” này mà nước Mỹ có một nguồn cung cấp dồi dào và ổn định cho các chiến dịch tranh cử, các cuộc du ngoạn tới Caribbe của những nhà lập pháp và các khoản chi phí cho những tổ chức vận động hành lang.

Đó chính là tỷ phú bang Texas R. Allen Stanford, người bị buộc tội gian lận thuế lên đến 8 tỷ USD hồi năm ngoái.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images1926792_thutrang.jpg
Allen Stanford (trái) và Barack Obama khi còn là Thượng nghị sĩ


Theo hồ sơ, nhà tài phiệt người Mỹ này cùng với các chi nhánh của công ty mình đã bỏ ra hơn 5 triệu USD để trả các khoản phí cho hoạt động vận động hành lang từ năm 2002.

Vị doanh nhân này và ban lãnh đạo công ty cũng đã đóng góp ít nhất là 2 triệu USD cho các ứng cử viên bao gồm các nhà lập pháp chủ chốt và thêm hàng ngàn đôla hỗ trợ chi phí máy bay và nghỉ ngơi tại các khu nghỉ dưỡng.

Từ các cuộc phỏng vấn với những chuyên gia vận động hành lang thì mục tiêu chính của Stanford trong mấy năm qua là giảm tối đa các khoản thuế phải nộp tại Sở Thuế vụ (IRS).

Cũng theo những người này, trong vài năm vừa qua, Stanford đã chuyển đến St. Croix ở Virgin Islands vận động hành lang để bảo vệ và mở rộng thêm các quy định về thuế nhằm cho phép ông này chỉ phải nộp thuế thu nhập ở mức tối thiểu của liên bang.

Trong khi đó, các đồng minh của ông này tại Quốc hội cũng đã cố gắng để lo liệu việc “tấn công” vào các quy định, tuy nhiên cho đến nay những nỗ lực đó đã không thành công.

Trong số những người nhận được sự “hào phóng” của Stanford có Chủ tịch Ủy ban Tài chính và Thuế vụ Charles Rangel. Rangel là người đã có chủ trương ủng hộ chính sách nới lỏng thuế đối với những cư dân ở Virgin Islands trong một thời gian dài.

Trong năm 2007, Rangel đã đưa ra một dự luật nhằm thi hành một quy chế là giới hạn việc giám sát của người dân với những khoản thuế thu nhập đã nộp. Cũng năm đó, Rangel đã tới Antigua tham dự một hội nghị nhằm phát triển các quỹ tài trợ của Stanford.

Và đến năm 2008, Rangel được trao tặng một phần thưởng hậu hĩnh là 28.300USD. Tuy nhiên, ông Rangel khi được hỏi đã nói rằng: “Tôi đã gặp Stanford vài lần, người này không bao giờ trao đổi về bất kỳ vấn đề pháp lý nào với tôi và cũng chưa từng có đại diện nào của ông ta bàn tới các vấn đề này”.

Vào năm 2002, Stanford đã ký hai tờ séc trị giá 250.000USD gửi cho đảng Dân chủ. Ông này cũng là một nhà tài trợ cỡ bự cho Gregory Meeks, một thành viên của Ủy ban Dịch vụ tài chính nhà đất chuyên giao dịch với các ngân hàng nước ngoài.

Gregory đã nhận được một khoản ước tính khoảng 17.600USD từ một quỹ quyên góp do Stanford đứng đầu được tổ chức tại Virgin Islands vào tháng 7. Theo những thông tin tài chính được tiết lộ, chiến dịch của Meeks sau đó đã hoàn trả cho các nhà tổ chức sự kiện 3.591USD phí thực phẩm và đồ uống.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images1926817_Sir_Allen_Stanford___.jpg
Tỷ phú Allen Stanford

Từ năm 2003 đến năm 2006, cứ đến tháng Giêng là Meeks cùng vợ lại có một chuyến “công tác” đến Caribbe. Theo hồ sơ liên bang cung cấp, những chuyến đi đều đã được chi trả thông qua hội đồng kinh tế các nước Bắc - Nam Mỹ, một tổ chức mà nhân vật đứng đằng sau không ai khác chính là Stanford.

Chuyến công tác đầu tiên với mục đích là “thâm nhập thực tế”, chuyến đi tiếp theo là để tham dự hội nghị bàn tròn giữa các doanh nghiệp. Trong các chuyến đi này, chi phí khách sạn và những bữa ăn lên đến hơn 2.000USD. Và có ít nhất 1 lần, việc đi lại là do máy bay của Stanford đảm nhận.

Chính ông Meeks từng nói: “Tôi chỉ có thể nói rằng Allen Stanford luôn luôn đối xử với tôi rất công bằng, tử tế và thẳng thắn. Tôi không hiểu chuyện điều tra này là về cái gì, nhưng nếu có ai hỏi tôi về người này, thì tôi xin nói rằng, đây là một người giàu có và tốt bụng luôn luôn giúp đỡ mọi người".

Theo hồ sơ vận động hành lang, tập đoàn tài chính Stanford còn tặng 10.000USD cho đại hội bóng chày vào tháng 7, một sự kiện được tổ chức hàng năm nhằm quyên góp cho các họat động từ thiện.

Cũng theo hồ sơ này, trong danh sách những người ủng hộ Standford còn có chuyên gia vận động hành lang và gây quỹ của đảng Dân chủ ở bang Texas, Ben Barnes, với chi phí lên tới 1,125 triệu trong suốt hơn 2 năm qua.

Trong quá trình vận động hành lang cho tập đoàn tài chính Stanford, Barnes cho biết ông làm việc vì mục tiêu “phát triển kinh tế cho Caribbe, đặc biệt là Virgin Islands”. Luật thuế mà Stanford vận động hành lang cho phép người dân ở Virgin Islands chỉ phải nộp thuế ở mức 3,5% và được giải thích rằng đây là một biện pháp phát triển kinh tế cho vùng đất này.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông Banes đã nói rằng, ông đã hỗ trợ cho Stanford trong việc thiết lập một mối quan hệ với văn phòng chính phủ Washington về rất nhiều vấn đề phát triển kinh tế khác nhau ở Caribbe.

Trong số những vấn đề đó, ông cho biết, Stanford đã không thành công trong việc thay đổi các quy định về thuế thu nhập từ nước ngoài của mình, bao gồm cả mức thuế suất thấp áp dụng cho cư dân đảo Virgin.

Ông Barnes cũng cho biết thêm, ông không hề có mối liên hệ nào đến các hoạt động kinh doanh của Stanford, mặc dù ông và Stanford đã làm bạn với nhau hơn 20 năm rồi.

Stanford đang chống lại án phạt của IRS về số tiền thuế phải hoàn lại lên tới hơn 20 triệu USD và hình phạt cho những vi phạm trong năm 2000 và 2001, theo tài liệu trong hồ sơ thuế tại Tòa án Thuế vụ ở Washington, DC.

IRS cũng đang truy thu tiền thuế từ khoản lợi nhuận 150 triệu USD mà Stanford thu được từ Ngân hàng Quốc tế Stanford trong 2 năm đó. Larry Campagna, luật sư của ông, cho biết rằng, thân chủ của mình chống lại những lời buộc tội kia.

Một trong những người được hưởng sự ưu đãi nhiều nhất từ Stanford là Thượng nghị sĩ Bill Nelson với số tiền 43.000USD và nghị sĩ Pete Sessions với 39.000USD. Nelson nói rằng, ông sẽ tặng số tiền đó cho quỹ từ thiện.

Còn ở cấp bang, người nhận trợ giúp lớn nhất từ Stanford là cựu Thống đốc bang California Gray Davis. Stanford đã hỗ trợ cho chiến dịch năm 2002 của ông này 200.000USD và thêm 100.000USD để giúp ông ta tái đắc cử trong lần bỏ phiếu năm tiếp theo.

Cả hai ông Sessions và Davis đã không hề có bất kì phản ứng nào khi được yêu cầu đưa ra ý kiến của mình trước giới truyền thông.

Minh Thu (theo Wall Street Journal)

thoidaianhhung
03-11-2010, 04:41 PM
Welcome to the American League of Lobbyists

Welcome to American League of Lobbyists website. We are the preeminent national organization that represents government relations and public affairs professionals. Our mission is to "enhance the development of professionalism, competence and high ethical standards for advocates in the public policy arena, and to collectively address challenges which affect the First Amendment right to 'petition the government for redress of grievances.'"

As professional lobbyists, we perform a tremendously important service not only to our employers and clients but also to the public at large, in an ethical, legal and Constitutional manner. ALL members adhere to a principled Code of Ethics that focuses on promoting the highest level of ethical lobbying in the country. Additionally, the League stresses the importance of continued education of the lobbying community by promoting the Lobbying Certificate Program which helps those of all skill levels improve their knowledge of the legislative process and lobbying profession.

Over the next year, the American League of Lobbyist we will be working to educate people on the lobbying process, and why every American should be an advocate at some level. The government is too immense and complex, which makes it difficult for decision-makers to clearly see an issue from all vantage points and to identify the best course of action. Lobbyists serve as educators and information envoys to help legislators and the administration make informed and logical decisions. Lobbyists represent every walk of life in an effort to make sure their voices and issues are heard by decision makers.

The American League of Lobbyists believes that through transparency, continued ethical representation and a strong educational campaign, we will help Americans understand the critical roles that lobbyists play in our society. The right to petition the government is central to ensuring that this country will always be one of the people, by the people and for the people and lobbyists help convey that message.

Membership in the league is open to any full-time, professionally employed lobbyist, at either the state or federal level. Our membership keeps growing and we looking forward to providing more member value and opportunities to our members in 2010.

To join the League, click here. Also, feel free to send us your comments through the "Contact Us" page. Thank you for visiting our web site.


Dave Wenhold, CAE, PLC
President of the American League of Lobbyists (http://www.alldc.org/index.cfm)

thoidaianhhung
03-11-2010, 06:25 PM
Lobby tại Mỹ: Thả con săn sắt, bắt con... cá voi

Đầu năm 2004, Hải quân Mỹ trình lên Quốc hội đề xuất ngân sách chính thức cho năm tài chính tiếp theo. Những giới hạn chi tiêu đã buộc Hải quân Mỹ phải cắt giảm nhiều hạng mục dự kiến, trong đó bao gồm việc mua máy bay phản lực Gulfstream hiện đại vào loại hàng đầu thế giới.

Bởi thế, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ khi đó là Đô đốc Vernon E Clark, quyết định đi một con đường khác - xin ngân sách đặc biệt dành cho những nhu cầu cấp thiết. Ông tìm đến những nhà vận động hành lang trong ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ, trong đó có những người làm việc cho công ty hàng không vũ trụ Gulfstream và tập đoàn mẹ của công ty này là General Dynamics.

4 tháng sau đó, tới thời điểm dự luật ngân sách quốc phòng năm 2005 được thông qua, Hải quân Mỹ đã có được chiếc Gulfstream đúng như mong đợi.

1 "ăn" 28

Không chỉ có Hải quân Mỹ được lợi từ thỏa thuận sân sau này. Khoản phân bổ ngân sách được thông qua này đem lại cho Gulfstream hợp đồng cung cấp máy bay trị giá 53 triệu USD. Cũng trong năm 2004, bằng con đường vận động hành lang, tập đoàn mẹ General Dynamics và các công ty con đã giành được 29 hợp đồng từ ngân sách Chính phủ, thu về 169 triệu USD.

Đây thực sự là những vụ làm ăn “một vốn… mấy chục lời” vì số tiền mà tập đoàn này phải chi cho việc vận động hành lang (lobby) trong năm 2004 chỉ là 5,7 triệu USD. Nói cách khác, 1 USD bỏ ra cho việc vận động hành lang lại đem về cho General Dynamics gần 30 USD từ Chính phủ Mỹ.

Một trong những điều bí hiểm nhất của Washington là các công ty thu được chính xác bao nhiêu tiền từ những nỗ lực vận động hành lang trong Quốc hội Mỹ. Kết quả một cuộc điều tra do tạp chí BusinessWeek tiến hành đối với hơn 2.000 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt của Chính phủ Mỹ trong năm 2005 khiến nhiều người bất ngờ: Trung bình, các công ty thu về khoảng 28 USD tính trên mỗi USD bỏ ra cho hoạt động vận động hành lang.

Tuy nhiên, cá biệt có những công ty thu về 100 USD, thậm chí còn cao hơn, tính trên mỗi USD bỏ ra. Đây thực sự là một tỷ lệ lớn, vì ước tính, các công ty thuộc chỉ số Standard & Poor 500 của thị trường chứng khoán Mỹ chỉ thu được có 17,52 USD tính trên 1 USD tiền vốn bỏ ra trong năm 2006. Còn trong hoạt động tiếp thị trực tiếp, cứ 1 USD bỏ ra, công ty chỉ thu về được 5 USD.

Có thể nói, những công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ các hoạt động vận động hành lang. Trong số 50 công ty được hưởng nhiều nhất từ ngân sách đặc biệt trong năm 2005, phần lớn đều là những công ty công nghiệp quốc phòng như Raytheon và Lockheed Martin. Chỉ có một số rất ít những công ty ở các lĩnh vực khác lọt vào top 50 này.

Tính đến nay, Boeing là tập đoàn thu về nhiều nhất từ phân bổ ngân sách đặc biệt, trong năm 2005, tập đoàn này thu được tổng số 456 triệu USD từ 29 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt dành cho các hạng mục từ công nghệ tên lửa tới máy bay trực thăng. Trong năm trước đó Boeing chỉ chi 8,5 triệu USD vào việc vận động hành lang.

Điều này có nghĩa là cứ 1 USD chi vào vận động hành lang cho ngân sách đặc biệt, Boeing thu về 54 USD. Mặc dù vậy, đây mới chỉ là một phần nhỏ trong cả chiếc bánh 28 tỷ USD tổng giá trị hợp đồng mà tập đoàn này ký kết với Chính phủ Mỹ trong năm 2005.

Nhưng thành công nhất trong việc vận động hành lang có lẽ phải kể đến Scientific Research, một công ty công nghiệp quốc phòng nhỏ bé ở Atlanta. Năm 2004, công ty này chi vỏn vẹn 60.000 USD vào vận động hành lang, nhưng đến năm tài chính 2005, đã giành được các hợp đồng với tổng trị giá lên tới 20 triệu USD. Như vậy, với mỗi USD bỏ ra cho vận động hành lang, công ty này thu về 344 USD!

Scientific Research gặt hái được hành công đến vậy là nhờ thuê được đúng công ty để vận động hành lang. Trong năm 2004, công ty này chỉ thuê duy nhất công ty Hurt, Norton & Associates để vận động hành lang cho mình. Đây là công ty nằm dưới sự điều hành của Robert H. Hurt, người trước đây từng có thời gian dài làm việc cho cựu Nghị sỹ đảng Dân chủ Sam Nunn khi ông này còn chức chủ tịch Ủy ban Các lực lượng vũ trang của Thượng viện.

Những vụ bê bối

Nhìn chung, các nhà vận động hành lang đều biện luận rằng, ngân sách đặc biệt là khoản chi tiêu hợp lý vào những dự án cần thiết mà vì một lý do nào đó bị giới cầm quyền không để ý tới. Lập luận này ngày càng được Quốc hội Mỹ chấp nhận rộng hơn. Vào năm 1987, Tổng thống Ronand Reagan phủ quyết dự luật ngân sách đường bộ đặc biệt bao gồm 157 hạng mục với tổng ngân sách phân bổ là 1 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2006, Quốc hội Mỹ đã gật đầu với 13.000 hạng mục ngân sách đặc biệt với tổng trị giá 67 tỷ USD.

Các nhà phê bình thì cho rằng, Quốc hội Mỹ đang chi tiền sai mục đích. Theo quy trình thông thường, các dự án đề nghị phân bổ ngân sách phải được xếp hạng ưu tiên và chỉ được phân bổ trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh. Với những khoản ngân sách đặc biệt cho những nhu cầu được coi là cấp thiết, điều này hiếm khi xảy ra. Các thành viên Quốc hội có quyền tự quyết khá rộng trong việc hướng ngân sách đặc biệt vào những dự án “cưng” của họ. “Những dự án như thế chủ yếu nhằm những mục đích chính trị và địa vị, thay vì những nhu cầu cần thiết,” Keith Ashdown, một chuyên gia về thuế nhận định.

Lịch sử đáng buồn của việc phân bổ ngân sách đặc biệt ở Mỹ là một danh sách dài những hành động lạm dụng: Ngân sách bị sử dụng để mua phiếu cho việc thông qua các đạo luật, ngân sách bị chuyển tới cho các nhà tài trợ chính trị, và ngân sách bị dùng cho việc hối lộ. Hôm 30/6 vừa qua, FBI đã bất ngờ khám xét nhà của Thượng nghị sỹ Stevens trong một cuộc điều tra về hành vi tham nhũng có liên quan đến ngân sách đặc biệt.

Trước tình hình những vụ bê bối có liên quan đến ngân sách gần đây, trong tháng 8, Quốc hội Mỹ đã thông qua một dự luật cải cách nhằm giảm tình trạng lạm dụng ngân sách đặc biệt bằng cách công khai quy trình phân bổ vốn bấy lâu nay nằm trong vòng bí mật. Liệu nỗ lực này có thành công hay không? Câu trả lời sẽ chỉ có được khi năm 2007 kết thúc.

Nghề béo bở

Tại Mỹ, vận động hành lang đã trở thành một ngành triển mạnh. Thống kê cho thấy, vào năm 1998, có tới 1.447 công ty và tổ chức thuê người vận động hành lang để giải quyết các vấn đề về ngân sách. Tới năm 2006, con số này đã tăng lên tới 4.516.

Không chỉ số lượng khách hàng tăng, số công ty chuyên về vận động hành lang cho ngân sách đặc biệt đương nhiên cũng tăng. Từ chỗ chưa có gì, tới nay đã có trên 10 công ty như thế. Trong lĩnh vực kinh doanh đầy lợi nhuận này, các công ty vận động hành lang này không cần phải mất công quảng cáo mà các khách hàng luôn tự tìm đến. “Ai muốn có kết quả tốt thì đều tìm đến tôi. Người nào thông minh thì biết được ai có thể đem đến điều đó cho họ,” một nhà vận động hành lang chuyên về ngân sách cho nhu cầu từng tuyên bố như vậy.

Trở lại với câu chuyện về chiếc Gulfstream mà Đô đốc Clark xin ngân sách ở đầu câu chuyện này. Năm đó, Clark đề xuất một chiếc C37 - phiên bản quân sự của chiếc Gulfstream G550 dân sự mà nhiều giám đốc điều hành trên khắp thế giới vẫn sử dụng để đi lại. Với lập luận rằng, chiếc máy bay này là cần thiết cho hạm đội của Mỹ ở Thái Bình Dương, nơi các sỹ quan phải đi lại trên những tuyến đường rất xa, các nhà vận động hành lang cho Gulf Aerospace và General Dynamics đã thuyết phục được Quốc hội Mỹ thông qua khoản ngân sách đặc biệt này.

Tuy nhiên, điều đáng nói là sau đó, chiếc C37 mới cứng chưa bao giờ tới phục vụ hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Sau khi tiếp nhận chiếc máy bay này, Hải quân Mỹ quyết định để chiếc máy bay này tại căn cứ không quân Andrews ở gần thủ đô Washington và phục vụ cho hai quan chức cao cấp là Bộ trưởng Hải quân và Tham mưu trưởng Hải quân. Còn chiếc máy bay được đưa đến Thái Bình Dương là một chiếc máy bay cũ, cùng chủng loại với những chiếc máy bay khác đã được sử dụng tại đó !

LOBBY.VN
03-15-2010, 04:23 PM
J Street và “cuộc chiến” vận động hành lang không cân sức

J Street - một tổ chức Do Thái mới nổi ở Washington DC - đang nuôi tham vọng làm một cuộc "cách mạng" trong làng vận động hành lang Do Thái, đồng thời trực tiếp đe dọa vị thế độc tôn của Ủy ban Công vụ Mỹ - Israel (AIPAC) - tổ chức Do Thái lớn nhất và quan trọng nhất - trên "sàn đấu" Washington.

So với thực lực quá hùng hậu của AIPAC và các tổ chức Do Thái truyền thống ở Mỹ thì J Street quả là quá "mỏng", như chàng tí hon David so với gã khổng lồ Goliath. J Street hiện còn quá non trẻ, mới được thành lập vào tháng 4/2008, xét về thời gian hoạt động thì không thể so sánh với AIPAC với bề dày lâu đời hơn nhiều (thành lập từ thập niên 50 thế kỷ trước).

Thành viên ban đầu của J Street cũng chỉ có 3 người, một năm rưỡi sau tăng lên được 6 người. Ngân sách hoạt động của J Street cũng hết sức "bèo": 1,5 triệu USD vào thời điểm thành lập, và hiện nay vào khoảng 5 triệu USD, được huy động từ các “Mạnh Thường Quân” thuộc đủ mọi giới, kể cả những cá nhân, tổ chức không phải Do Thái.

Với một điều kiện nhân lực và tài lực như thế chỉ nói đến việc tồn tại thôi đã khó chứ chưa nói đến phải "đấu" với AIPAC và các tổ chức Do Thái khác. Thế nhưng J Street đã tồn tại được và đang ngày càng lớn dần lên. Cho đến kỳ đại hội đầu tiên diễn ra từ ngày 25/10 đến 4/11 vừa qua, J Street đã thật sự trở thành tâm điểm chú ý khi thu hút đến 1.500 đại biểu, trong đó có cả Cố vấn An ninh Quốc gia James Jones.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/10_tu910-400.jpg
Isaac Luria, Giám đốc chiến dịch vận động; Rachel Lerner; Daniel Kohl và Giám đốc điều hành Jeremy Ben-Ami

Theo giới chuyên gia, điểm mạnh nhất của J Street là biết khai thác triệt để sự tiện lợi, nhanh chóng và tính tiết kiệm của Internet để phục vụ cho việc huy động lực lượng ủng hộ từ khắp nước Mỹ. Từ khi thành lập cho đến nay, tổ chức này vẫn chủ yếu dựa vào e-mail để giao tiếp và liên lạc với các mạng lưới chân rết khắp nơi.

Điều quan trọng làm mọi người chú ý đến J Street là ở chỗ tổ chức này vận động hành lang cho Israel nhưng không giống, thậm chí trái ngược với các tổ chức Do Thái truyền thống (như AIPAC). J Street không theo đường lối bằng mọi giá phải giành được sự ủng hộ cao nhất ở Washington cho Israel.

AIPAC thậm chí còn cài cả điệp viên vào bộ máy chính quyền Mỹ (vài vụ điệp viên Israel cài cắm trong Bộ Quốc phòng Mỹ bị phanh phui mấy năm qua là một ví dụ). Còn J Street thì khác, tổ chức này đang có được cảm tình của Nhà Trắng hơn bất kỳ tổ chức Do Thái nào khác hiện nay ở Mỹ do có quan điểm phù hợp với các chính sách của Tổng thống Barack Obama đối với khu vực Trung Đông.

J Street ủng hộ giải pháp "2 nhà nước" mà Tổng thống Obama quyết thực hiện cho bằng được. Đối với vấn đề hạt nhân Iran, J Street cũng chủ trương không ủng hộ Israel dùng vũ lực để ép Iran.

Những gì J Street đang tiến hành vận động cho thấy tổ chức này đang thúc đẩy một cuộc "cách mạng" trong giới vận động hành lang Do Thái "thân Israel". Cuối năm 2006, một nhóm hoạt động từ thiện người Do Thái theo tư tưởng tự do, trong đó có Jeremy Ben-Ami (hiện là Giám đốc điều hành), họp nhau lại bàn chuyện tập hợp các tổ chức Do Thái tiến bộ thành một tổ chức lớn hơn, mạnh hơn để hoạt động hiệu quả hơn.

Và cái tên J Street được đề cập như một bản sao của "K Street" (phố vận động hành lang nổi tiếng ở Washington). Sự ra đời của J Street gần như trùng hợp với sự xuất hiện của Thượng nghị sĩ Obama trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 2008. Khẩu hiệu mà J Street ngầm theo đuổi là "vì hòa bình và an ninh Israel" của mình.

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các tổ chức Do Thái tiếp tục hoành hành Washington, tiếp tục nắm lấy yết hầu của nước Mỹ mà lèo lái, thì sự vận động của J Street có thể được ví như "liều thuốc" nhằm trung hòa những "độc tố" do các tổ chức Do Thái truyền thống tiêm vào guồng máy chính trị Mỹ.

Tuy nhiên, tình hình chung cho thấy chỉ mỗi J Street thì khó mà tạo được sự thay đổi nhanh chóng chiều hướng vận động hành lang Do Thái, cũng như một mình Tổng thống Obama thì khó mà thay đổi được nếp nghĩ cùng với hành động của guồng máy chính trị Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến Israel và Trung Đông.

Việc nước Mỹ quá thân Israel không phải bây giờ mới có mà đã ăn sâu trong não của nhiều thế hệ chính khách nước Mỹ hàng chục năm qua, đến nỗi đã trở thành một thứ "luật" mà bất cứ tổng thống mới nào của nước Mỹ cũng đều phải ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc.

Cho đến nay, những chính sách, giải pháp mới của ông Obama ở khu vực Trung Đông vẫn chưa nhận được sự ủng hộ cần thiết của Quốc hội Mỹ, nơi mà lực lượng thân Do Thái không chỉ có ở đảng Cộng hòa mà cả một bộ phận khá đông trong đảng Dân chủ.

Và hiệu quả thúc đẩy hòa bình tại đây của ông cũng chưa thấy xuất hiện. Vì vậy, việc thay đổi nếp nghĩ "thân Do Thái" ở Washington, làm cho hòa bình thật sự ngự trị ở khu vực Trung Đông, để cho Israel không còn bị cô lập giữa cộng đồng khu vực như hiện nay, đối với nước Mỹ mà nói còn khó hơn là phóng tàu thăm dò lên sao Hỏa!

Nó đòi hỏi thời gian rất lâu và nhiều thế hệ "Obama" sau này với quyết tâm cao mới hy vọng thực hiện được. Nhưng với nhiều "J Street" cùng hỗ trợ thì mọi việc có thể sẽ diễn ra nhanh hơn chăng ?

Lobby Do Thái (http://antg.cand.com.vn/vivn/hautruong/2010/1/710 28.cand)

thoidaianhhung
03-15-2010, 04:57 PM
Ông Obama phản đối bỏ hạn chế vận động hành lang

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên tiếng phê phán quyết định mới đây của Toà án Tối cao Mỹ, dỡ bỏ những hạn chế về tài chính mà các công ty Mỹ được sử dụng để vận động chính trị, cho rằng điều này sẽ dẫn đến việc không ngăn chặn được ảnh hưởng của các nhóm đặc quyền.

Trong bài phát biểu hàng tuần trên đài phát thanh ngày 23/1, ông Obama khẳng định đã giành chiến thắng trước các nhóm đặc quyền trong một năm tại vị vừa qua.

Cụ thể, ông đã "đóng cánh cửa đang xoay chuyển giữa các công ty vận động hành lang và chính phủ" ngay trong ngày đầu tiên giữ cương vị tổng thống bằng một sắc lệnh hành chính, trong đó nghiêm cấm các cận sự vận động hành lang chính quyền một khi họ đã ra khỏi hàng ngũ nhân viên của ông.

Theo ông, quyết định nói trên của Toà án Tối cao sẽ làm đảo ngược tất cả những tiến bộ đã đạt được.

Trước đó, ngày 21/1, Toà án Tối cao Mỹ đã ra quyết định cho phép các công ty và hội đoàn "chi tiền không hạn chế" cho các ứng cử viên mà họ ủng hộ hoặc phản đối. Tuy nhiên, quyết định này cũng đòi hỏi các công ty và hội đoàn phải công khai các khoản chi của họ.

Hầu hết các nghị sĩ Cộng hoà đều hoan nghênh quyết định này, cho rằng nó sẽ thúc đẩy tự do ngôn luận và cho phép các đảng chính trị tăng chi tiêu. Một trong số ít người của đảng này phản đối là Thượng nghị sĩ John McCain.

Trong khi đó, các nghị sĩ đảng Dân chủ nói họ sẽ ủng hộ các dự luật nhằm hạn chế tác động của quyết định này. Ông Charles Schumer, Chủ tịch Uỷ ban Quy tắc Thượng viện, thậm chí còn gọi quyết định này có tính "phi Mỹ"

LOBBY.VN
03-15-2010, 05:21 PM
Đổi mới công tác vận động đầu tư “Muốn hơn thì bắc cầu Kiều”

Dù được công nhận là nước có môi trường đầu tư hẫp dẫn và được dự báo 10 năm tới là nơi đầu tư tốt nhất Châu á nhưng Việt Nam vẫn xếp thứ 75 trong bảng xếp hạng về chỉ số tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài trong số 80 nước. Dòng chảy FDI đang ồ ạt đổ vào Trung Quốc đã đặt Việt Nam trước áp lực cạnh tranh và yêu cầu phải đổi mới phương thức vận động đầu tư. Môi trường đầu tư tốt chưa đủ, điều quan trọng là các nhà đầu tư biết được họ sẽ có lợi gì khi đầu tư vào Việt Nam.

Xu thế cạnh tranh thu hút FDI đang ngày càng rõ nét và quyết liệt hơn. Trong hơn 100 nước đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài chỉ đổ vào hơn 20 nước tại khu vực Đông á, đầu tư nước ngoài phân bổ rất không đều. Riêng Trung Quốc hàng năm thu hút hơn 40 tỷ USD chiếm hai phần ba lượng FDI đổ vào Đông á. Việc Trung Quốc gia nhập WTO càng làm thị trường này thêm sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Nhiều dự báo cho rằng 5 năm tới FDI vào Trung Quốc có thể tăng gấp đôi. Nhiều nước trong khu vực đặc biệt là các nước ASEAN lo ngại khả năng luồng vốn đầu tư nước ngoài chuyển mạnh sang Trung Quốc. Theo báo cáo của UNCTAD, các dòng FDI vào khu vực Châu á - Thái Bình Dương đã phục hồi với 107 tỷ USD năm 2003 và Trung Quốc đã trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới. Điều này đã từng xảy ra với Indonexia và Philippin. Ngoài ra, Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh trực tiếp của các nước láng giềng Đông Nam á - những nước đang phát triển và có nhu cầu FDI rất lớn. Không tích cực và chủ động thúc đẩy, vận động, kêu gọi đầu tư thì khó có thể thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn.

Những năm trước năm 1996, làn sóng đầu tư đổ vào Việt Nam xuất phát từ lòng tin của các nhà đầu tư về một thị trường mới, miền đất mới. Nhiều nhà đầu tư trong đó có những tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam chỉ nhằm tạo chỗ đứng trên thị trường, chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả kinh tế, chính vì vậy lượng vốn đầu tư vào Việt Nam rất lớn. Sau nhiều năm thực hiện, các nhà đầu tư đã thực tế hơn, đầu tư thận trọng hơn, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực. Những nước chờ đón đầu tư sau cuộc khủng hoảng đã thay đổi rõ rệt quan điểm đối với đầu tư nước ngoài và đã rất chú trọng khuyếch trương cho mình và xúc tiến đầu tư. Hàn Quốc là một điển hình về cải cách thủ tục đầu tư, coi trọng công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài và đã thành lập cơ quan dịch vụ đầu tư Hàn Quốc. Từ sau năm 1997, đầu tư vào Hàn Quốc liên tục tăng.

Còn ở Việt Nam sau một thời gian nguồn FDI giảm sút, Việt Nam mới chợt nhận thấy tầm quan trọng của việc vận động để thu hút được FDI. Mấy năm nay Việt Nam đã lấy lại được nhịp độ tăng trưởng cao, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường đầu tư được cải thiện đáng kể, tiếp tục duy trì thành công sự ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam đã nổi lên là địa chỉ an toàn hàng đầu cho đầu tư. Nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá Việt Nam sẽ là địa bàn quan trọng trong chiến lược đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro sau khi họ đã đầu tư vào Trung Quốc và khu vực Đông Nam á. Việt Nam đã thay đổi nhanh nhờ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư. Nhờ vậy, sau một thời kỳ giảm sút tình hình đầu tư nước ngoài đã có dấu hiệu khả quan (tháng qua đã có 518 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD, vốn bình quân một dự án là 3,1 triệu USD so với mức 2,5 triệu USD cùng kỳ năm trước. Nhưng tốc độ vẫn chậm khiến Việt Nam chưa bắt kịp các nước xung quanh. Chưa xua được sự lo ngại về khả năng thực hiện mục tiêu trong 5 năm 2001-2005 thu hút được 12 tỷ USD vốn FDI cấp mới và 11 tỷ USD vốn FDI thực hiện.

Sự nỗ lực trong những năm qua của Chính phủ nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư và thực hiện xúc tiến đầu tư theo phương châm “hôm nay tốt hơn hôm qua” và hướng tới nhu cầu của các nhà đầu tư đã tạo nên kết quả hôm nay. Nhưng ngày hôm nay và những ngày sau hoạt động theo phương châm này không đủ mà phải đặt mục tiêu mình phải bằng và tốt hơn các nước khác. Cần sớm bắc thêm nhịp cầu thu hút đầu tư bằng cáchchuyển phương thức vận động đầu tư từ việc tạo môi trường đầu tư tốt hơn hôm qua sang cách làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam tốt hơn và có ưu thế cạnh tranh so với các nước trong vùng và Quốc tế. Giảm thuế, giảm tiền thuê đất, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa... là những việc làm cần thiết và đã cải tạo cơ bản môi trường đầu tư của Việt Nam nhưng chưa đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư đến đây. Không chỉ vì ở đâu việc bắt đầu làm ăn dễ dàng hơn, tiền thuê nhà thuê đất rẻ hơn mà nhà đầu tư lao vào nếu họ không biết chắc họ sẽ thu lợi được bao nhiêu. Với nhà đầu tư, khoản lợi nhuận là điều quyết định có đầu tư hay không, điều kiện thuận lợi chỉ thêm phần thuyết phục hơn. Nhiều khi nếu biết chắc sẽ thu được khoản lợi lớn, không chỉ vì thủ tục kéo dài vài chục ngày hoặc không được hưởng chút ít từ giảm tiền thuê đất mà Nhà đầu tư từ bỏ ý định.

Trong bản báo cáo về FDI ở Châu á do Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc - UNCTAD công bố, Việt Nam vẫn ở thứ 50 trong số 55 nước xếp hạng về chỉ số hoạt động đầu tư. Bởi vì mọi nỗ lực của các cơ quan chức năng mới chỉ làm được việc cải thiện môi trường đầu tư cho hôm nay tốt hơn hôm qua. Theo ông Trần Tuấn Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Bộ Ngoại giao “Giới kinh doanh và đầu tư quốc tế chưa có hình ảnh đúng đắn và khách quan về Việt Nam. Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên về sự khác biệt giữa những gì họ chứng kiến với những suy nghĩ từ hình ảnh không đầy đủ về Việt Nam trước đó”. Điều này phản ánh sự hạn chế về công tác tuyên truyền hình ảnh Việt Nam và công tác vận động đầu tư của Việt Nam. ở các trung tâm tài chính hàng đầu thế giới như NewYork, London, hầu như không có thông tin gì về môi trường đầu tư Việt Nam. Ông Trần Tuấn Anh dẫn lời Chủ tịch khu công nghiệp MTA: “Trong vòng 10 năm tới Việt Nam sẽ là một điểm quan trọng nhất Châu á. Chỉ có điều đáng tiếc là chúng ta chưa chuyển được thông điệp của mình ra bên ngoài”. Còn theo ông Lê Hữu Quang Huy - Văn phòng Kinh tế Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc thì quan trọng nhất là Việt Nam chưa chứng minh được đầu tư vào Việt Nam có lợi gì hơn so với đầu tư vào Trung Quốc và các nước trong khu vực. Có lẽ vì vậy mà Việt Nam vẫn xếp thứ 75 trong bảng xếp hạng về chỉ số tiềm năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài gồm 80 nước của UNCTAD.

Thành phố Hồ Chí Minh đã thành công trong việc vận động và thu hút đầu tư. Sáu bài học từ thực tiễn thu hút đầu tư nước ngoài của Thành phố này là: Chuyển từ triết lý thu hút đầu tư bằng nỗ lực hoàn thiện môi trường đầu tư tốt hơn hôm qua sang triết lý môi trường đầu tư của ta phải có ưu thế cạnh tranh hơn các nước khác; tách phần lớn các dịch vụ xúc tiến đầu tư ra khỏi cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư; có tổ chức chuyên trách đánh giá mức độ cạnh tranh của môi trường đầu tư của Việt Nam và từng địa phương; có chương trình biện pháp gắn xúc tiến đầu tư và xúc tiến xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả đầu tư nước ngoài ở các khu chế xuất, khu công nghiệp. Xúc tiến đầu tư phải đảm bảo độ sâu và tính chuyên nghiệp, trước hết nhằm vào các dự án quan trọng và quy mô lớn, nhằm vào các đối tác nước ngoài cụ thể.

Vụ Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng phục hồi, tỷ lệ số dự án đầu tư tăng so với năm trước nhưng vẫn thấp hơn tiềm năng thực tế của đất nước. Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại có xu hướng giảm tốc độ tăng vốn FDI thực hiện chậm hơn tốc độ tăng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Vì vậy điều quan trọng nhất để tăng FDI vẫn là xây dựng và quảng bá một hình ảnh Việt Nam đầy tiềm năng với một định hướng phát triển rõ ràng. Cần chỉ ra cho các nhà đầu tư vì sao nên đầu tư vào Việt Nam ? Vì Việt Nam không chỉ là nơi có nguồn nhân công rẻ, tài nguyên phong phú... mà quên quảng bá rằng Việt Nam là một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng hòng thu hút những nhà đầu tư với mục tiêu xuất khẩu tại chỗ

LOBBY.VN
03-15-2010, 05:24 PM
Toyota gửi nhiều nhân viên đến Washington vận động hành lang ở Quốc Hội Mỹ

- Alesia Murdoch có 11 năm làm nhân viên bộ phận lắp ráp hộp số của nhà máy Toyota ở Buffalo, West Virginia. Hôm qua cô biết mình có một nghề mới: đi vận động hành lang.

Murdoch là một trong số 23 nhân viên của Toyota được hãng cử đi vận động hành lang ở Quốc Hội Mỹ trước khi có một cuộc diều trần trước Quốc Hội về số xe Toyota bị thu hồi.

Cô cho hay cùng với các đồng nghiệp, cô muốn nhắc nhở với các nhà lập pháp Hoa Kỳ là mặc dù Toyota là của Nhật, song những người bị lệnh thu hồi gây ảnh hưởng lại là người Mỹ đang làm việc trong các xưởng xe lắp ráp của Toyota.

Murdoch nói: Chúng tôi ủng hộ sản phẩm của chúng tôi làm ra. Có thể chúng tôi đang bị khó khăn nhưng Toyota sẽ vững mạnh trở lại.

Có ít nhất 3 Ủy Ban của Quốc Hội hoa Kỳ có kế hoạch tổ chức các buổi điều trần để xem xét liệu cuộc thu hồi có được tiến hành nghiêm chỉnh hay không.

Toyota cử các nhân viên của mình từ 8 tiểu bang có nhà máy lắp ráp xe Toyota và bảo trợ mọi chi phí cho họ. Lẽ ra cuộc điều trần đầu tiên đã diễn ra thứ tư 10/2, nhưng đã được hoãn lại tới 24 tháng 2 do bão tuyết quá lớn.

Tài liệu của Thượng Viện năm 1999 cho thấy Toyota đã bỏ ra 685,684 đô la để vận động hành lang ở Washington, còn năm 2009 là 5.2 triệu đô la, gấp 7 lần con số năm 1999, vượt qua cả Chrysler.

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:19 PM
Bài học lobby của người Trung Quốc
Hongkong và các 'chiêu' lobby cho Trung Quốc


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/LyGiaThanh.jpg
Lý Gia Thành - nhà tỷ phú tiếng tăm nhất Hongkong

Không chỉ từ phía Đại lục, hoạt động lobby của Trung Quốc còn bao gồm cả từ phía Đặc khu hành chính Hongkong. Thậm chí, trong nỗ lực gây ảnh hưởng với chính giới Mỹ và tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận Mỹ, Đặc khu hành chính Hongkong dường như "mạnh mẽ" hơn Đại Lục.

Nỗ lực không mệt mỏi của HKTDC

Báo cáo của The Center for Public Integrity cho thấy trong nỗ lực gây ảnh hưởng với chính giới Mỹ và tìm kiếm sự ủng hộ của công luận Mỹ, Đặc khu hành chính Hongkong dường như "mạnh mẽ" hơn Đại Lục.

Kể từ tháng 7/1997 khi Hongkong được trao trả về cho Trung Quốc, Hội đồng Phát triển Thương mại Hongkong (HKTDC) đã dành một khoản tiền lớn hơn bất kì khách hàng Trung Quốc nào khác (khoảng 7,2 triệu USD) để lobby Quốc hội Mỹ về các vấn đề ảnh hưởng tới Hongkong như việc Trung Quốc gia nhập WTO và dịch SARS năm 2003.

Để công việc được suôn sẻ, HKTDC đã thuê 7 công ty lobby có uy tín tại Mỹ. Gần đây, HKTDC đã đẩy mạnh chiến dịch lobby liên quan tới vấn đề hàng dệt may giữa Mỹ và Trung Quốc.

Hutchison Whampoa Limited là một trong những tập đoàn lớn nhất niêm yết trên Sàn chứng khoán Hongkong. Tập đoàn do nhà tỉ phú Lý Gia Thành, người giàu nhất Trung Quốc lãnh đạo.

Hiện, công ty có hơn 157.000 nhân viên làm việc tại các chi nhánh trên toàn thế giới.

Các lĩnh vực hoạt động của Hutchison Whampoa Limited bao gồm:

- Kênh, cảng và các dịch vụ liên quan tại Hongkong, Panama Canal, Rotterdam, Thượng Hải, Thâm Quyến, Ninh Ba, Jakarta và Dar es Salaam... Công ty kiểm soát 12% công suất của các cảng chuyên chở container trên toàn thế giới.

- Viễn thông: có Hutchison Telecommunications, 3 mạng viễn thông và 1 hệ thống di động CDMA tại Australia theo giấy phép của Tập đoàn Orange, điều hành hoạt động địa ốc và khách sạn tại Hongkong, Ấn Độ, Israel, Anh, Italia và Đức...

- Bán lẻ và sản xuất: các cửa hàng tạp phẩm Park'N Shop, thiết bị điện tử gia dụng và các cửa hàng tư nhân của Watson tại chau Á. Ở châu Âu có chi nhánh Savers and Kruidvat Group.

- Năng lượng và hạ tầng cơ sở: Hongkong Electric là nhà cung cấp năng lượng chính cho Hongkong, ngoài ra còn công ty Husky Energy tại Canada.

Hutchison Whampoa cũng là một trong những nhà cung cấp truyền hình vệ tinh lớn nhất châu Á cho tới khi họ bán cổ phần tại kênh Star TV cho tập đoàn News Corp của Rupert Murdoch.

HKTDC không có văn phòng đại diện đặt tại Washington, nhưng có các chi nhánh tại New York, Chicago, Los Angeles và Miami. Các hoạt động lobby của HKTDC được phối hợp thông qua Văn phòng Kinh tế và Thương mại Hongkong tại Washington.

Theo những thông tin lobby được tiết lộ cho Bộ Tư pháp Mỹ mà The Center for Public Integrity nghiên cứu, các công ty được HKTDC thuê đều phải "xác định những mục tiêu vận động quan trọng nhất tại Quốc hội và chính quyền Mỹ. Đó là những người có thể liên quan tới chính sách hay đạo luật gây ảnh hưởng tới lợi ích của Hongkong".

Đặc biệt, đại diện cho Văn phòng Thương mại và Kinh tế Hongkong tại Washington là Burson-Marsteller, một trong những công ty PR lớn nhất thế giới. Chính công ty này đã dàn xếp một cuộc gặp giữa Thống đốc Arnold Schwarzenegger và một quan chức trong chính quyền Hongkong để thương lượng về cơ hội kinh doanh cho các công ty California.

Ảnh hưởng của các tỷ phú Hongkong

Một gương mặt nổi trội trong giới doanh nghiệp Hongkong có chiến dịch lobby mạnh nhất tại Mỹ là tập đoàn Hutchison Whampoa của nhà tỉ phú Lý Gia Thành. Tập đoàn này đã thuê công ty Public Policy Impact Strategies để triển khai chiến dịch PR nhằm phổ biến hình ảnh và thương hiệu của họ trên đất Mỹ.

Bắt đầu từ năm 2004, Public Policy Impact Strategies đã dàn xếp những cuộc thăm viếng "xã giao" cho quan chức Hutchison Whampoa và các nghị sĩ Mỹ để thảo luận về "quan hệ thương mại Mỹ-Trung, vấn đề thương mại và viễn thông quốc tế". Trong số nghị sĩ Mỹ từng tiếp xúc với Hutchison Whampoa có Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Bill Frist - đảng Cộng hoà và Hạ nghị sĩ Joe Barton, đảng Cộng hoà - người đứng đầu Uỷ ban Thương mại và năng lượng Mỹ.

"Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp chính giới Mỹ hiểu về Hutchison Whampoa và công việc họ đang làm", William Nixon, Giám đốc Public Policy Impact Strategies phát biểu. Theo ông Nixon, đã có thời gian người ta lầm tưởng Lý Gia Thành đại diện cho Trung Quốc, bắt đầu từ cuối thập niên 1990 khi ông Lý đấu thầu các dịch vụ cầu cảng tại Kênh đào Panama. Nixon cho biết cho đến nay, những cuộc gặp giữa quan chức Hutchison Whampoa và các nghị sĩ Mỹ đã đem lại kết quả rất "tích cực".

"Ông Lý không lobby cho một đạo luật và không có kế hoạch đầu tư vào Mỹ ngay lúc này. Nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu trong tương lai, Hutchison Whampoa tỏ ý muốn mua các tiệm thẩm mỹ hay cơ sở y tế ở đây...", Nixon nói. Chủ tịch công ty PR còn cho biết thêm hồi tháng 6 vừa qua, tỷ phú Lý đã hào phóng tặng Đại học California-Berkeley 40 triệu USD đểãyay dựng toà nhà nghiên cứu y tế và y-sinh học. Đây là món quà có giá trị nhất trong lịch sử đại học này. "Ông Lý là một người ngọt ngào. Tôi hy vọng sẽ làm việc lâu dài với ông ấy", Nixon nói.

Trên thực tế, từ tháng 5/2004 tới tháng 4/2005, công ty PR của Nixon đã thu được 300.000 USD nhờ vận động cho Hutchison Whampoa.


Vận động hàng dệt may - không còn bỡ ngỡ !

Trong bối cảnh thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc đang tăng, dệt may trở thành một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước. Hệ thống quota cho hàng dệt may và quần áo dành cho Trung Quốc 30 năm đã hết hạn vào ngày 1/1/2005 và giá trị hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng 97%, lên 7,4 tỉ USD.

Trước những lời phàn nàn của nhà sản xuất trong nước, chính phủ Mỹ đã ra hạn chế mức tăng hàng năm đối với một số mặt hàng dệt may nhập từ Trung Quốc như áo sơ mi và quần trong khoảng 7,5%. Ngay lập tức, phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối. Hiện, hai bên đã tiến hành nhiều cuộc thương lượng về việc hạn chế số lượng lớn hàng nhập khẩu may mặc tới năm 2008.

Song song với việc thương lượng, Trung Quốc cũng xúc tiến những hoạt động lobby tại nghị trường nước Mỹ. Theo báo cáo của The Center for Public Integrity, Bộ Thương Mại Trung Quốc đã nhờ sự tư vấn của công ty luật McDermott Will và Emery LLP. Giám đốc quan hệ chính phủ của công ty này, Paul Hatch từng là cố vấn cho đội ngũ vận động tranh cử Bush-Cheney năm 2004.

Bên cạnh nỗ lực của Đại lục, Đặc khu hành chính Hongkong đóng vai trò không nhỏ. Trong một lá thư gửi cho The Center for Public Integrity, Stephen Wong, Giám đốc khu vực thuộc Hội đồng phát triển thương mại Hongkong (HKTDC) đã nhấn mạnh rằng tổ chức của ông chỉ tập trung vào việc "bảo vệ lợi ích của Hongkong". "Trong vấn đề dệt may, Hongkong với tư cách là một khu vực sản xuất và xuất khẩu dệt may, rất lo ngại về những quyền hợp pháp và lợi ích thương mại theo quy định của WTO. Trước thực tế một số lượng lớn doanh nghiệp Hongkong đang đầu tư cho hoạt động sản xuất hàng dệt may ở Đại Lục, chúng tôi rất quan tâm tới tác động của những biện pháp mà Mỹ áp dụng đối với lợi ích của chúng tôi".

Xuất phát từ lý do trên, HKTDC đã tiến hành một chiến dịch lobby khá quy mô, góp mặt nhiều công ty vận động hành lang danh tiếng của Mỹ. Theo thông tin đăng ký với Bộ Tư pháp Mỹ được The Center for Public Integrity thu thập, cho đến nay có 4 công ty lobby chính đại diện cho HKTDC.

Tiêu biểu trong số này là Wexler&Walker Public Policy Associates. Đây là một công ty lobby hàng đầu do cựu Hạ Nghị sĩ Mỹ Robert Walker và Ann Wexler - một quan chức cao cấp trong chính quyền cựu Tổng thống Carter, điều hành. Công ty đã tiến hành hàng chục cuộc gặp gỡ với thành viên và nhân viên Quốc hội trong đó có các Hạ nghị sĩ Michael Castle bang Delaware và John Shadegg - bang Arizona để vận động cho các vấn đề dệt may và chuyển giao công nghệ. Wexler&Walker cũng tiến hành nhiều cuộc gặp với quan chức trong chính quyền trong đó có Bob Cassidy - nhà thương thuyết chính của Mỹ về việc Trung Quốc gia nhập WTO. Cho tới nay, Wexler and Walker Public Policy Associates đã thu được 3 triệu USD từ HKTDC.

Thứ hai là Patton Boggs, LLP - một trong những công ty lobby mạnh nhất tại Washington. Công ty này đã vận động Quốc hội và các quan chức hải quan Mỹ trong các vấn đề hàng dệt may và thương mại song phương đại diện cho HKTDC từ năm 2001-2002. Chỉ trong vòng 1 năm này, Patton Boggs đã thu về 250.000 USD. Tháng 7 vừa qua, Patton Boggs đã tham gia tư vấn cho các quan chức tại Sứ quán Trung Quốc ở Washington về một số vấn đề liên quan tới Quốc hội Mỹ.

Thứ ba là Powell, Goldstein, Frazer & Murphy, LLP - một công ty luật có trụ sở tại Atlanta song tập trung hoạt động lobby Washington. Công ty này đã vận động cho HKTDC trong nhiều vấn đề quốc tế. Từ tháng 7/1997 đến 2002, công ty từng lobby đại diện cho Tổng công ty xuất nhập khẩu Dệt may Trung Quốc, và Văn phòng Thương mại, Kinh tế Hongkong tại Washington.

Thứ 4 là Sidley Austin Brown & Wood - một trong những công ty luật lớn nhất Mỹ có văn phòng tại Hongkong, Bắc Kinh và Thượng Hải. Từ năm 2002, công ty này đã vận động giúp HKTDC trong các vấn đề thương mại, đặc biệt là hàng dệt may và phụ kiện quần áo.

Sau tất cả những nỗ lực không ngừng nghỉ, cuối cùng, Mỹ và Trung Quốc đã đạt được thoả thuận về hàng dệt may hôm 8/11. Cụ thể, Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Bạc Hy Lai và Đại diện Thương mại Mỹ Rob Portman đã ký một thoả thuận thời hạn 3 năm quy định hạn chế số lượng 34 chủng loại hàng dệt may của Trung Quốc vào thị trường Mỹ.
Soạn: AM 798097 gửi đến 996 để nhận ảnh này

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images998097_T3.jpg
Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Bạc Lai Hy và Đại diện Thương mại Mỹ tại lễ ký Thoả thuận hàng dệt may

Với ưu thế là một nền kinh tế đang lớn mạnh tại khu vực châu Á-TBD, một thị trường khổng lồ với 1,3 tỉ người tiêu dùng cộng thêm chiến lược khôn khéo, nắm bắt tình hình, hiểu đúng thời cuộc, Trung Quốc đã đi từ thành công này tới thành công khác. Trên con đường gian nan ấy, người Trung Quốc đã dần học được bài học "lobby trên đất Mỹ", biến thứ vũ khí của người Mỹ thành công cụ hữu ích cho mình. Tất nhiên, con đường họ đi không hề bằng phẳng, và đã không ít lần họ phải trả học phí cao cho những vấp váp của mình. Nhưng thách thức ấy không làm họ nản chí, mà trái lại càng làm tăng quyết tâm vươn ra thế giới, xây dựng Trung Quốc thành một đất nước hùng mạnh, phồn vinh

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:23 PM
Những nhà vận động tích cực ở Capitol Hill

Với ưu thế là một nền kinh tế đang nổi tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, lại là một thị trường rộng lớn với 1,3 tỉ dân, Trung Quốc thường không phải tốn chi phí cho hoạt động lobby. Lợi ích to lớn khi làm ăn với Trung Quốc đã thúc đẩy các tập đoàn lớn tại Mỹ bỏ tiền túi để vận động Quốc hội, chính quyền ưu ái, nới lỏng các hạn chế đối với Trung Quốc.

Tiếp tục cuộc chiến MFN không cân sức tại Hạ viện

Sau khi vận động thành công chính quyền Clinton, giới vận động hành làng giúp Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của mình. Sôi động và tích cực nhất chính là Hội đồng Kinh doanh Mỹ - Trung (UCBC) và Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ - Trung phối hợp bởi Uỷ ban đối phó khẩn cấp Thương mại Mỹ do nhà vận động hành lang kỳ cựu Calman Cohen đi đầu. Đây là một khối gồm 55 công ty lớn của Mỹ cam kết tự do thương mại, tiểu biểu là General Motors, Mobil, Exxon, Caterpillar, United Technologies, Boeing, Cargill, Philip Morris, Procter & Gamble, TRW, Westinghouse, IBM và hàng chục công ty khác.

Nằm trong Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ-Trung là Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia (NAM), Phòng Thương Mại Mỹ (UCC), Bàn tròn Kinh doanh (BRT), Hiệp hội các nhà bán lẻ và nhiều hiệp hội thương mại đại diện cho các nhóm công nghiệp như Viện Dầu lửa Mỹ, Hiệp hội Nghiên cứu và Sản xuất Dược phẩm, Liên minh phần mềm kinh doanh...

Một trong những thách thức lớn nhất mà họ gặp phải chính là sự phản đối ở Hạ viện. Phe chống lại việc áp dụng quy chế MFN cho Trung Quốc bao gồm một nhóm thành viên đảng Dân chủ kết hợp với những nhân vật bảo thủ đi đầu là Hạ nghị sĩ Dana Rohrabacher - thành viên đảng Cộng hoà bang California, bắt đầu với khoảng 70 lá phiếu. Song sức ép và tiền bạc của nhóm ủng hộ MFN rõ ràng lớn hơn rất nhiều.

Phòng thương mại Mỹ (UCC), một "lão làng" trong giới lobby kinh doanh đã tiêu tốn gần 6 tháng ròng cho chiến dịch vận động MFN giúp Trung Quốc.

Cụ thể, Nhóm hành động châu Á của UCC đã liên lạc với hơn 200 uỷ ban địa phương và cấp tiểu bang cùng 6.800 công ty thành viên để lên kế hoạch. Họ tung ra các tài liệu phục vụ chiến dịch quan hệ cộng đồng (PR) và phổ biến kiến thức kèm theo các slideshow hình ảnh. Thậm chí nhóm này còn tổ chức một buổi hội thảo trên truyền hình qua chương trình "Đó là việc của bạn" phát sóng hàng tuần.

UCC cũng phối hợp chặt chẽ với các quan chức trong chính quyền biểu hiện qua việc tổ chức 4 phiên họp giữa nhân viên UCC và phụ tá của Tổng thống Clinton trong đó có Bộ trưởng Thương mại Mickey Kantor. Qua đó, UCC đã lọc được một danh sách gồm 103 thành viên Hạ viện có thể giúp họ ủng hộ MFN.

Trong lúc đó, tại Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia (NAM), một bầu không khí tương tự cũng diễn ra sôi động không kém. Tuy nhiên, cách làm của họ khác với UCC ở chỗ: NAM chú trọng tới việc tiếp xúc với các nghị sĩ ở "địa bàn" của họ.

10 văn phòng khu vực của tổ chức Đối thoại Nghị viện thuộc NAM tập trung vào việc phân công giám đốc các nhà máy hoặc công ty truyền tải thông điệp tới các nghị sĩ thuộc địa phận của họ. Giống như UCC, NAM nhấn mạnh tới hàng xuất khẩu Mỹ và việc làm có được từ hoạt động xuất khẩu ấy.

Trong số các công ty lớn, NAM nêu bật nỗ lực của Boeing (công ty chủ trì Nhóm công tác Trung Quốc của NAM), Caterpillar (đứng đầu Bàn tròn Kinh doanh), TRW và United Technologies. 4 tập đoàn này đã tiến hành những nỗ lực khác thường mà người ta gọi là "Sáng kiến Bình thường hoá Trung Quốc". Nhóm này được tổ chức trên cơ sở liên bang giữa California, Illinois, Michigan, Texas và các bang trọng điểm khác. Mỗi bang có một nhân vật từ một công ty lớn phụ trách. Ví dụ tại Michigan, General Motors và AlliedSignal, Inc. đồng phụ trách còn tại Illinois, công ty chủ trì là Caterpillar. Riêng Boeing, do hoạt động rộng khắp, dàn trải trên toàn nước Mỹ nên đóng vai trò "tiền vệ". Họ đã biến nhiều chi nhánh trở thành những nhà "vận động mini" cho quy chế MFN của Trung Quốc.

Nhịp độ lobby tại Hội đồng kinh doanh Mỹ - Trung (UCBC) cũng khá khẩn trương với hàng loạt sự kiện được gọi chung là "Trung Quốc trên Đồi Capitol" (China on the Hill). UCBC tổ chức cho một nhóm các lãnh đạo công ty tới Washington để gặp đoàn đại biểu của một tiểu bang tại Hạ viện. UCBC cũng đặc biệt chú ý tới các nghị sĩ mới được bầu vì họ thường có quan điểm khá "mở" trong vấn đề thương mại với Trung Quốc. Cuối cùng, nỗ lực của UCBC đã dẫn tới kết quả: 55 trong tổng số 74 nghị sĩ mới của đảng Cộng hoà bỏ phiếu thông qua MFN cho Trung Quốc năm 1996.

Ảnh hưởng của những nhà tài phiệt

Mặc dù vai trò của các tổ chức, hiệp hội đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp Mỹ là thực tế không thể bác bỏ, song tiếng nói có quyền lực nhất, tác động tới chính sách Trung Quốc của Mỹ lại chính là Tổng giám đốc, Chủ tịch các tập đoàn. "Những nhân vật này chỉ cần nhấc điện thoại và mọi việc sẽ được tiến hành", một nguồn tin thân cận với các tổ chức ủng hộ Trung Quốc tiết lộ.

Một trong số những nhân vật có tiếng tăm lúc đó là Maurice R. Greenberg - Chủ tịch AIG - tập đoàn bảo hiểm được xếp vào loại lớn nhất trên thế giới.

Trong chiến dịch vận động MFN cho Trung Quốc năm 1996, Greenberg là Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ - Trung. Ông cũng là thành viên của Uỷ ban đối phó khẩn cấp, là một trong 5 thành viên Ban tác động chính sách thuộc Hội đồng Ngoại giao do Henry Kissinger và Cyrus Vance đứng đầu, là một trong những nhà tài trợ cho Uỷ ban 100; một thành viên tích cực của Hôi đồng Đại Tây Dương và Uỷ ban Quốc gia về quan hệ Mỹ - Trung - đồng tài trợ tổ chức ủng hộ MFN. Ông còn là thành viên chủ chốt của Uỷ ban Cố vấn Tổng thống về chính sách thương mại và Thương thuyết - uỷ ban cố vấn tư nhân cho Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ.

Không những thế, ban giám đốc AIG còn bao gồm những nhân vật từng đóng vai trò hoạch định chính sách tại Washington như Carla Hills - cựu Đại diện thương mại Mỹ và Barber Conable - cựu Nghị sĩ kiêm cựu Chủ tịch Ngân hàng thế gới. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger cũng tham gia vào uỷ ban cố vấn quốc tế của AIG.

Tại Washington, AIG được đại diện bởi một đội gồm 11 nhà vận động hành lang và 4 công ty luật kiêm lobby danh tiếng bao gồm Skadden, Arps, Slate và Meagher&Flom, nơi mọi sự vụ của AIG đều được Robert Lighthizer, cựu Phó Đại diện thương mại Mỹ giải quyết. Trong một cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ về quan hệ kinh tế Mỹ-Trung tháng 5/1996, Greenberg đã nói: "Thay vì mỗi năm lại phải sử dụng chiêu không hiệu quả, chúng ta nên dành cho Trung Quốc quy chế MFN vĩnh viễn, vô điều kiện".

Trường hợp của Chủ tịch AIG chỉ là một trong số hàng trăm trường hợp khác. Phải kể đến ở đây là những gương mặt xuất chúng như lãnh đạo Boeing, Caterpillar, TRW, UnitedTechnologies thuộc nhóm "Sáng kiến Bình thường hoá Trung Quốc". Họ chính là những nhà vận động hành lang tích cực nhất tại Đồi Capitol trong cuộc chiến giành quy chế MFN cho Trung Quốc nhằm bảo vệ lợi ích của tập đoàn.

Có lẽ chiến dịch năm 1996 là cuộc vận động cuối cùng về MFN cho Trung Quốc. Bước sang năm 1997, giới vận động hành lang bắt đầu thúc đẩy kế hoạch giúp Trung Quốc giành được Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR), tiến tới giúp nước này gia nhập WTO

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:29 PM
Bài học Lobby của Trung Quốc
Khi cánh cổng WTO rộng mở

Việc giành đuợc quy chế PNTR từ Mỹ là một bước quyết định đưa Trung Quốc tiến vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trên thực tế, ngay từ thời gian đầu khi mới vận động PNTR, các doanh nghiệp Mỹ đã xác định rõ mục tiêu này..

Doanh nghiệp Mỹ được gì khi Trung Quốc vào WTO ?

Về mặt khách quan, giới kinh doanh Mỹ cho rằng việc trở thành thành viên của WTO sẽ giúp đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy Trung Quốc mở cửa hơn về thị trường. Song thực chất, mối quan tâm của họ lại hướng tới những vấn đề cụ thể hơn nhiều, tập trung phục vụ mục tiêu của từng tập đoàn tại Trung Quốc.

Trong báo cáo năm 1996 mang tiêu đề: "Trung Quốc và WTO: Một chỉ dẫn cần tham khảo", Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung đã nêu ra một số khía cạnh mà Mỹ có thể có lợi nếu Trung gia nhập WTO. Đó là:

1. Các công ty nước ngoài sẽ có thể bán hàng trực tiếp vào thị trường Trung Quốc mà không phải qua các công ty thương mại được cấp phép và cũng không vấp phải những đòi hỏi đầu tư vào Trung Quốc.

2- Các tập đoàn nước ngoài có khả năng thành lập liên doanh và sở hữu toàn bộ mạng lưới phân phối bao gồm cả việc bán những mặt hàng không được sản xuất tại Trung Quốc.

3- Những quy tắc cấm và hạn chế nhập khẩu vốn áp đặt cho những ngành công nghiệp "trụ cột" như điện tử, tự động hoá, máy móc và hoá học sẽ không còn hiệu quả.

4- Hàng loạt hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài như: mức thuế quan phân biệt, trợ cấp, các điều kienẹ phân bổ tín dụng và tài nguyên, việc chính phủ hạn chế và kiểm soát số dự án lắp ráp liên doanh, những đòi hỏi về địa phương hoá, hạn chế nhập khẩu và hạn chế về số vốn nước ngoài trong các dự án giao thông...sẽ bị xoá bỏ.

5- Tăng hình phạt đối với những vi phạm về bảo vệ sở hữu trí tuệ.

R.A. Deegan, Giám đốc chi nhánh tập đoàn Chevron tại Trung Quốc - công ty có những hoạt động khai thác dầu mỏ lớn nhất ngoài khơi Trung Quốc khi ấy nói thẳng rằng mối quan tâm chính của tập đoàn là làm sao giành được những cơ hội khai thác trong đất liền.

Mặc dù liên doanh Exxon China là công ty đầu tiên giành được giấy phép khai thác dầu đầu tiên trên đất liền, nhưng nhiều công ty nước ngoài hiện bị giới hạn hoạt động khai thác dầu khí của họ ở ngoài khơi.

Ngành công nghiệp dầu mỏ vốn quen với những dàn xếp liên doanh và chấp nhận chuyển giao công nghệ cùng nhiều điều lệ khác, do vậy những quy tắc của Trung Quốc dường như không mấy hợp lý đối với các công ty dầu khí.

Không chỉ có ngành dầu khí, ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng ủng hộ mạnh mẽ việc Trung Quốc gia nhập WTO. Đại diện của cả hai tập đoàn ô tô lớn nhất nước Mỹ là General Motors và Ford đều đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gia nhập này.

Pat Hawkins, Giám đốc General Motors tại Trung Quốc cho biết tập đoàn này coi những quy chế về thành lập liên doanh áp đặt lên khối sản xuất ô tô là khá phiền hà trong khi Stephanie Hallford của tập đoàn Ford thì tỏ ra hài lòng với những liên doanh đã thành lập được và chẳng hề lo ngại về việc giành quyền sở hữu 100% các nhà máy ô tô ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, Hallford cho rằng chính sách kinh tế vĩ mô là mối quan tâm chính của công ty và Ford muốn có tự do tín dụng để kích cầu. Ngoài ra, cả Hallford và Hawkins đều bày tỏ quan ngại về mức thúê cao.

Một vấn đề nữa đối mặt với ngành công nghiệp ô tô ở Trung Quốc là hạ tầng cơ sở. Trung Quốc không được trang bị đầy đủ để giải quyết tình trạng gia tăng sử dụng xe hơi. Thực tế, những thành phố lớn ở nước này đều phải chịu một lưu lượng giao thông quá sức và taxi xem ra nhiều hơn xe riêng.

Ngành công nghiệp xe hơi thậm chí đã phải vận động để chính quyền Trung Quốc xiết chặt tiêu chuẩn về ô nhiễm sau khi thấy rằng ở những thành phố bị ô nhiễm nặng trong nước này, lượng xe hơi xả khói nhiều sẽ dẫn tới thảm hoạ cho sức khoẻ cộng dồng, đe doạ doanh số bán của họ.

Sau những nỗ lực của giới sản xuất ô tô nước ngoài, Trung Quốc đã tuyên bố một giai đoạn cấm sử dụng xăng pha chì.

Các vấn đề khác được giới doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại Trung Quốc nêu ra là những ràng buộc trong việc chuyển giao công nghệ, đòi hỏi về cán cân ngoại tệ, cuộc tranh giành quyền điều hành với các đối tác trong liên doanh, quyền lợi đối với dịch vụ tại Trung Quốc, khả năng được giữ người lao động và tính minh bạch trong quy chế...Nói tóm lại, tất cả lợi ích của họ tại Trung Quốc đều đòi hỏi phải có một thoả thuận cuối cùng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. Để có được những ưu đãi ấy, Trung Quốc phải gia nhập WTO.

Với những nỗ lực của chính phủ Trung Quốc, cộng với chiến dịch vận động hành lang của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, cuối cùng Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 11/12/2001.

Khi Trung Quốc đã hiểu lobby

Từ sau khi gia nhập WTO, cánh cửa của thị trường Trung Quốc càng rộng mở đón các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư. Việc gia nhập WTO với mức thuế quan ưu đãi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc tiến vào thị trường các nước để thúc đẩy kinh doanh. Trong quá trình khám phá, tìm hiểu và chinh phục ấy, một chiến lược không thể thiếu của họ là "lobby".

Theo báo cáo của The Center for Public Integrity được tiến hành dựa trên những thông tin cung cấp cho Bộ Tư Pháp Mỹ theo Đạo luật đăng ký Làm việc cho nước ngoài (FARA), các doanh nghiệp Trung Quốc đã thuê nhiều công ty lobby xuất chúng và có quan hệ sâu rộng nhất, những chuyên gia PR uy tín và nhiều công ty luật danh tiếng tại Washington để vận động cho họ.

Tiêu biểu trong số này là Jones Day, Patton Boggs, Hogan&Hartson, WPP với các chi nhánh Wexler and Walker Public Policy Associates, Hill&Knowlton, Inc. và Burson-Marsteller... Hợp đồng với các công ty trên bao gồm đủ loại dịch vụ, từ việc sắp xếp các cuộc gặp với Thượng nghị sĩ Mỹ tới những chiến dịch thuyết phục Quốc hội Mỹ phê chuẩn những đạo luật về thương mại, thuế quan...ảnh hưởng tới Trung Quốc.

Các chuyên gia PR và vận động hành lang giúp Trung Quốc đã tiếp xúc với nhân viên Quốc hội Mỹ, thết đãi các nghị sĩ Mỹ, tiếp cận với những tờ báo có ảnh hưởng từ Washington Times tới New York Times...

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:33 PM
Chuyện công ty Trung Quốc mua hãng dầu Mỹ

Từ khi trở thành thành viên của WTO, các cơ hội làm ăn với nước ngoài, nhất là với Mỹ liên tiếp tới tay doanh nghiệp Trung Quốc. Để khai thác hiệu quả cơ hội ấy, Trung Quốc đã chủ động đẩy mạnh chiến lược lobby. Một trong những hoạt động lobby nổi bật nhất của phía Trung Quốc thời gian gần đây là vụ đấu thầu công ty dầu khí Unocal (California)của Tổng Công ty dầu ngoài khơi Trung Quốc.

CNOOC là ai ?

Sáu năm trước, một công ty dầu lửa mang tên Tổng Công ty Dầu ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC Ltd) lần đầu tiên bước vào thị trường tài chính Phố Wall với một đề nghị mua bán công khai tại New York và Hongkong. Nhưng họ đã thất bại. Đề nghị không hợp thời, lời tư vấn không đúng đắn từ các ngân hàng và lợi ích cho nhà đầu tư quá "mờ mịt" đã buộc CNOOC phải rút thầu vào phút cuối, đợi thêm hơn 1 năm nữa trước khi thử lại.

"Đó là một quá trình học hỏi", Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC Phó Thành Hội, người giữ chức Phó Chủ tịch CNOOC khi ấy nói. "CNOOC là một công ty lớn, nhưng chưa ai hiểu chúng tôi. Chúng tôi quyết tâm sẽ không bao giờ mắc sai lầm lần nữa".

6 năm sau, CNOOC lại quyết tâm làm người ta phải chú ý tới họ - và lần này cả thế giới chăm chú dõi theo. Họ tham gia vào một trong những vụ mua bán tập đoàn nước ngoài lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc: cạnh tranh với Tập đoàn Chevron - nhà sản xuất dầu lớn thứ 6 ở Mỹ, trong vụ đấu thầu công ty dầu khí Unocal - California với giá 18,5 tỉ USD. Vụ đấu thầu này cho thấy bước tiến mà CNOOC đã đạt được trong việc học hỏi những nghệ thuật tài chính tập đoàn Phố Wall và nền chính trị nhạy cảm của mối quan hệ Trung-Mỹ.

Theo nhận định của tờ Wall Street Journal khi ấy, với những kiến thức cần thiết về các mối quan hệ cộng đồng ở Mỹ, lại có sự hậu thuẫn to lớn về tài chính từ công ty mẹ và các ngân hàng trong nước, CNOOC có thể tạo ra một khuôn mẫu cho các công ty khác của Trung Quốc học hỏi.

Trên thực tế, ngoài CNOOC, một số công ty khác của Trung Quốc cũng thực hiện chiến thuật của Mỹ để mở rộng quy mô. Khi tập đoàn International Business Machines Corp bán một công ty máy tính tư nhân cho tập đoàn Lenovo Trung Quốc với giá 1,75 tỉ USD, đã có nhiều tiếng nói phản đối từ phía Quốc hội Mỹ. Lập tức, IBM đã phải viện tới Brent Scowcroft, cựu cố vấn an ninh quốc gia Tổng thống Ford và George H. W. Bush để họ duy trì vụ mua bán này.

Một ví dụ khác là nhà sản xuất đồ gia dụng Thanh Đảo Haier Ltd. đã phải hợp lực với hai công ty cổ phần khác của Mỹ để trả giá cao hơn cho nhà sản xuất máy giặt Maytag Corp trước sự cạnh tranh của Ripplewood Holdings.

Hay như đầu năm nay, công ty Internet Trung Quốc - Shanda Interactive Entertainment Ltd niêm yết tại sàn chứng khoán Nasdaq bắt đầu mua cổ phần từ tập đoàn Sina Corp.

Tuy nhiên, quy mô và sự tinh vi trong chiến lược của CNOOC có thể coi là chưa từng có tiền lệ đối với một tập đoàn Trung Quốc. Nó làm người ta có cảm giác CNOOC sẽ là công ty đầu tiên trong số 3 công ty dầu mỏ của Trung Quốc dám đảm nhận trọng trách khó khăn này. Trong khi hai công ty dầu khí khác là PetroChina Co. và Tổng công ty Hoá Dầu Trung Quốc có tiềm lực tài chính lớn hơn, nhưng CNOOC lại nhanh nhẹn và có kinh nghiệm nhiều hơn trong việc giao dịch với các công ty nước ngoài và theo một chừng mực nào đó, CNOOC có phong cách quản lý "Tây phương" hơn.

Khác với hai công ty kia, CNOOC chỉ có 2.524 nhân viên và một loạt nhà máy liên doanh với công ty nước ngoài bao gồm Chevron chuyên sản xuất, khai thác dầu ngoài khơi Trung Quốc. Một nửa trong số 8 thành viên thuộc Hội đồng quản trị không phải là giám đốc điều hành, tất cả họ đều là người nước ngoài. Các cuộc họp của Hội đồng quản trị CNOOC được tiến hành bằng tiếng Anh. Sự bình đẳng ở đây được thể hiện khá rõ: hồi tháng 3, khi một trong số các giám đốc độc lập của CNOOC là Kenneth Courtis bày tỏ quan ngại về vụ mua bán Unocal, Chủ tịch Phó đã lập tức đồng ý hoãn việc đấu thầu để các giám đốc công ty có nhiều thời gian nghiên cứu hơn.

"Dù CNOOC là một công ty có đa phần vốn thuộc sở hữu của nhà nước, chúng tôi vẫn điều hành nó với phong cách không khác mấy so với các công ty phương Tây", ông Phó nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Wall Street Journal. Việc lên kế hoạch đấu thầu Unocal của CNOOC xuất phát từ những bài học mà công ty này đã tích luỹ được từ một loạt vụ giao dịch nhỏ hơn trong vòng vài năm trở lại đây, bắt đầu từ thất bại trong nỗ lực đầu tiên tháng 10/1999. Cho rằng sai lầm của họ là đã "trao số phận của vụ mua bán" vào tay một ngân hàng đầu tư đơn độc, các quan chức CNOOC đã xác định phải thuê ít nhất hai nhà băng tham gia vào bất kì vụ giao dịch nào. Họ cũng quyết định phải đóng vai trò tích cực hơn trong việc giám sát hoạt động của các ngân hàng.

Chuẩn bị

Nắm trong tay một số lượng lớn tài chính, CNOOC đã vạch ra một chiến lược mở rộng các nhà máy sản xuất khí tự nhiên. Năm 2002, CNOOC đã trả cho Repsol YPF SA của Tây Ban Nha 585 triệu USD để mua các mở dầu và khí tại Indonesia, biến công ty này trở thành nhà sản xuất khí ngoài khơi lớn nhất Indonesia. Sau vụ này, CNOOC tiếp tục các vụ giao dịch tại Indonesia và Australia. Trong 4 năm qua, thông qua việc mở rộng và sáp nhập, CNOOC đã tăng sản lượng dầu hàng ngày thêm 57%, lên mức 382.513 thùng.

Nhưng phải đến khi ông Phó Thành Hội được tiến cử lên vị trí cao nhất - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC tháng 10/2003, CNOOC mới có cơ hội để tham gia vụ đấu thầu Unocal. Khác với những người tiền nhiệm, ông Phó sẵn sàng mạo hiểm để mở rộng CNOOC. Trong khi các Chủ tịch trước của CNOOC thích những vụ mua bán kín đáo, và tiến hành các cuộc thương lượng song phương với đối tác thì ông Phó lại thích có một bước tiến dài về quy mô mà việc mua Unocal có thể phù hợp với chiến lược này.

Để chuẩn bị cho kế hoạch đầy tham vọng ấy, CNOOC đã huy động 3 ngân hàng đầu tư, 3 công ty luật, 2 nhóm hoạch định chiến lược truyền thông và một công ty lobby của Texas có mối quan hệ với Nhà Trắng. Vận dụng những chiến thuật tương tự như một chiến dịch tranh cử chính trị tại Mỹ, các cố vấn của CNOOC đã thiết lập ra những "phòng chiến tranh" tại Washington và Bắc Kinh để đối phó với thách thức chính trị nảy sinh từ vụ đấu thầu đồng thời giành sự ủng hộ của các cổ đông Unocal.

Bản thân ông Phó Thành Hội còn có ý định tới Washington để gặp các thành viên tại Quốc Hội với tư cách đại diện cho một công ty Trung Quốc mà đa phần người Mỹ chưa rõ tên tuổi.

Tháng 2/2005, CNOOC chính thức thuê J.P. Morgan Chase & Co. và Goldman Sachs Group Inc. Ông Phó Thành Hội đã chọn ra một chủ ngân hàng uy tín là Charles Lý - thuộc J.P. Morgan để cố vấn cho CNOOC.

Nắm được "luật chơi" của người Mỹ, CNOOC tập hợp một đội ngũ các công ty cố vấn trụ sở tại Mỹ để giúp họ hoạch định chiến lược lobby. Đi đầu trong nỗ lực này là Akin Gump Strauss Hauer & Feld, một công ty luật tại Dallas có quan hệ sâu rộng với cả hai chính đảng tại Quốc hội Mỹ. Thành viên của Akin Gump là những nhà vận động gây quy chính cho Tổng thống Bush, tiêu biểu là Alan D. Feld và Jamesd C. Langdon Jr. Một nhà gây quỹ quan trọng khác cho ông Bush là Bill Paxon, cựu Hạ nghị sĩ đảng Cộng hoà. Hiện ông này là cố vấn cao cấp của Akin Gump.

Một công ty luật danh tiếng khác của Texas là Public Strategies Inc, Austin cũng được CNOOC lựa chọn để phụ trách các vấn đề truyền thông. Hiện công ty này đang chịu sự cố vấn của Brunswick Group - một công ty chiến lược truyền thông chuyên về các vụ sáp nhập và mua bán. Thông qua Public Strategies, CNOOC đã có những quan hệ khá gần gũi với Nhà Trắng. Một trong những Giám đốc điều hành của công ty này là Mark McKinnon từng phụ trách chiến dịch truyền thông của Tổng thống Bush trong mùa bầu cử 2004. Tuy nhiên, McKinnon không trực tiếp làm việc cho CNOOC. Nhân vật phụ trách là Mark Palmer, một chuyên gia về truyền thông thời khủng hoảng.

Ngoài ra, các công ty luật khác như Davis Polk & Wardwell hay Herbert Smith của Hongkong cũng làm việc cho CNOOC.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images988217_T7.jpg
Akin Gump - một trong những công ty lobby hàng đầu được CNOOC thuê

Hành động

Thách thức đối mặt với CNOOC lúc này là làm sao: giới thiệu CNOOC với các quan chức Mỹ và hướng sự chú ý của dư luận Mỹ vào động cơ kinh doanh thuần tuý phía sau vụ mua bán này. Đây là một nhiệm vụ không hề đơn giản nhất là trong bối cảnh hai bên đang vướng mắc về vấn đề hàng dệt may. Nơi gai góc nhất có lẽ là Đồi Capitol.

Đại diện cho CNOOC, Akin Gump đã huy động 13 nhà vận động hành lang có nhiều quan hệ nhất đi đầu là Daniel Spiegel - cựu Đại diện thường trực Mỹ tại LHQ dưới chính quyền Clinton. Mục tiêu của họ là nhằm giành được sự ủng hộ của các nghị sĩ và quan chức Nhà Trắng cho thương vụ của CNOOC.

Theo báo cáo của The Center for Public Integrity, chỉ trong vòng 8 ngày cuối tháng 6, các nhà vận động hành lang của Akin Gump đã tiến hành 250 cuộc tiếp xúc, liên lạc với Văn phòng Tổng thống, Văn phòng Phó Tổng thống, Bộ Năng lượng, Bộ Thương Mại và hàng tá nghị sĩ cùng phụ tá nghị sĩ khá. Trong khi các nhà vận động hành lang chính gõ cửa nhà từng nghị sĩ, những người khác tại Akin Gump miệt mài bên điện thoại và máy vi tính. Họ gửi đi những bức email chứa thông tin về CNOOC đồng thời phân phát các bài báo "khen ngợi" về công ty này.

Bản thân các lãnh đạo CNOOC đi đầu là Phó Thành Hội cũng tham gia vận động hành lang tại nghị trường nước Mỹ. Ngày 22/6/2005, các thành viên trong Quốc hội đã nhận được một bức email từ CNOOC với nội dung bảo vệ vụ mua công ty Unocal. Bức email được ký tên Phó Thành Hội, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC. Trong thư, ông Phó đã cố gắng trấn an một số quan ngại mà thương vụ này đặt ra về an ninh năng lượng Mỹ bằng cách nhấn mạnh rằng: sản lượng dầu và khí của Unocal chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng lượng tiêu thụ ở Mỹ.

Ông lặp lại rằng đề xuất của CNOOC sẽ mang lại lợi ích cho các cổ đông của Unocal và đảm bảo toàn bộ công nhân đang làm việc cho Unocal ở Mỹ sẽ tiếp tục việc làm của họ một khi vụ sáp nhập hoàn tất.

"Chúng tôi biết rằng đây là vụ mua bán lịch sử đối với cả hai bên và tất cả những ai liên quan sẽ giám sát nó một cách chặt chẽ. Tôi muốn các ngài biết rằng chúng tôi khuyến khích việc giám sát và vinh dự có cơ hội tham gia cuộc chơi", trích nội dung bức thư.

Cuối thư, Chủ tịch CNOOC không quên lưu ý: nếu các nghị sĩ Mỹ cần thêm thông tin gì, họ có thể liên lạc với các cố vấn của CNOOC tại công ty luật Akin Gump Strauss Hauer & Feld, Washington

Chính phủ Trung Quốc cũng có một số động thái giúp đỡ CNOOC. Tại một hội nghị năng lượng tổ chức ở New Orleans, Phó Chủ tịch Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Zhang Guobao, tuyên bố: "Việc tuyên truyền về "nguy cơ Trung Quốc" và cố tìm cách kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc, chặn đứng nhu cầu năng lượng của người Trung Quốc sẽ không phục vụ sự ổn định và phát triển của thế giới. Những nỗ lực ấy cuối cùng sẽ thất bại".

Còn trong một tuyên bố đưa ra sau đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích Quốc hội Mỹ vì "những suy nghĩ sai lầm" đồng thời yêu cầu các nghị sĩ chấm dứt "can thiệp" vào vụ đấu thầu của CNOOC. "Việc CNOOC muốn mua công ty Unocal của Mỹ là một hoạt động thương mại bình thường giữa các doanh nghiệp và nó không nên trở thành nạn nhân của bất kì sự can thiệp chính trị nào", trích tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Nhưng sau tất cả những nỗ lực ấy, vụ mua bán cuối cùng thất bại. Ngày 2/8, CNOOC chính thức tuyên bố rút khỏi cuộc cạnh tranh. Đã có rất nhiều sự chỉ trích nhằm vào phía Mỹ và động viên dành cho CNOOC. Đây là một bài học kinh nghiệm đắt giá đối với người Hoa nhưng nó không làm cho họ nhụt chí. Như bình luận của tờ New York Times, sự tháo lui đó giống như một chiến thuật mà Binh Pháp Tôn Tử nổi tiếng của Trung Hoa đã nêu ra từ hơn 2500 năm trước

LOBBY.VN
03-17-2010, 05:57 PM
Dân tộc vận động hành lang

Dân tộc Do Thái là dân tộc với nhiều bí ẩn, rất nhiều bạn đọc muốn tìm hiểu bí mật thành công của người Do Thái. Trong bài viết này tôi muốn trình bày góc nhìn mới về dân tộc Do Thái, góc nhìn họ là một dân tộc vận động hành lang.

1.Khái niệm Tiền – Tri thức – Trí tuệ của người Do Thái

Trong quá khứ và hiện tại dân tộc Do Thái luôn được gắn với phẩm chất về tri thức và trí tuệ. Dân tộc Do Thái có lẽ là dân tộc giàu có nhất trên thế giới nếu tính đến tài năng. Những cái tên Do Thái có tầm ảnh hưởng đến toàn nhân loại luôn nằm trên đầu các danh sách ở hầu hết mọi lĩnh vực, tư tưởng, chính trị, văn học, giải trí, tài chính.

Do Thái là một dân tộc rất coi trọng trí tuệ. Thành công của họ cũng thường do cực kỳ mưu trí mà giành được, đặc biệt chỉ riêng về doanh nhân Do Thái vai trò của họ đến nền tài chính thế giới đã nói lên tất cả. Những giá trị hữu hình như tài chính tiền tệ có thể rất dễ nhận biết nhưng khái niệm Trí Tuệ lại là một khái niệm rất mơ hồ đụng chạm đến một phạm vi rộng lớn. Nó được định nghĩa không rõ ràng, do đó trí tuệ là gì cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo các doanh nhân Do Thái trí tuệ là gì?

Người Do Thái có một chuyện vui cười nói về mối quan hệ giữa trí tuệ với của cải: Có hai học giả nói chuyện với nhau.


Trí tuệ và tiền bạc cái nào quan trọng hơn ?
Tất nhiên là trí tuệ quan trọng hơn !

Vậy tại sao người có trí tuệ lại phải làm việc cho người giàu có nhiều tiền bạc. Người giàu lại không phải phục vụ người có trí tuệ. Ai cũng đều thấy các học giả triết gia phải chiều lòng theo ý muốn các triệu phú, còn các triệu phú lại có thái độ trịnh thượng đối với người có trí tuệ.

Người có trí tuệ biết được giá trị của tiền bạc, còn triệu phú liệu có luôn hiểu rõ giá trị của trí tuệ? Không thể cho rằng lời nói của học giả thiếu đạo lý bởi con người ta có biết được giá trị của đồng tiền mới đi làm việc cho nhà giàu. Chỉ những ai không biết giá trị của trí tuệ mới lên mặt đối với bậc trí giả. Rất khó thể hiểu được hết ý nghĩa sâu xa của nó bản thân khái niệm của Trí Tuệ và Tiền Bạc là một nghịch lý.

Người có trí tuệ đã biết được giá trị của tiền bạc, vậy tại sao không dùng trí tuệ để kiếm tiền bạc? Biết được giá trị của đồng tiền nhưng vẫn phải dựa vào sự phục vụ các triệu phú để kiếm sống. Trí tuệ như vậy có gì và còn đáng được coi trọng không?

Tuy trí tuệ của các học giả triết gia được gọi là “Trí Tuệ” nhưng không phải là trí tuệ thực sự vì nó không có quan hệ gì với đồng tiền. Trí tuệ phải chịu trước sự kiêu hãnh của đồng tiền sao có thể quan trọng hơn tiền bạc. Trái lại các triệu phú không có trí tuệ như học giả nhưng lại biết chi phối đồng tiền thu nhận được giá trị của nó. Họ có trí tuệ dựa vào đồng tiền để sai khiến trí tuệ của các học giả đó mới là trí tuệ thức sự.

Và người Do Thái đã đưa ra một khái niệm tổng quát về đồng tiền như sau:

Đồng tiền sống có thể không ngừng sinh ra tiền mới, quan trọng hơn, trí tuệ chết không sinh ra tiền. Trái lại trí tuệ sống có thể sinh ra tiền còn đồng tiền chết không thể sinh ra tiền mới. Trí tuệ hoá nhập với đồng tiền được gọi là trí tuệ sống. Đồng tiền hoá nhập với trí tuệ được gọi là đồng tiền sống. Rất khó để phân biệt ngôi thứ giữa trí tuệ sống và đồng tiền sống. Thực tế hai vấn đề này đồng thời là một nó chỉ là một sự kết hợp đầy đủ chặt chẽ giữa nhau.

Xây dựng được mối quan hệ đồng nhất giữa trí tuệ và tiền bạc giúp các thương gia Do Thái trở thành những nhà buôn trí tuệ nhất.


Người Do Thái coi trọng quá trình học tập suốt đời, học tập phải suy nghĩ, họ có thể không cần phải học tập trong các trường chính quy, học có thể tự học để có được tri thức cần thiết. Không phải ai có tri thức cũng có trí tuệ, người có trí tuệ là người biết dùng tri thức mình có để kiếm tiền. Nếu người có trí thức uyên bác mà không biết dùng tri thức đó kiếm tiền thì trí thức đó chỉ là những cái trống rỗng như một kẻ cõng trên mình cả đống sách mà không biết dùng để làm gì thì cũng vô dụng.

Trong lịch sử Do Thái đã từng ghi nhận rất nhiều những tấm guơng cả cuộc đời chưa từng được bước chân vào một trường học chính quy nhưng họ vẫn trở thành những nhân vật giàu có bậc nhất, tri thức tự học và trí tuệ của họ đã làm nên điều đó.

2. Quy luật vận động của tự nhiên

Thế giới vận động theo các quy luật của tự nhiên, muôn loài trên trái đất tồn tại và phát triển phải tuân theo các quy luật tự nhiên đó. Loài vật nào có bản năng sinh tồn mạnh mẽ thì sẽ tồn tại, tiến hóa và phát triển, loài vật nào thụ động không biến đổi kịp với quy luật tự nhiên thì sẽ bị tiêu diệt. Tự nhiên rất đa dạng, ở các vùng đất đồng bằng phù xa mầu mỡ cây cuối rất dễ phát triển, cây cối vùng đất này có đặc trưng là thân mềm, yếu ớt trước sóng gió. Vùng đất khô cằn, núi đá vôi thì cây cối thường phát triển chậm, thân cứng, rắn chắc…đó là nơi các cây gỗ quý như gỗ Lim, pơ mu…

Trong thế giới động vật, con vật nào mà sinh mạng luôn bị đe dọa thì các giác quan chống lại sự săn đuổi của kẻ thù sẽ rất phát triển. Tai thính hơn, mắt sáng hơn, chân chạy nhanh hơn…môi trường sống khắc nhiệt là điều kiện để loài vật tiến hóa nhanh , phát triển để đảm bảo cơ hội tồn tại trên thế giới này, chậm phát triển con vật đó nhanh chóng trở thành miếng mồi ngon của kẻ săn mồi, đánh mất cơ hội tồn tại.

Dân tộc Do Thái được biết đến là dân tộc có bản năng sinh tồn mạnh mẽ, dân tộc lưu vong suốt 2000 năm, bị các dân tộc khác áp bức, bóc lột nhưng họ vẫn tồn tại, phát triển và đạt được những thành tựu vĩ đại cả thế giới ngưỡng mộ.

Người Do Thái được ví như hình ảnh con Tắc Kè, nó phát triển khả năng thay đổi màu sắc cơ thể, đến môi trường nào nó lập tức thay đổi màu sắc để hòa lẫn vào môi trường đó, khả năng này giúp nó trốn tránh kẻ thù. Người Do Thái phải lưu vong từ quốc gia này sang quốc gia khác, họ phải nhanh chóng thích nghi với sự khác biệt về văn hóa, pháp luật, môi trường kinh doanh của quốc gia họ đi đến. Họ hòa nhập và xã hội mới, họ lao động, họ thành công và khi có ảnh hưởng lớn trong xã hội họ đủ khả năng thay đổi môi trường xã hội đó theo cách thức họ mong muốn

Họ vận động các chính sách đạo luật riêng cho cộng đồng Do Thái ở quốc gia họ sinh sống, họ gia nhập nhóm cộng đồng có đóng góp nhiều cho xã hội, được xã hội nể trọng. Ở nhiều quốc gia người Do Thái có ảnh hưởng đến mức có thể coi họ đã tiến hóa từ việc là con mồi trong quá khứ trở thành kẻ săn mồi trong hiện tại.

3. Dân tộc vận động hành lang

Truyền thống văn hóa, tư tưởng tôn giáo Do Thái hàng ngàn năm qua không thay đổi, nó có ảnh hưởng tới mọi hoạt động của mỗi cá nhân người Do Thái.

Dân tộc Do Thái là dân tộc sáng tạo luôn có tư tưởng chinh phục miền đất mới, vùng ảnh hưởng mới. Người Do Thái định cư ở tất cả các châu lục, sinh sống làm ăn ở hầu hết các quốc gia có nền văn hóa, kinh tế lớn và các quốc gia có vị trí địa lý quan trọng trên thế giới.

Người Do Thái có trí tưởng tượng đặc biệt, họ luôn tìm cách sáng tạo ra giá trị mới cho xã hội, những giá trị chưa từng tồn tại trong xã hội loài người. Người Do Thái thành công nổi bật trong lĩnh vực thương mại, tài chính, công nghệ…những lĩnh vực trừu tượng cần trí tuệ và khả năng biến đổi, đọc thời cuộc của dân tộc Do Thái.

Người Do Thái di cư sang Châu Âu sinh sống chủ yếu bằng hoạt động thương mại, họ giúp hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia phát triển. mang hàng hóa từ vùng đất này sang vùng đất khác để kiếm lợi nhuận. Mạng lưới người Do Thái phân bố khắp các quốc gia giúp họ tạo quyền lực thương mại đối với các dân tộc khác, họ là dân tộc cung cấp các dịch vụ trung gian, môi giới cho các dân tộc khác.

Ví dụ người Do Thái sống ở Đức và Pháp có liên hệ chặt chẽ với nhau và ngày càng có ảnh hưởng trong xã hội. Khi Đức và Pháp thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược lẫn nhau dân Do Thái đứng ở giữa bán vũ khí, lương thực…cho cả hai bên tham chiến. Những cuộc chiến tranh giúp cho dân tộc Do Thái tích lũy được nguồn vốn khổng lồ đây là nền tảng xây dựng ảnh hưởng dân tộc hùng mạnh đến tận ngày nay.

Dân tộc bản địa với quy mô dân số lớn, có nền văn hóa riêng, có nền sản xuất phát triển là những kẻ viết luật chơi cho xã hội, người Do Thái chỉ là con tắc kè phải thích nghi với các luật chơi biến đổi của dân tộc bản địa. Dân tộc bản địa luôn coi dân Do Thái là dân tộc lật lọng, cơ hội, sau mỗi cuộc chiến nền kinh tế khó khăn thì họ cần dân Do Thái giúp họ thúc đẩy hoạt động thương mại, khôi phục kinh tế. Khi nền kinh tế đi vào ổn định họ không cần dân Do Thái nữa thì họ đưa ra các đạo luật giới hạn hoạt động người Do Thái, xây dựng đạo luật bài Do Thái…cuộc sống và sinh mạng dân tộc Do Thái luôn bị đe dọa…đây cũng chính là môi trường khắc nghiệt, là động lực để người Do Thái sáng tạo phát triển.

Trong quá khư dân tộc Do Thái được xã hội đánh giá là dân tộc môi giới, trung gian giữa các vùng ảnh hưởng. Luôn luôn tìm cách phục vụ lợi ích của ảnh hưởng để tìm con đường sống, tìm lợi ích cho dân tộc. Các khái niệm dân tộc thuyết khách hay dân tộc vận động hành lang cũng là phẩm chất trời phù của dân tộc Do Thái.

Trên trái đất này có hàng ngàn dân tộc sinh sống, mối dân tộc có lịch sử, truyền thống qua hàng ngàn năm, muốn được thế giới biết đến mỗi dân tộc cần tập trung sáng tạo phát triển phẩm chất nổi bật nhất của mình. Đóng gióp các giá trị mới cho nhân loại, những giá trị mà các dân tộc khác phải học tập, phải sử dụng giá trị đó.

Đi tìm giá trị cốt lỗi của dân tộc, lên kế hoạch xây dựng sức mạnh cho giá trị cốt lõi đó là mục tiêu mà không nhiều dân tộc trên thế giới này đạt được. Là người Việt Nam tôi và bạn luôn muốn tìm câu trả lời “Giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam là gì” làm thế nào để xây dựng sức mạnh cho giá trị đó.

Người Do Thái nắm quyền chi phối sức mạnh thương mại, tài chính, công nghệ toàn cầu. Mỗi người Do Thái luôn có trong mình tư duy của một ông chủ, dân tộc Do Thái muốn làm ông chủ của thế giới.

Thương mại: Người Do Thái sở hữu các hãng vận tải lớn trên thế giới ở mọi hình thức vận chuyển như hàng không, đường biển…tư duy của một dân tộc đi buôn, mua đi bán lại mọi loại hàng hóa thế giới cần, mang hàng từ nơi sản xuất dư thừa đến nơi có nhu cầu tiêu thụ

Công nghệ: Người Do Thái đầu tư tiền xây dựng các trường đại học, xây dựng các phòng thí nghiệm để nắm được các công nghệ mới nhất trên thế giới. Tại Mỹ người Do Thái hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm lớn để tài trợ cho ý tưởng sáng tạo, phát minh công nghệ đột phá. Công nghệ là vũ khí tạo cho dân tộc Do Thái sức mạnh chinh phục thế giới nhanh nhất. Người Do Thái là chủ nhân sở hữu rất nhiều công ty công nghệ có ảnh hưởng toàn cầu hiện nay, các ông chủ tài chính Do Thái lựa chọn một người Do Thái tạo hình ảnh lãnh đạo lĩnh vực công nghệ đó

Tài chính: Người ta nói rằng các gia tộc Do Thái chi phối nguồn tài chính toàn cầu, các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn nhất thế giới đều nằm trong tay người Do Thái. Người Do Thái là ông chủ của trung tâm tài chính London, NewYork, dòng tài chính như dòng máu trong cơ thể không có máu cơ thể không thể sống được. Tài chính là hoạt động kinh doanh cao nhất của nền kinh tế, dân tộc nào nắm được lĩnh vực tài chính dân tộc đó sẽ là ông chủ của thế giới

Các dân tộc bản địa khác trên thế giới phát triển dựa vào nguồn tài nguyên, nguồn lao động sản xuất ra hàng hóa phục vụ cuộc sống con người khắp thế giới. Nguồn hàng hóa này muốn đến tay người tiêu dùng thì các nhà sản xuất phải bán lại cho hệ thống các nhà buôn quốc tế, nhà buôn tầm cỡ toàn cầu này chính là các nhà buôn Do Thái. Mua đi bán lại hàng hóa toàn cầu giúp họ kiếm được lợi nhuận còn lớn hơn lợi nhuận của những dân tộc sản xuất ra sản phẩm đó.

Dầu lửa, than đá, hàng may mặc, đồ gỗ, thực phẩm…tất cả hoạt động bị chi phối bởi các tổ chức tài chính

Lobby Vietnam Cub: Dân tộc Do Thái – Dân tộc vận động hành lang với sức mạnh tài chính, công nghệ và giá trị văn hóa truyền thống Do Thái đã viết luật chơi cho nền kinh tế toàn cầu. Vượt qua chính sách của các dân tộc bản địa với quy mô dân số lớn, quá trình lịch sử phát triển dân tộc biết cách đi giữa các vùng ảnh hưởng để sinh tồn. Các bạn có thể đọc qua các cuốn sách “Người Do Thái với thế giới và tiền bạc” – “Trí tuệ Do Thái” để có góc nhìn tổng quan hơn

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

thoidaianhhung
03-17-2010, 06:05 PM
Kiềm chế nghề lobby để loại bỏ các lợi ích ngầm trong điều hành của chính phủ


Hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng nghìn người vận động hành lang (lobby) có thể bị loại khỏi các ủy ban tư vấn trên phạm vi toàn nước Mỹ. Theo một số quan chức Nhà Trắng cũng như các chuyên gia vận động hành lang, đây được coi là một phần của chương trình hành động của chính quyền Obama trong việc kiềm chế ảnh hưởng của "Phố K." (tên một con phố thuộc thủ đô Washington - chỉ ngành công nghiệp "vận động hành lang" ở Mỹ - ND) lên hệ thống cơ quan Nhà nước.

Chính sách mới này được một nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng soạn thảo và thông qua một cách lặng lẽ là "đòn đau" nhất đối với nhóm người vận động hành lang ngay trong thời kỳ đầu nhiệm kỳ của ông Obama. Tổng thống Obama cũng đang yêu cầu cấp dưới tìm cách hạn chế khả năng để cho những người vận động hành lang làm việc cho bất kỳ cơ quan nhà nước nào.

Động thái này của chính quyền Obama nhắm đến những người vận động hành lang trong hệ thống các ủy ban tư vấn - vốn nhiều như sao sa, đến mức các quan chức liên bang cũng không nắm nổi số lượng. Một điều tra gần đây cho thấy có khoảng 1.000 ủy ban như thế với con số thành viên vượt quá 60.000 người.

Theo tính toán, với việc thực hiện chính sách này trong những tháng tới, khoảng 13.000 người vận động hành lang tại Washington không còn cơ hội tham gia các ủy ban vốn có nhiệm vụ cố vấn các vấn đề luật lệ thương mại, quy tắc về môi trường, bảo vệ người tiêu dùng cũng như hàng ngàn chính sách công khác.

Eisen, thành viên nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng, người tiết lộ chính sách mới này trên blog tại website của Nhà Trắng, nhận xét: Một số người vừa làm trong các ủy ban tư vấn vừa thực hiện việc vận động hành lang đối với chính phủ. Những lợi ích đặc thù mà những người này đeo đuổi nhiều khi không phù hợp với lợi ích quốc gia.

Sự thực là, phần lớn những người tham gia các ủy ban tư vấn không được trả thù lao. Họ thường được các công ty, tập đoàn, nghiệp đoàn "trải thảm đỏ" chỉ nhằm gây ảnh hưởng lên các quyết sách của chính phủ theo hướng có lợi cho doanh nghiệp hay tổ chức đó.

Các luật sư của chính phủ lo ngại rằng, chính phủ không thể "sa thải" những người làm nghề vận động hành lang ra khỏi các ủy ban tư vấn bởi lẽ các ủy ban này thường do các tổ chức tư nhân điều hành chứ không phải cơ quan trực thuộc hệ thống hành pháp. Tuy nhiên, các quan chức chính phủ cũng cho rằng, đa số bộ trưởng trong nội các đã bắt đầu để ý đến vấn đề này qua việc không phục hồi cũng như chấp nhận những người vận động hành lang tham gia các ủy ban tư vấn.

Phản ứng mạnh mẽ nhất trước quyết định của Nhà Trắng là Ủy ban Tư vấn công thương (ITAC). ITAC đổ lỗi cho chính phủ đã ban hành một chính sách sai lầm và có hại đối với các lợi ích kinh tế của Mỹ.

Một lá thư do lãnh đạo các ủy ban này gửi cho Tổng thống Obama nhận được sự ủng hộ của nhiều quan chức tại các tập đoàn lớn như Boeing, IBM, Harley-Davidson, Công ty Giấy quốc tế (International Paper)... "Chính sách của Nhà Trắng phá hủy lợi ích mà các ủy ban tư vấn đem lại", lá thư này nhấn mạnh - "Chính quyền đã dùng chính những thế mạnh của các chuyên gia tư vấn để loại họ ra khỏi hệ thống các ủy ban tư vấn".

Ví dụ, Ủy ban Tư vấn về thiết bị và vốn cho ngành công nghiệp ôtô đã khoanh tay đứng nhìn khoảng hơn 20 thành viên (bao gồm nhiều người vận động hành lang) bị "mất việc" khi ủy ban này tái cấu trúc vào đầu năm tới. Các nhà phân tích cho rằng, sự ra đi này bắt nguồn từ cuộc đấu tranh để tồn tại của các nhà sản xuất ôtô trong nước cũng như những nỗ lực của chính quyền Obama trong việc tái khởi động các cuộc thương thảo với Hàn Quốc và một số nước khác.

Brian T. Petty, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn về thiết bị và vốn cho ngành công nghiệp ôtô kiêm Phó chủ tịch cao cấp nhóm làm việc của Chính phủ Mỹ trong Hiệp hội Quốc tế các nhà thầu, nói: "Chính phủ đang tự kiềm chế ý kiến của các doanh nhân Mỹ trong các cuộc thương thảo này bằng cách loại bỏ những người xuất sắc nhất".

Phía các nhà hành pháp nhấn mạnh rằng, các cố vấn từ khối doanh nghiệp có thể tham gia các ủy ban tư vấn nếu họ không làm nghề vận động hàng lang. Eisen, thành viên nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng, trong lá thư trả lời lãnh đạo ITAC, viết rằng: "Những lập luận rằng chỉ có những người vận động hành lang mới có đủ kinh nghiệm để tư vấn đúng đắn là không thuyết phục".

"Nếu kết quả của chính sách mới (loại bỏ tiếng nói của người vận động hàng lang) dẫn tới việc các doanh nhân tham gia nhiều hơn vào các cuộc thảo luận về những chính sách liên quan tới họ (thay vì thông qua những người vận động hành lang), thì đó là điều tốt chứ. Những cố vấn chuyên nghiệp phục vụ những lợi ích đặc thù không cần thiết có mặt trong các ủy ban tư vấn. Hãy để những “giọng nói” mới lên tiếng".

Và mặc dầu những người vận động hành lang không vui lắm thì một số cố vấn có uy tín cho chính quyền lại cho rằng chính sách này rất đúng đắn. "Chính phủ cũng có thể mất nhiều chuyên gia giỏi nhưng các chuyên gia này cũng đã được trả công xứng đáng cho công việc của mình trong thời gian qua, họ đã có nhiều ảnh hưởng trong chính trường", Mary Boyle, Phó chủ tịch Common Cause (tổ chức đấu tranh nhằm lành mạnh hóa các cơ quan chính phủ đáp ứng yêu cầu của nhà nước và công dân - ND) nói. Chuyên gia này cũng bày tỏ sự "ủng hộ việc các cơ quan hành pháp đang làm nhằm loại bỏ các lợi ích ngầm ra khỏi công việc điều hành chính phủ"

LOBBY.VN
03-24-2010, 08:01 PM
Công nghệ lobby của các chính trị gia Anh

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/100323075116__47521458_trio226_pa.jpg
Các dân biểu Stephen Byers, Patricia Hewitt và Geoff Hoon nói họ không phạm luật

Các chính trị gia ở mọi phe phái đều nói thấy "sốc" và "kinh sợ" về việc các cựu bộ trưởng đảng Lao động đương quyền muốn đánh đổi việc gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ để lấy tiền.

Chỉ còn vài tuần nữa là tới kỳ bầu cử, họ biết kiểu thông tin như thế gây tác động tồi tệ tới đâu đối với các cử tri vốn đã khó chịu về vụ bê bối kê gian chi phí hồi năm ngoái.

Và tuy các dân biểu đảng Lao Động nay đang bị lôi ra ánh sáng, nhưng họ cũng biết rằng các câu chuyện tương tự đều xảy ra ở tất cả các nơi trong bộ máy chính trị. Đảng Bảo thủ thời nắm quyền cũng từng dính vào các bê bối vận động hành lang.

Lần này, các cựu bộ trưởng có liên quan, gồm Stephen Byers, Patricia Hewitt và Geoff Hoon, thì nói rằng họ chả làm gì sai, và dẫu câu chuyện này là đáng xấu hổ, nhưng chẳng có gì cho thấy họ đã vi phạm luật lệ gì, cho dù ông Byers đang phải đối diện với các câu hỏi cho rằng ông đã nói với các phóng viên bí mật về việc ông đã từng gây ảnh hưởng như thế nào.

Người ta nay đang đặt câu hỏi về chuyện sẽ có nhiều dân biểu rời khỏi Quốc Hội vào tháng tới, trong lúc nhiều mối liên hệ của họ sẽ vẫn tiếp tục có mặt trong chính phủ, và vấn đề quản lý hoạt động vận động hành lang.

Tại Hạ Viện Anh đang ngày càng có thêm đòi hỏi phải thắt chặt quy chế vận động hành lang và chấm dứt "cửa quay", tức chuyện các bộ trưởng sau khi rời chức vụ thì chuyển sang làm các công việc béo bở ở các ngành, trong lúc tiếp tục giữ chức dân biểu.

Vào lúc này, họ phải chờ 12 tháng trước khi nhận một vị trí trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Và mặc dù các lời mời chào công việc cần phải được một ủy ban xem xét trong thời gian 2 năm kể từ khi họ rời chính phủ, nhưng họ lại có quyền phớt lờ yêu cầu này.

Các dân biểu không được phép đưa ra trước Quốc Hội các câu hỏi và nhận tiền trả cho chuyện đó, và để đảm bảo quyền lợi công chúng, họ phải công bố mọi khoản tiền nhận được từ hoạt động vận động hành lang.

Công nghiệp

Trong ngành công nghiệp vận động hành lang trị giá tới 2 tỷ bảng này, có hàng trăm cựu dân biểu, cố vấn và quan chức được các hãng chuyên biệt với lượng khách hàng đa dạng tuyển dụng

Nhưng họ cũng được quyền tư vấn cho khách hàng về những cách thức tốt nhất nhằm thay đổi luật theo hướng có lợi hơn, và trong chuyện mở ra các cuộc họp với các nhà lập pháp.

Trên thực tế có tồn tại một khoảng mờ rất lớn quanh chuyện các cựu bộ trưởng thực sự được phép làm đối với các ông chủ doanh nghiệp.

Bởi hầu hết các hoạt động vận động hành lang diễn ra trong hậu trường, khó ai biết được mức độ ảnh hưởng thực sự của nó đối với các chính sách của chính phủ.

Stephen Byers thì thừa nhận ông đã phóng đại tầm ảnh hưởng của mình khi bị quay phim ông nói về mức giá mà ông đưa ra với các phóng viên ngầm.

Trong ngành công nghiệp vận động hành lang trị giá tới 2 tỷ bảng này, có hàng trăm cựu dân biểu, cố vấn và quan chức được các hãng chuyên biệt với lượng khách hàng đa dạng tuyển dụng.

Vận động hành lang trên thực tế chính là đời sống của hầu hết các nền dân chủ.

Ngay cả những người phản đối hoạt động này cũng không đòi phải cấm tuyệt đối. Các dân biểu phải được phép thay mặt cho các khu vực bầu cử của mình trình bày trước các bộ trưởng.

Hồi năm ngoái, chính phủ đã bác bỏ những lời kêu gọi của Ủy Ban Hành Chính Công, muốn chính thức hóa việc đăng ký hoạt động vận động hành làng, ghi chi tiết danh tính những người hoạt động trong lĩnh vực này, cho dù đó là các cựu bộ trưởng hay cựu quan chức, ai tuyển dụng họ và biên bản các cuộc họp giữa họ với những người có quyền ra quyết định.

Thay vào đó, chính phủ cho ngành này cơ hội cuối cùng để sắp xếp tự quản lý, và nói sẽ công bố chi tiết các cuộc họp giữa các bộ trưởng với các nhóm vận động.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/091104173622_cameron_pa226body.jpg
Lãnh tụ Bảo thủ David Cameron cảnh báo lobbying có thể sẽ trở thành vụ bê bối chính trị lớn

Tất nhiên, việc đăng ký sẽ trả lời được một số câu hỏi về những tiết lội liên quan tới các mối quan hệ giữa Byers với các bộ trưởng và các công ty, vốn đã bị công bố trên báo Sunday Times và kênh truyền hình Channel 4.

Nhưng những nhà vận động thì đang hy vọng là các tiết lộ mới nhất sẽ khiến chính phủ phải có thêm hành động.

"Thối rữa"

Đảng Lao động nay cam kết sẽ đưa việc đăng ký bắt buộc các nhà vận động hành lang vào cương lĩnh tranh cử.

Đảng Tự do Dân chủ cũng ủng hộ việc cần minh bạch nhiều hơn nữa.

Đảng Bảo thủ nói họ sẽ viết lại quy tắc hoạt động nhằm cấm việc các bộ trưởng nhận công việc vận động hành lang trong vòng hai năm sau khi rời nhiệm sở, và bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này sẽ đều có nguy cơ bị tước khoản hưu bổng.

Hồi đầu năm, lãnh tụ phe Bảo thủ David Cameron đã gây sốc cho ngành công nghiệp vận động hành lang khi nói lĩnh vực này nay đã vượt khỏi tầm kiểm soát và sẽ là vụ bê bối chính trị lớn sắp xảy ra.

Vấn đề là lúc nào cũng có chuyện các dân biểu và các cựu bộ trưởng kết thúc nhiệm kỳ tại Quốc Hội, cần tìm kiếm công việc mới, mà tài sản đáng giá nhất họ có thể đem ra tiếp thị chính là các mối liên hệ của mình

Brian Wheeler
Phóng viên chính trị, BBC News

LOBBY.VN
03-31-2010, 08:20 AM
Đạo đức kinh doanh

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/100322110204_0322_tinto226i.jpg

Nhân vụ xử bốn giám đốc công ty Rio Tinto, mời quý vị đọc bài của Michael Bristow, phóng viên BBC thường trú tại Bắc Kinh về chủ đề tham nhũng:

Hối lộ và các hình thức tham nhũng khác là những vấn đề thường gặp của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc.

Điều này có thể dẫn đến các công ty cho khách hàng các chuyến đi đắt tiền ra nước ngoài, các bữa ăn xa hoa và phong bì đỏ nhồi tiền mặt.

Nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp đều bị cuốn vào thế giới mờ ám đó. Một số công ty nói rằng họ tuân thủ các tiêu chuẩn cao mà họ quan sát ở những nơi khác.

Và một trong những cố vấn kinh doanh nước ngoài cho biết các công ty cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt sẽ luôn luôn làm tốt - ngay cả khi họ từ chối không hối lộ, tham nhũng.

Việc sử dụng hối lộ trong thế giới kinh doanh ở Trung Quốc đang trở thành trung tâm điểm vì phiên tòa liên quan đến bốn giám đốc điều hành làm việc cho công ty khai thác mỏ Anh-Úc Rio Tinto.

Bốn người này vừa bị kết án ở Thượng Hải chịu từ bảy đến 14 năm tù vì nhận hối lộ và ăn cắp bí mật thương mại.

Nhưng việc hối lộ là một vấn đề tới mức nào đối với các công ty nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc?

Một doanh nhân người Anh, người không muốn được nêu tên, nói rằng nó là một vấn đề lớn, đặc biệt ở các thành phố nhỏ hơn của Trung Quốc.

Thông thường trụ sở chính lại rất ít hiểu biết về Trung Quốc và các nhà quản lý khu vực thì thường giấu diếm nhiều thứ - Lockne, nhân viên hãng Springtime

Ông kể với đài BBC về một lần khi ông đã cố gắng thành lập một công ty liên doanh với một đối tác Trung Quốc ở tỉnh Sơn Đông.

Các cuộc đàm phán đã diễn ra trong nhiều tuần, nhưng không thành công, ông nói. Sau đó, tại một cuộc họp, ông được yêu cầu bước ra ngoài trò chuyện với một viên chức.

"Ông ta nói tất cả các vấn đề có thể vượt qua được - vì vậy tôi hỏi ông làm thế nào. Ông ta nói nó có thể được thực hiện nếu tôi đưa cho ông ta một triệu nhân dân tệ (tương đương $146,000)," doanh nhân người Anh kể.

Patrik Lockne, một cố vấn cho một hãng tư vấn Thụy Điển, cho biết một trong những vấn đề phổ biến là thiếu thông tin liên lạc giữa văn phòng chính của một công ty và chi nhánh của họ tại Trung Quốc.

Người nước ngoài làm việc tại Trung Quốc đôi khi bị cám dỗ muốn áp dụng các thói quen địa phương để được việc, ông nói.

"Thông thường trụ sở chính lại rất ít hiểu biết về Trung Quốc và các nhà quản lý khu vực thì thường giấu diếm nhiều thứ", ông Lockne, người làm việc cho hãng Springtime cho biết.

'Đi tới'

Điều này dường như đã xảy ra tại Rio Tinto.

Công ty tin vào sự vô tội của nhân viên mình khi họ lần đầu tiên bị giam giữ hồi tháng Bảy năm ngoái và nói rằng các cáo buộc hối lộ đối với các nhân viên này là "hoàn toàn không có cơ sở".

Tại thời điểm đó Rio Tinto cho biết nhân viên của nó đã hành động theo đúng nguyên tắc làm việc của công ty.

Nhưng sau bản án công bố hôm thứ Hai công ty cho biết bốn người làm việc tại Trung Quốc này đã thực hiện các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp theo cách riêng của họ "vượt ra ngoài hệ thống của chúng tôi". Công ty nay đã sa thải những người này.

Nhưng không phải tất cả các doanh nhân nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc đều bị cám dỗ làm điều gì đó thiếu đạo đức - và có thể là bất hợp pháp.

"Tôi nghe về nó và tôi chắc rằng nó đã và đang xảy ra, nhưng tôi nghĩ đó là cách làm ăn kinh doanh cũ - thời thế đã thay đổi", ông Rupert Utteridge, người điều hành công ty viễn thông kỹ thuật số của Úc nói.

"Chúng tôi mời đối tác đi ăn, nhưng tôi cũng làm như thế tại Úc hoặc Hong Kong," ông nói thêm.

Và, cuối cùng, xây dựng một doanh nghiệp thành công ở Trung Quốc có thể chỉ đơn giản là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tốt.

"Có tham nhũng ở Trung Quốc - tất nhiên là có", ông Brian Outlaw, giám đốc điều hành Hội đồng các doanh nghiệp Trung -Anh, chuyên tư vấn cho các công ty muốn thiết lập tại Trung Quốc.

"Nhưng các công ty có thể duy trì các tiêu chí đạo đức của họ. Họ có thể xây dựng theo cách thức giống hệt như bất cứ nơi nào khác - mà vẫn thành công," ông nói

BBCVietnam (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/03/100 329_china_corruption.shtml)

LOBBY.VN
03-31-2010, 04:40 PM
Google – Microsoft lại “đánh nhau” ở Los Angeles

- Ngay khi chính quyền Los Angles tuyên bố muốn thay thế hệ thống email cũ, cả Google và Microsoft đã nhảy vào và “mở một trận địa” mới ngay trong chính tòa thị chính.

Trận Waterloo

Với giá trị khoảng 7,25 triệu USD, bản hợp đồng thay thế hệ thống email của chính quyền Los Angles không phải là nhỏ nhưng thực sự, đó cũng không phải là miếng ngon quá lớn để Google và Microsoft phải “quyết một trận sinh tử”. Tuy nhiên, ý nghĩa lớn hơn đằng sau bản hợp đồng đó là sự quyết định vận mệnh của 2 trường phái trong ngành công nghiệp CNTT: Điện toán truyền thống với đại diện là Microsoft và điện toán đám mây với đại diện là Google.

Không ít người đã gọi đó là một “trận Waterloo” lịch sử trong giới công nghệ.

Để quyết tâm giành lấy chiến thắng, cả 2 đại gia này đã rất tích cực thực hiện các chiến dịch vận động hành lang với đội quân là những chuyên gia lobby từng trải và không loại trừ cả sự tác động gián tiếp của các quan chức cấp cao.

“Chiến trường đã mở ngay tại tòa thị chính Los Angles. Các quan chức của chúng tôi thường xuyên được “ghé tai nói nhỏ” rằng ông Tổng giám đốc Steve Ballmer của Microsoft hay Eric Schmidt của Google “sẽ hơn cả vui mừng” nếu được đến thăm tòa thị chính cùng với sự hiện diện của họ”, Tony Cardenas, Ủy viên hội đồng thành phố, chủ tịch ủy ban Công nghệ và thông tin nói.

“Đó sẽ là một bản hợp đồng lịch sử và dựa vào đó kẻ chiến thắng có thể nhân rộng sự ảnh hưởng của mình ra toàn nước Mỹ cũng như rộng hơn nữa là trên toàn thế giới”, Bernard C. Parks, thành viên của Hội đồng thành phố nói, “Sau này, họ chỉ cần nói chính quyền Los Angles là một trong những khách hàng của họ, rất có thể các khách hàng khác sẽ nhanh chóng đặt bút ký hợp đồng”.

Google sẽ thắng ?

Nhiều người tin rằng Google đang có lợi thế lớn hơn và hoàn toàn có thể giành chiến thắng.

Hơn một thập kỷ qua, thị trường phần mềm xử lý văn bản và email trong doanh nghiệp đã gần như là sân chơi của riêng Microsoft với thị phần chiếm hơn 70% và mang về cho hãng này nguồn doanh thu khoảng 20 tỷ USD mỗi năm.

Nhưng vị thế này đang bị đe dọa dữ dội bởi bộ phần mềm văn phòng Google Apps với ưu thế là gắn bó khá chặt chẽ với dịch vụ thư điện tử Gmail. Theo công bố của Google, hàng ngàn trường cao đẳng, đại học cũng như gần 2 triệu doanh nghiệp trên khắp thế giới đã ứng dụng thành công Google Apps.

Hầu hết các trường học và doanh nghiệp nhỏ hiện vẫn được sử dụng Google Apps miễn phí nhưng một số tập đoàn lớn như hãng công nghệ sinh học Genentech, hãng điện tử Motorola hay hãng sản xuất chip Fairchild Semiconductor đã phải chuyển sang sử dụng Google Apps có trả phí để phục vụ cho nhu cầu khổng lồ của mình.

“Đây là trận chiến quyết định đến tương lai của cả thế giới công nghệ và nếu Google thắng tương lai của chúng ta sẽ là đám mây 100%”, David B. Yoffie, giáo sư trưởng khoa chiến lược kinh doanh của trường đại học kinh tế Harvard nhận định.

Lợi thế của Google là chi phí thấp và sự tiện dụng bởi các dịch vụ đều được duy trì trên nền tảng web. Tất cả các chương trình, dữ liệu sẽ được lưu lại trên các máy chủ của Google và nằm trong một hệ thống mạng toàn cầu và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ loại bớt được mối lo về trung tâm dữ liệu hay nhân viên chuyên trách.

Microsoft cũng chẳng vừa

Nhưng Microsoft cũng đã có những “tuyệt chiêu” của riêng mình để loại bớt những ánh hào quang đang vây xung quanh Google.

Ron Markezich – một giám đốc điều hành bộ phận dịch vụ trực tuyến của Microsoft đã nổ phát súng đầu tiên bằng việc tuyên bố mô hình đám mây của Google chẳng qua vẫn chỉ là một dạng thử nghiệm dành cho khách hàng doanh nghiệp và điều quan trọng là Google thiếu hẳn một bề dày kinh nghiệm với những tập đoàn cấp cao trong các lĩnh vực quan trọng như y dược, tài chính...

Luận điểm này của Ron Markezich còn được “ủng hộ” bằng 2 lần sập mạng ngay trong tháng 9 này của Gmail khiến hàng chục ngàn người dùng không thể nào truy cập được vào hộp thư của họ. “Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Los Angles”, Markezich nói.

Trên thực tế, Google cũng đã từng trúng thầu phát triển và ứng dụng Google Apps cho khá nhiều tập đoàn lớn hay các tổ chức chính quyền liên bang. Cách đây một năm, thủ đô Washington DC cũng đã là khách hàng của họ nhưng cũng chỉ có khoảng 4.000 trong tổng số 38.000 nhân viên của Washington chấp nhận thay thế Microsoft Outlook bằng Google Apps.

Theo tiết lộ của Ủy ban nguyên tắc, Microsoft đã tiêu tốn khoảng 40.000 USD cho các hoạt động vận động hành lang tại Los Angeles trong khi Google mới chỉ bỏ ra chưa đến 10.000 USD.

Ủy ban Thông tin và Công nghệ Los Angeles cho biết, hồ sơ của cả 2 hãng sẽ được xem xét và ngày 5/10 tới sẽ có kết quả

LOBBY.VN
03-31-2010, 05:04 PM
Những vũ khí bí mật trong chiến tranh kinh tế


Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt..., Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại.

Đầu tháng 3-2008, công ty sản xuất máy bay châu Âu EADS giành được hợp đồng thế kỷ: Lầu Năm Góc đặt mua 179 máy bay tiếp tế cho không quân Mỹ. Tổng doanh số 35 tỉ USD! Boeing, đối thủ chính của EADS, kinh hoàng. Bằng cách nào một công ty châu Âu - cho dù có hợp tác với nhóm Northrop Grumman tại Mỹ đi nữa - lại có thể “hớt tay trên” ngay trên sân nhà của nó?

Lập tức sau đó mọi biện pháp đã được tung ra để đối phó với cái nhục “quốc thể” này, thậm chí cả những thủ đoạn tồi bại. Thoạt đầu, Boeing móc ráp mua lại hợp đồng của đối thủ thông qua một quan chức của Lầu Năm Góc. Thế nhưng khi vị này đã cắn câu của Boeing thì mọi việc vỡ lở. Chính thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng hòa, đã nhảy vào can thiệp và dẹp bỏ vụ mua bán này.

Nhiều tác nhân khác cũng nhảy ra hà hơi tiếp sức Boeing tấn công lại đối thủ của mình. Các đòn trả đũa chủ yếu được tiến hành bởi Trung tâm Phụ trách chính sách an ninh (CSP), một cơ quan bao gồm những bộ não chuyên vạch ra các chính sách chiến lược của Mỹ, có quan hệ thân cận với phe tân bảo thủ và giới công nghiệp quân sự Mỹ. CSP tung ra một cuộc chiến thông tin chống lại EADS.

Trên Internet, họ tố giác EADS lừa gạt dư luận Mỹ khi ngụy trang EADS như một công ty Mỹ: xuất hiện một sô quảng cáo trong đó đưa lên hình ảnh các nhân viên Mỹ được EADS trả lương. Đòn kế tiếp: CSP tố cáo thẳng thừng EADS và nước Pháp dùng thủ đoạn tình báo đối với các công ty Mỹ mà không hề có bằng chứng nào! Và đòn sau cùng: quả quyết EADS cung cấp vũ khí cho chế độ của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez bất chấp lệnh cấm vận chính thức. Christian Harbulot, giám đốc Trường đào tạo chiến tranh kinh tế, giải thích: “CSP bào chế những bài báo và tư liệu gửi đến các nhân vật lãnh đạo công luận tại Mỹ để họ xuất hiện trên website của mình. Bởi thế, sức phản hồi thật khủng khiếp”.

Từ 15 năm qua, các báo cáo thương mại đều làm như rất tiến bộ. “Người Mỹ thích huyên thuyên về cạnh tranh và cạnh tranh. Nhưng đúng là đã có một cuộc chiến giành giật thị trường. Và để chiến thắng, mọi phương tiện đều tốt: lobby, móc nối, gây rối loạn hàng ngũ đối phương...” - Christian Harbulot nói tiếp. Các nhà tình báo kinh tế chuyên nghiệp lập ra những “đơn vị tàng hình” bố trí trên trận địa tàn khốc này. Phục vụ các công ty đa quốc gia cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ được thuê mướn để bảo vệ khách hàng của mình khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài hay theo phò tá trong các cuộc chinh phục thị trường. Nói rằng những chiến binh cổ trắng - trí thức - này luôn biết tôn trọng “luật chơi” là... hàm hồ! Tuy nhiên phần lớn các phương pháp của họ đều hoàn toàn... hợp pháp.

Trong thế giới kỹ thuật số, nơi 90% thông tin đều có thể lấy được qua Internet, báo chí, hội thảo... bước đầu tiên của một nhà tình báo kinh tế là thu gom tư liệu. 90% thông tin này được gọi là “trắng”, còn 10% thuộc loại mơ hồ. Thông tin được gọi là “xám” khi thu thập được bằng phương tiện không chính đáng. Chẳng hạn giả dạng nhà báo để biết rõ hơn về chiến lược của một công ty. Thông tin gọi là “đen” khi được thu thập hoàn toàn bất hợp pháp, như xâm nhập hệ thống vi tính hay đánh cắp laptop trên xe lửa. Không có quy luật, chẳng có quy tắc đạo đức nào để ngăn chặn các hành động đó. Chỉ có biện pháp trừng phạt duy nhất là làm mất uy tín của công ty đó trước mắt cổ đông và khách hàng... hay kiện ra tòa khi mọi việc đã diễn tiến tồi tệ.

Muốn dự kiến tình hình, phải biết rõ đối thủ của mình: Họ có mạnh không? Họ thật sự có khả năng đầu tư không? Chiến lược phát triển của họ là gì? Trong phòng thí nghiệm của họ đang có những cải tiến nào đủ sức làm đảo lộn thị trường? Nguồn vốn bị xé lẻ có làm họ yếu đi không? Có thể mua đứt họ được không? Những nhân vật then chốt của họ là ai? Tất cả thông tin này sẽ giúp dựng nên một chân dung và môi trường của mục tiêu.

Muốn có được những thông tin đó không thể chỉ dựa vào các tạp chí kinh tế hay sục sạo trên Internet. Phải biết khởi động mạng lưới các chuyên gia để đánh trúng cửa: nhà luật học, phân tích thị trường, chuyên gia lobby... “Nhưng cũng cần đến cả các tác giả đoạt giải Nobel kinh tế, các quan chức lớn đã về hưu hay các ông cựu bộ trưởng” như lời khuyến cáo của một chuyên gia chuyên thực hiện những hoạt động này. Cũng phải thêm: “Ngay cả những kẻ vô danh vẫn có thể giúp ta tiếp cận mục tiêu. Chẳng hạn ông thầy dạy đánh tennis của một quan chức tài chính”.

Các viện bào chế dược là khách hàng lớn của văn phòng tình báo kinh tế

Cách nay hai năm, một hãng bào chế dược của Pháp tiếp cận một công ty Mỹ để tìm cách mua lại nó. Hai bên đã đồng ý trên nguyên tắc nhưng không ai đưa ra trước giá bán hay giá mua. Khi đó bên dự định mua liên hệ với một văn phòng tình báo kinh tế tại Paris. Mục tiêu: ước tính tổng giá trị của công ty Mỹ này. Văn phòng tình báo đã tiếp cận một số thành viên thuộc ban lãnh đạo của công ty Mỹ, thông qua các nhà báo tài chính và chuyên gia phân tích kinh tế “có vẻ vô tội”.


Khi nắm được đầy đủ thông tin, vụ mua bán có thể được kết thúc chỉ trong vài ngày: người Mỹ sẵn sàng bán lại với giá tối thiểu 115 triệu euro, thấp hơn ước tính của công ty Pháp đến 35 triệu euro. Một số tiền tiết giảm khổng lồ! Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Văn phòng tình báo tại Paris cũng tiếp cận nhân viên phòng nghiên cứu và phát triển của công ty Mỹ và phát hiện công ty này rất lo sợ một sản phẩm cạnh tranh mới sắp được tung ra thị trường, do một công ty nhỏ và vừa của Pháp đã chế tạo thành công. Kết quả: thay vì bỏ ra 115 triệu để mua đối thủ Mỹ, họ chỉ cần mua bản quyền sản phẩm của công ty nhỏ nọ để... sản xuất. Và giá mua chỉ 200.000 euro!


Bào chế dược, một lĩnh vực cực kỳ cạnh tranh, luôn là khách hàng lớn của các văn phòng tình báo kinh tế. Trong các hội chợ chuyên ngành, nhiều “điệp viên” thường được tuyển mộ để canh chừng những gian hàng kế bên. Họ rình rập ngày đêm xem khách hàng của đối thủ, nghe những người khách nói chuyện gì, theo dõi chuyện mua bán của những người đó để biết nhu cầu đặt hàng.


Một nhà tư vấn giải thích: “Loại rình rập này rất hữu hiệu để bảo vệ uy tín của mình và triệt hạ đối phương”. Một điệp viên theo dõi ông chủ người Anglo - Saxon tiết lộ: “Mục tiêu là tìm hiểu chiến lược của ông ta, các đối tác và nhất là những tiếp xúc. Tôi phải biết lịch làm việc của ông ta. Những người mà ông ta phải gặp: nhà báo, nhà tài chính, luật sư, chuyên gia lobby, chính trị gia...”.

Bị tấn công, các công ty phải chống đỡ. Ở các thị trường Đông Âu hay châu Á, nơi luật pháp còn lỏng lẻo, các công ty châu Âu và Mỹ phải làm thế nào để có thể tìm được người hợp tác?


Một văn phòng tình báo kinh tế của Anh cho biết: “Chúng tôi làm việc được một năm tại một quốc gia ở Đông Âu. Chúng tôi phát hiện một chiến lược rất tinh quái để thu hút các công ty đa quốc gia châu Âu và Mỹ vào tròng. Tròng ở đây là để các công ty này đầu tư những khoản tiền khổng lồ vào các nhà máy sản xuất để sau đó... thanh tra tài chính nhằm tìm cớ tịch thu nhà máy hiện đại đó, hoặc bán lại với giá rất cao các cổ phần rất nhỏ mà họ đang nắm giữ”.


Nạn nhân của những đòn phép tương tự như thế là Công ty ngũ cốc Mỹ Bunge. Sau khi mua lại một nhà máy sản xuất dầu ăn tại Dniepropetrovsk, Ukraine với giá vài triệu USD, Bunge đã phải hứng chịu rất nhiều đòn tấn công. Thoạt đầu, Bunge trở thành nạn nhân của đòn thông tin thất thiệt. Nhà máy của Bunge bị kết án làm ô nhiễm môi trường. Lời cáo buộc này đã bị bác bỏ sau đó bởi một cuộc điều tra của hội đồng thành phố.


Thông qua một công ty nhỏ, “ông trùm” tìm cách mua lại cổ phần của công nhân để kiểm soát nhà máy bằng cách dùng đến luật pháp để gây rắc rối. Sau đó công ty nhỏ này đòi chia thêm nhiều cổ phần hơn cho công nhân bằng cách lấy cớ Bunge đã mua lại nó với giá rẻ bèo. Đến nay, cuộc tranh chấp giữa Bunge và “ông trùm” Ukraine còn chưa kết thúc.


Muốn điều tra có hiệu quả tại những nơi này phải không tiếc tiền để mua cho được những người trung gian quý giá. Nhất là những người làm trong các cơ quan an ninh, cảnh sát, nghiệp đoàn hay trong chính phủ. Một chuyên gia đã từng làm việc cho các công ty thời trang và dược của phương Tây tiết lộ: “Không thể nào có được thông tin quý giá và đáng tin cậy về một công ty xuất khẩu hàng giả mà không phải trả phí dịch vụ cho một nhân viên hải quan để y cung cấp chứng cớ chủ chốt”.


Vấn đề trở nên phức tạp khi đối thủ không chỉ là một công ty mà là nhà nước! Nhiều chính phủ không ngần ngại bảo vệ các công ty đa quốc gia của mình bằng mọi giá. Vô địch trong chuyện này là những người Anglo - Saxon! Đầu những năm 1990, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đã xác định các ưu tiên mới của mình: quyền lợi kinh tế quốc gia. Bộ máy nhà nước được tổ chức lại để phục vụ quyền lợi các công ty! Một hội đồng an ninh kinh tế được thành lập và được đặt ngang hàng với Hội đồng An ninh quốc gia, nghĩa là ngang hàng với... Nhà Trắng! Mục tiêu của hội đồng này là thông tin cho tổng thống Mỹ để ông kịp thời đưa ra những biện pháp đúng nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh tế của nước Mỹ.


Bên cạnh đó, Bộ Thương mại thành lập Advocacy Center (một trung tâm cảnh giới) để theo dõi các đơn hàng gọi thầu quốc tế vượt trên 1 tỉ USD và mời gọi các công ty Mỹ dự thầu! 16 cơ quan tình báo và an ninh quốc gia (CIA, FBI, NSA...) đều có mặt trong trung tâm này. Khi một thị trường có nguy cơ vượt khỏi tầm tay “made in USA”, chính phủ có thể triệu tập ngay một dạng “phòng chiến tranh” (war room) huy động mọi phương tiện có được để giành chiến thắng cho Mỹ.


Người mỹ không hề giấu giếm: họ theo dõi các đồng minh của mình ngay khi xuất hiện một hợp đồng quan trọng


Hai trường hợp như thế đã xảy ra trong những năm 1990: bán thiết bị báo động điện tử rừng Amazon cho Brazil và bán máy bay đường dài cho Saudi Arabia. Đương đầu với Mỹ, Pháp đã thua trắng. NSA nghe lén cuộc nói chuyện của các nhà thương thuyết Pháp và cung cấp cho báo chí bằng chứng... hối lộ của họ! Người Mỹ không hề giấu giếm: họ theo dõi ngay cả những đồng minh của mình khi ai đó toan tính vượt qua lằn ranh màu vàng.


Ít nhất đó cũng là thú nhận của cựu giám đốc CIA James R. Woosley (1993-1995) trong một bài báo viết trên tờ Wall Street Journal ngày 17-3-2000 mang tựa: Vì sao chúng ta theo dõi đồng minh? Chính phủ Mỹ còn công bố cả danh sách các thị trường mà họ đã từng giúp các công ty chiếm đoạt được. Trong khoảng năm 1994-1997, họ đã góp phần thành công cho 11 hợp đồng trị giá 18 tỉ USD, mang lại hàng ngàn công ăn việc làm.


Các nước khác thì sao? Ngoài Nhật Bản, từng dẫn đầu trong chuyện này cho đến cuối những năm 1980, phần còn lại của thế giới cũng đang hành động. Pháp bừng tỉnh từ giữa những năm 1990. Năm 1994, chính phủ nước này cho công bố một báo cáo của cảnh sát trong đó nhìn nhận chiến tranh kinh tế đang diễn ra ác liệt. Báo cáo cũng giải thích những nét chính trong học thuyết chiến tranh mới này của Nhật Bản và Mỹ song phần nghiên cứu từng trường hợp (trong y dược và hàng không) đã bị cắt bỏ vì Chính phủ Pháp sợ lộ ra sự thiếu phối hợp giữa nhà nước và các công ty của mình. Hội đồng cạnh tranh và an ninh kinh tế (CCSE) quy tụ bảy ông chủ xí nghiệp lớn được thành lập dưới thời chính phủ Balladur, nhưng không hoạt động. Mãi đến năm 2003 khi bản báo cáo Caryon của dân biểu Tarn ra đời thì vấn đề mới được hâm nóng trở lại.


Trong báo cáo này, Tarn đả kích chính phủ đã không giao nhiệm vụ bảo vệ các công ty Pháp cho Cục Giám sát lãnh thổ (DST) phụ trách. Năm tháng sau đó, một quan chức cao cấp phụ trách tình báo kinh tế được bổ nhiệm. Đó là Alain Juillet, nhân vật số 2 của Tổng cục An ninh đối ngoại (DGSE). Cơ quan này trực thuộc phủ thủ tướng, có nhiệm vụ soạn thảo bộ khung tổ chức, lập mạng lưới chuyên gia từ các bộ, thành lập liên hiệp các cơ quan tình báo kinh tế, thành lập hai quỹ đầu tư. Trung tâm Tình báo kinh tế và lãnh thổ (CIET) cũng được thành lập năm 2003 với nhiệm vụ chính là giám sát kỹ thuật sản phẩm và các thị trường. CIET huy động 4.000 công ty xoay quanh đề tài an ninh.


Trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ thương mại không hề được hoan nghênh. Song người Mỹ lại đang ra sức bảo vệ các con cờ của mình một cách triệt để. Họ từ chối yêu cầu của người Ả Rập muốn mua lại sáu hải cảng của nước Mỹ. Họ không cho phép người Trung Quốc mua lại Công ty dầu hỏa Unocal

LOBBY.VN
05-05-2010, 03:18 PM
Mỹ Phố Wall chi tiền Lobby, quốc hội chùn tay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/GetThumbnailaxd.jpg

Để chống lại đạo luật cải cách tài chính do ông Obama khởi xướng, giới tài chính phố Wall không ngừng chi tiền để vận động hành lang.

Phố Wall chi đậm

Trong cuộc bỏ phiếu vào cuối tháng qua tại thượng viện, đạo luật cải cách ngành tài chính Mỹ do tổng thống Obama đề ra gặp thất bại khi chỉ có 57 phiếu thuận, trong khi cần đến 60 phiếu mới đủ để thượng viện thông qua.

Theo giới truyền thông Mỹ, kết quả đó có được bởi phố Wall không ngừng chi đậm cho các thượng nghị sĩ, đặc biệt là các thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng hoà. Sáu ngân hàng JP Morgan Chase, Wells Fargo, Citigroup, Bank of America, Morgan Stanley và Goldman Sachs chi khoảng 106.000 USD cho 12 thượng nghị sĩ và các nhân vật lãnh đạo các uỷ ban liên quan. Số tiền trên chiếm 40% trong tổng số 272.000 USD mà các cơ quan vận động đã quyên tặng cho các quỹ vận động tranh cử.

Tuy vậy, theo trung tâm Giám sát chính trị, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát các vấn đề tài chính của giới chính trị gia, con số trên chẳng thấm vào đâu so với con số 30 triệu USD mà các công ty vận động hành lang cho các ngân hàng, công ty tài chính, chứng khoán đã bỏ ra kể từ khi bắt đầu chương trình vận động bầu cử từ tháng 1.2009 đến nay.

Điển hình như bà Blanche Lincoln, thượng nghị sĩ Dân chủ, nhận 7.000 USD từ công ty vận động hành lang của Goldman Sachs. Đó là một phần trong tổng số 920.935 USD quỹ tranh cử của bà nhận được từ các công ty tài chính, ngân hàng. Hay thượng nghị sĩ Dân chủ Charles Schumer thuộc bang New York nhận 1,6 triệu USD từ các công ty tài chính. Lãnh đạo phe thiểu số tại thượng viện Mitch McConnell cũng kiếm được 1,5 triệu USD từ các công ty tài chính. Đồng liêu của McConnell là Bob Corker cũng kiếm được 1,4 triệu USD từ các công ty tài chính. Đến cả lãnh đạo phe Dân chủ tại thượng viện là Harry Reid cũng nhận 920.000 USD và thượng nghị sĩ Cộng hoà Richard Shelby cũng có hơn 800.000 USD từ các công ty tài chính.

Và Nhà Trắng phản đòn

Trước tình hình này, phe dân chủ ở thượng viện cũng như Nhà Trắng đang cố gắng hạn chế việc vận động hành lang rầm rộ từ các công ty tài chính, ngân hàng. Vào thứ năm vừa rồi, các nhà lập pháp Dân chủ giới thiệu một đạo luật nhằm hạn chế một đạo luật gần đây của toà án tối cao cho phép các tập đoàn, hiệp hội và các nhóm khác được quyên tặng không giới hạn tiền bạc cho các quỹ chính trị.

Kèm theo đó là các biện pháp như yêu cầu các công ty, hiệp hội và các nhà vận động có ủng hộ tài chính phải công khai tên tuổi trong các chương trình vận động tranh cử. Ngoài ra, các nhà thầu chính phủ cũng không được tham gia đóng góp cho các quỹ chính trị.

Và có vẻ như bước phản đòn trên có tác dụng. Bởi mới đây, đảng Cộng hoà chấp nhận sẽ thảo luận rộng rãi hơn về đạo luật cải cách tài chính mà họ vừa bỏ phiếu chống trong đợt bỏ phiếu vừa rồi. Trong đợt bỏ phiếu vừa qua, toàn bộ 41 thượng nghĩ sĩ Cộng hoà bỏ phiếu chống

Ngô Minh Trí

LOBBY.VN
05-05-2010, 03:59 PM
Cận Đông liệu Tổng thống Obama sẽ là một trọng tài công minh ?

Liệu ông Barack Obama có làm chúng ta ngạc nhiên về mảnh đất bị phá hoại bởi cuộc xung đột Ixraen – Palextin? Trong số các đời tổng thống Mỹ, ông Obama có là “vị trọng tài công minh đầu tiên” cho cả hai phía không ?

Ông Obama có nhận ra sự mất cân bằng lực lượng hiện nay không? Một mặt, Ixraen là cường quốc hạt nhân và thực dân. Mặt khác, ‘‘Chính quyền’’ Palextin của tổng thống Mahmoud Abbas, một thực thể không có quyền lực, duy trì đường lối thỏa hiệp nhu nhược với Ixraen chỉ mang một kết quả ngược lại và là nỗi thất vọng cho một dân tộc bị tiêu diệt bởi các cuộc can thiệp quân sự và bị phong tỏa dải Gaza của Ixraen.

Tuy nhiên, không gì có thể ngăn cản việc chúng ta nghĩ tới một điều lạc quan. Từ thời cựu Tổng thống Clinton, Mỹ đã không làm gì để ngăn cản hành động thực đân của người Ixraen mà chỉ lên án mang tính hình thức. Cựu Tổng thống George W. Bush đã hỗ trợ chế độ thực dân Ixraen ngay sau khi vào Nhà Trắng và điều này đã không tạo được một ấn tượng đặc biệt nào.

Tổng thống Obama đã không xóa được hình ảnh thân Ixraen của Mỹ

Từ khi cố Tổng thống Yasser Arafat từ chối ‘‘biện pháp giải quyết vàng’’ do cựu Tổng thống Bill Clinton soạn thảo tại trại David tháng 7/2000, Mỹ không còn cố gắng ‘‘hóa trang’’ hình ảnh thân Ixraen nữa.

‘‘Biện pháp giải quyết vàng’’ dự kiến công nhận việc sáp nhập một phần lãnh thổ bị Ixraen chiếm đóng từ năm 1967. Biện pháp này công nhận việc Ixraen chiếm phần diện tích của người Arập tại Jérusalem hay mang đến một kết cục người Palextin bị trục xuất từ những năm 1948 và 1967 không có quyền được quay lại phần đất trên.

Tổng thống Arafat đã bị chỉ trích phải chịu trách nhiệm về thất bại của giải pháp tại trại David, nó làm ‘‘sụp đổ’’ nhiệm kỳ tổng thống của ông Clinton (trước khi cô Monica Lewinsky chấm dứt thật sự nhiệm kỳ trên). Điều này cũng chứng tỏ cỗ máy ngoại giao trung gian của Mỹ đã nghiêng về bên nào.

Trong năm đầu tiên nắm quyền, ông Obama đã không làm gì để xóa đi hình ảnh có chủ trương thân Ixraen trong hồ sơ trên. Bên cạnh thủ tướng Ixraen Benyamin Netanyahou, một nhân vật của phe cực hữu và chống lại việc ngưng thực dân hóa, ông Obama đã gặp khó khăn trong việc thoát ra khỏi thế khó khăn của những người tiền nhiệm

‘‘Những mâu thuẫn sâu sắc về quan điểm’’ với Thủ tướng Ixraen Netanyahou

Mặc dù hiểu rằng việc ngưng thực dân hóa vô điều kiện là điều kiện tiên quyết cho nối lại các cuộc đàm phán song ông Obama đã đi từ thất bại này đến thất bại khác, bị làm nhục bởi chính sách cực đoan của thủ tướng Ixraen cho đến tận những tuần vừa qua.

Vào dịp này, ông Netanyahou đã phải chịu sự từ chối đầu tiên: ông Obama đã yêu cầu ngưng xây dựng các khu định cư tại phần đất của người Arập tại Jérusalem. Thủ tướng Ixraen đã đánh giá rằng đây là một đòi hỏi ‘‘phi lý’’ và ‘‘không lôgích’’. Như thường lệ, chính quyền Mỹ đã công khai bày tỏ sự không bằng lòng về việc trên.

Một người phát ngôn của Nhà Trắng đã không do dự nói tới ‘‘những mâu thuẫn sâu sắc về quan điểm’’ giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ và Ixraen. Khi ông Netanyahou tuyên bố rằng theo ông việc xây dựng các khu định cư tại Jérusalem và tại Tel Aviv là như nhau trong khi ông Obama đã trả lời rằng ông không đồng ý.

Nội dung của cuộc nói chuyện cá nhân trên đã được truyền trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ, điều này đánh dấu một sự thay đổi chiến lược trong chính quyền Obama.

Nội dung mà các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải đã nhấn chìm Ixraen trong bế tắc và xuất hiện thật cần thiết và nghiêm túc để các phong trào vận động hành lang thân Ixraen phát động một cuộc phản công quy mô lớn thông qua tổ chức Ủy ban công vụ Mỹ - Ixraen (AIPAC)

Cuộc vận động hành lang thân Ixraen tại Quốc hội Mỹ thật đáng sợ và gây lo ngại

Đây là một tổ chức vận động hành lang quy mô lớn trong đó mục đích chính là vận động để Quốc hội Mỹ thông qua ‘‘các chính sách và quyết định thuận lợi nhất cho Ixraen’’. Đa số nghị sỹ tại Thượng viện và Hạ viện là thành viên của tổ chức này.

Các ông John Mearsheimer và Stephen Walt, giảng viên đại học, đã nhấn mạnh vai trò gây ảnh hưởng của AIPAC trong việc đưa ra các lựa chọn chính trị - quân sự của Mỹ, đây được coi như ‘‘cánh tay vũ trang’’ của Chính phủ Ixraen tại Quốc hội Mỹ.

AIPAC đã tuyên bố rằng ‘‘¾ đại biểu’’ của Quốc hội đã ký vào bức thư mở yêu cầu ‘‘ngưng chỉ trích’’ đối với Ixraen, bởi hình thức tranh cãi trên phải được giải quyết ‘‘trực tiếp giữa hai nước chứ không phải diễn ra công khai’’ và dự báo sẽ có sự xích lại gần nhau giữa Chính quyền Mỹ và Chính phủ Ixraen.

Các chiến dịch đe dọa chống lại những chỉ trích chính sách của Ixraen rất đáng sợ và gây lo ngại. Sự hiện hữu của các cuộc tấn công trên thường xuyên xếp trong hàng ngũ những yếu tố ngoan cố hiếm hoi. Tại đây, cuộc phản công dường như không làm rối loạn Chính quyền Obama.

Ông Robert Malley, nguyên là ‘‘cánh tay phải’’ của cựu Tổng thống Clinton về quan hệ Ixraen – Arập đã thổ lộ rằng cuộc đối đầu này về phía chính quyền liên bang ‘‘đã được cân nhắc’’. Đây là bằng chứng về ‘‘quyết định’’ của Tổng thống Obama liên quan vấn đề trên

Các khu định cư của Ixraen làm binh lính Mỹ tại Afghanistan gặp nguy hiểm

Tương lai sẽ cho chúng ta biết liệu hy vọng nhỏ nhoi mà sự phản đối của ông Obama tạo ra có hão huyền không. Tuy nhiên, dường như thật khó cho ông Obama để quay lại bởi ông đã mất mặt và mất mọi sự tin tưởng từ phía người Palextin.

Tổng thống Mỹ cũng đã rất nhầm lẫn khi không gia tăng áp lực đối với hành động thực dân của Ixraen, đang trở nên không được lòng người tại đồi Capitole. Ở đó, người ta đánh giá rằng chủ nghĩa cực đoan của Thủ tướng Netanyahou đang làm cho các binh sỹ Mỹ tại Irak và Afghanistan trở nên nguy hiểm.

Nếu Chính quyền Obama thành công trong việc thuyết phục được công luận rằng việc Ixraen ngừng công cuộc thực dân hóa là lợi ích của Mỹ thì khi đó ông Obama mới có thể tính đến việc đưa Ixraen và Palextin quay trở lại bàn đàm phán về trung hạn

LOBBY.VN
05-05-2010, 04:15 PM
Mối quan hệ kỳ lạ giữa trùm lừa đảo Bernard Madoff và Mossad


Nhiều tỉ USD của Công ty Bernard L. Madoff Investment Securities đi về đâu? Một điều tra sơ bộ của Mỹ tiết lộ rằng trùm lừa đảo người Mỹ Bernard L. Madoff là người tài trợ cho những chiến dịch bí mật của lực lượng tình báo Israel (Mossad) ngay trên đất Mỹ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/23_benard935-400.jpg
Bernard Madoff bị bắt giữ

Theo những phân tích của Cơ quan Tình báo Nga, lực lượng an ninh Mỹ và lực lượng đặc biệt của Tổng thống Obama đã tiến hành một vụ bắt giữ lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ liên quan tới một mạng lưới tình báo hoạt động bên trong nước Mỹ. Theo những phân tích trên, trùm tài chính của thành phố New York, Bernard Madoff, có thể là người tổ chức những chiến dịch gián điệp quy mô lớn cho Israel tại Mỹ từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Madoff có hai quốc tịch, Mỹ và Israel, bị bắt giữ hôm 12/12/2008 khi ông ta đang cố đào thoát khỏi nước Mỹ và rút nhiều triệu USD từ quỹ dự trữ của Mossad. Âm mưu này đã bị thẩm phán Luis Stanton phát hiện, và ra lệnh bắt giữ khẩn cấp nhằm tránh để Madoff hoặc một trong những nhân viên tình báo của y thoát khỏi quyền tài phán của Mỹ.

Tình báo Nga cũng cho biết, thẩm phán Patrick Fitzgerald, đồng minh của Tổng thống Obama, đã đứng đằng sau vụ bắt giữ Madoff và một số nhân viên của Mossad hoạt động tại Mỹ. Ông Fitzgerald đã tiến hành điều tra Madoff và những móc nối của nhân vật này với Mossad từ sau khi Lawrence Franklin, một quan chức của Lầu Năm Góc, bị bắt giữ năm 2005 vì đang âm mưu bán những bí mật quân sự của Mỹ cho AIPAC, một tổ chức trá hình của Mossad hoạt động từ lâu tại Mỹ. AIPAC là một trong số 51 tổ chức Do Thái tại Mỹ vận động hành lang cho quan hệ Mỹ - Israel từ nhiều năm nay.

Những thông tin phát đi từ phía Israel đã chỉ rõ nguyên nhân tại sao lực lượng an ninh Mỹ đã tiến hành bắt giữ Madoff khẩn cấp. Tờ Haaretz của Israel viết: "Vụ lừa đảo của Bernard Madoff đã làm tê liệt gần như toàn bộ các tổ chức từ thiện Do Thái trên thế giới và buộc những tổ chức từ thiện lớn có trụ sở tại Mỹ phải đóng cửa, đồng thời đe dọa tới các nguồn thu tài chính của rất nhiều tổ chức từ thiện khác". Trong số đó có quỹ từ thiện Chais đặt trụ sở tại California. Được biết, Chais đã góp toàn bộ vốn của mình cho Madoff đầu tư, và hàng năm tài trợ 12,5 triệu USD cho những hoạt động vì Israel và Đông Âu.

Sau khi Madoff bị bắt, Chais cũng bị buộc phải ngưng hoạt động. Ngoài ra còn có quỹ Robert I. Lappin, có trụ sở tại Massachussetts, và chuyên đài thọ những chuyến đi thực tế tìm hiểu Israel cho những thanh niên người Mỹ Do Thái, quỹ này cũng bị buộc phải đóng cửa vì nguồn tài chính của họ cũng đã giao hết cho Madoff kinh doanh kiếm lời.

Cũng theo phân tích của tình báo Nga, việc bắt giữ một số thành viên của Mossad, trong đó có Madoff và một số nhân vật vận động hành lang cho Israel tại Mỹ, nằm trong kế hoạch của Barack Obama ngay khi ông này được bầu làm Tổng thống Mỹ. Kế hoạch này nhằm mục đích thay đổi căn bản chính sách ngoại giao của Mỹ và tránh xa những ảnh hưởng của Israel lên các chính sách của Mỹ.

Theo báo Christian Monitor, trong chiến dịch tranh cử tổng thống, ông Barack Obama đã đề ra mục tiêu hàng đầu là khôi phục hình ảnh nước Mỹ trên thế giới và nhất là trong thế giới Hồi giáo. Vị Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ định trình bày bài diễn văn về quan điểm của ông với thế giới Hồi giáo tại một thủ đô thế tục, nhưng để tăng sự gần gũi với người Hồi giáo, cuối cùng ông Obama đã chọn Istanbul là nơi ông sẽ có bài phát biểu quan trọng.

Theo báo cáo mật của các cơ quan tình báo Mỹ, chính vì lựa chọn trên mà Madoff và Mossad đã âm mưu tiến hành một cuộc đảo chính chống lại Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ.

Báo Thổ Nhĩ Kỳ Milliyet cho biết, Daniel Levi với nhiều biệt danh Daniel Guney và Tuncan Guney, bị bắt hồi giữa tháng 1/2009, chính một nhân viên của Mossad, thành viên của nhóm chủ nghĩa quốc gia cực hữu được biết đến với cái tên Ergenekon. Ergenekon bị buộc tội âm mưu lật đổ chính phủ thân đạo Hồi của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan.

Một tờ báo khác của Thổ Nhĩ Kỳ là Yeni Safak cũng nói rằng cảnh sát đã tìm thấy trong căn hộ của Guney nhiều tài liệu ghi rõ mối quan hệ giữa giới doanh nhân Israel tại Thổ Nhĩ Kỳ và một số quan chức quân sự nước này có dính líu tới vụ Ergenekon. Cũng có nguồn tin cho rằng Guney là điệp viên chìm của Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ được cài vào Ergenekon để khám phá những âm mưu của tổ chức này.

Năm 2004, Guney được bí mật dẫn độ sang Mỹ, sau này y được chuyển qua Canada với cái tên Daniel T. Guney... Người ta không biết câu chuyện này sẽ đi về đâu, tuy nhiên điều mọi người biết chắc chắn được là cho tới nay và nhiều năm sau khi điệp viên của Israel trong Lầu Năm Góc, Franklin, bị bắt giữ, những đồng đảng của y tại AIPAC vẫn chưa bị bại lộ.

Theo luật của quân đội Mỹ, những người Mỹ gốc Do Thái không thể gia nhập những tổ chức sĩ quan tinh nhuệ và lực lượng tình báo chính phủ do lo ngại những người này có thể hoạt động cho Israel. Bằng cách này, quân đội Mỹ được coi là người bảo vệ cuối cùng trước những ảnh hưởng của Israel. Và Tổng thống Obama đang dùng cách này để tránh xa những tác động ngầm của người Do Thái tại Mỹ, mà việc bắt giữ người đài thọ cho Mossad, Bernard Madoff, là sự hiện thực hóa chính sách trên

LOBBY.VN
05-14-2010, 01:43 AM
Mỹ - Jamaica và phi vụ “vận động hành lang” không bình thường

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/11_thu951.jpg
Thủ tướng Jamaica Bruce Golding

Một phi vụ vận động hành lang không bình thường đang trở thành nguyên nhân gây ra cuộc tranh cãi ở thủ đô Kingston của Jamaica và giữa Chính phủ Jamaica với Mỹ, có nguy cơ làm rạn nứt quan hệ song phương giữa hai nước.

Báo The Washington Post ngày 16/4 vừa qua đăng thông tin như thế này: Mùa thu năm 2009, Hãng luật Manatt, Phelps & Phillips (MPP) đã ký một hợp đồng "vận động hàng lang" với Chính phủ Jamaica.

Giao kèo trong hợp đồng là trong vòng một năm sau đó, MPP có nhiệm vụ "nói chuyện" với Nhà Trắng và các quan chức khác trong Chính phủ Mỹ để biện thuyết các lý lẽ vì sao Mỹ không nên dẫn độ Christopher "Dudus" Coke, một trùm ma túy ở Kingston mà Washington muốn đưa về thành phố New York để xét xử.

Luật pháp của Mỹ không cấm các tổ chức, cá nhân và quốc gia nước ngoài thuê các hãng luật tư nhân của Mỹ để vận động hành lang đối với các vụ án dẫn độ tội phạm. Nhưng trong trường hợp Jamaica, điều không bình thường chính là ở chỗ Chính phủ Jamaica đã không sử dụng các kênh ngoại giao chính thức, như thông qua đại sứ quán, các bộ, ngành Chính phủ hoặc kênh ngoại giao khác mà lại thuê một công ty luật tư nhân. Tuy nhiên, Chính phủ Jamaica đã phủ nhận việc thuê Hãng luật MPP làm chuyện đó. Ở phía còn lại, Hãng Luật MPP từ chối tiết lộ thông tin về phi vụ vì lý do "bảo mật khách hàng".

Thật ra, theo giới chuyên môn, có thể Chính phủ Jamaica đã không trực tiếp thuê Hãng luật MPP và cũng không chi trả cho MPP. Chính phủ Jamaica có thể dính líu trong phi vụ này một cách gián tiếp, vì các cam kết hợp tác thực thi pháp luật đã ký với Mỹ.

Hồ sơ Bộ Ngoại giao Mỹ (công bố tháng 3/2010) có vẻ chứng minh điều này khi tiết lộ một trong những người đồng ký tên trong bản hợp đồng thuê MPP là luật sư Harold C.W. Brady ở Kingston. Ông này là một thành viên đảng Lao động cầm quyền của Thủ tướng Golding. Trong hợp đồng thuê MPP có ghi rõ, Brady "được ủy quyền thay mặt Chính phủ Jamaica" thực hiện hợp đồng. Hồ sơ cũng tiết lộ thêm: bản hợp đồng trị giá 400.000USD, được chi trả hàng quý, mỗi quý MPP được nhận thù lao 100.000USD.

Bản hợp đồng được ký chính thức vào ngày 1/10/2009, với số tiền "đặt cọc" ứng trước 49.000USD. Ngay trong 3 tháng đầu tiên của hợp đồng, các luật sư của MPP đã thực hiện 6 cuộc tiếp xúc với quan chức Chính phủ Mỹ, nhưng các quan chức Mỹ khẳng định, các cuộc tiếp xúc này chủ yếu xoay quanh quan điểm của Chính phủ Jamaica chống lại việc dẫn độ.

Vụ việc tranh cãi giữa Jamaica và Mỹ đã hé lộ một phần bức màn che phủ xung quanh thế giới vận động hành lang quốc tế phức tạp và đầy rẫy những chuyện "không bình thường". Trong cái thế giới phức tạp đó, các quốc gia, tổ chức nước ngoài thuê mướn các hãng luật và vận động hành lang chuyên nghiệp ở Washington để vận động Chính phủ và Quốc hội Mỹ lèo lái các chính sách theo chiều hướng có lợi cho mình.

Hãng luật MPP, đặt trụ sở tại thành phố Los Angeles, do ông Charles T. Manatt, một cựu Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc, đảng Dân chủ làm chủ tịch, là một trong những hãng luật tư nhân chuyên thực hiện các phi vụ vận động hành lang trong cái thế giới mờ ám đó. Cách đây 10 năm, ông Manatt từng là Đại sứ Mỹ tại Cộng hòa Dominica, và hiện nay ông cũng đang vận động hành lang giúp cho quốc gia này một số vấn đề.

Còn nhớ năm 2009, sau khi làm đảo chính lật đổ Tổng thống Manuel Zelaya, chính quyền lâm thời Honduras cũng đã chi hàng trăm ngàn USD để thuê các công ty vận động hành lang tìm cách tác động lên chính sách của Tổng thống Barack Obama đối với cuộc đảo chính. Điều đó đã giải thích vì sao Nhà Trắng đã dần dần thay đổi thái độ đối với cuộc đảo chính bất hợp pháp và không mạnh tay đối với phe đảo chính.

Phi vụ vận động hành lang cũng đang gây sóng gió trên chính trường Jamaica. Các đảng phái đối lập đang công kích quyết liệt Thủ tướng Bruce Golding do đích thân Thủ tướng Jamaica dẫn đầu nỗ lực chống lại việc dẫn độ Coke sang Mỹ.

Ngày 16/3/2010, nghị sĩ Peter Phillips thuộc đảng đối lập Dân tộc Nhân dân (PNP) đã chất vấn Thủ tướng Golding liên quan đến phi vụ vận động hành lang, châm ngòi cho một cuộc "đấu khẩu" quyết liệt giữa Thủ tướng Golding và phe đối lập. Một câu hỏi được đặt ra là, nếu Chính phủ Jamaica không chi trả cho phi vụ này thì ai đã chi? Và phái chính trị đối lập ở Jamaica cho rằng rất có thể tiền đó do đích thân “ông trùm” ma túy Coke chi trả.

Cũng xin nói thêm đôi điều về Christopher "Dudus" Coke. Năm nay 41 tuổi, Coke được xem là một trong những "ông trùm" buôn bán ma túy có thế lực nhất ở Jamaica. Y đã bị Cơ quan Bài trừ ma túy Mỹ (DEA) liệt vào danh sách các trùm ma túy nguy hiểm nhất thế giới, và hiện đang bị cơ quan này nghi ngờ đóng vai trò lớn trong đường dây cung cấp cần sa, cocaine và vũ khí bất hợp pháp vào vùng duyên hải miền Đông nước Mỹ.

Các công tố viên nói, Coke và tổ chức của y, có tên gọi là Shower Posse, hoạt động mạnh ở vùng nghèo khó phía tây thủ đô Kingston. Đây cũng là vùng cứ địa của đảng Lao động cầm quyền của Thủ tướng Golding. Vì vậy, phe đối lập Jamaica có lý do để nghi ngờ về một mối liên hệ nào đó giữa Thủ tướng Golding với ông trùm Coke, và hành động chống lại việc dẫn độ Coke của ông Golding có thể nhằm mục đích phục vụ lợi ích của y.

Hiện tại, Hãng luật MPP không còn thực hiện phi vụ vận động hành lang này nữa. Luật sư Susan M. Schmidt đã báo cáo lên Bộ Tư pháp rằng, Hãng MPP đã ngưng hợp đồng từ ngày 8/2/2010

Mỹ - Jamaica Lobby (http://antg.cand.com.vn/vivn/hautruong/2010/5/722 34.cand)

LOBBY.VN
05-26-2010, 05:00 PM
BP tung chiến dịch lobby “xanh hóa”

Đáp lại những chỉ trích từ vụ tràn dầu trên vịnh Mexico, Hãng dầu mỏ BP của Anh vừa tung ra một chiến dịch lobby “xanh hóa” trị giá nửa tỉ USD bao gồm việc tài trợ cho các nghiên cứu về ảnh hưởng của dầu tràn và quảng cáo trên phương tiện truyền thông

“BP cam kết làm mọi thứ có thể nhằm giảm thiểu tác hại của thảm kịch này lên con người và môi trường vùng vịnh” - lãnh đạo BP Tony Hayward tuyên bố hôm 24-5. Theo hãng, việc hiểu rõ những ảnh hưởng có thể xảy ra là một phần quan trọng của việc phục hồi hệ sinh thái. Do đó, một kế hoạch kéo dài 10 năm dự kiến chi 500 triệu USD cho việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của dầu và các hóa chất tẩy rửa đối với môi trường.

BP cũng ra sức thuyết phục người Mỹ rằng BP đang nỗ lực để ngăn chặn dầu loang. Mở đầu là phần quảng cáo rầm rộ và đồng loạt trên các tờ báo lớn của Mỹ với nội dung “Tràn dầu trên vịnh Mexico. Chúng tôi đang làm gì? Làm sao để có thêm thông tin?”

Tuy nhiên, việc quan trọng và cấp bách nhất hiện nay là ngăn chặn dòng dầu loang thì vẫn chưa thật sự hiệu quả. Dưới áp lực từ Chính phủ Mỹ không ngừng gia tăng, BP cho biết sẽ thử kế hoạch đổ hỗn hợp bùn và ximăng xuống giếng dầu vào ngày 26-5. Khả năng thành công chỉ khoảng 60% và nếu thất bại, nó có thể làm dầu tràn ra nhiều hơn trước. Trước đó ống dẫn dầu BP đưa xuống đáy biển chỉ thu được một lượng dầu không đáng kể

Chính phủ Mỹ ngày 24-5 đã tuyên bố “thảm họa ngư nghiệp” tại ba bang vùng vịnh Louisiana, Mississippi và Alabama, nơi có ngành công nghiệp hải sản trị giá 6,5 tỉ USD

BP ước tính có khoảng 800.000 lít dầu tràn ra vịnh mỗi ngày từ giếng dầu Deepwater Horizon bị nổ ngày 20-4 đến nay. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết con số thật sự có thể gấp 5 lần

LOBBY.VN
06-04-2010, 06:30 PM
Nhóm vận động hành lang yêu cầu bắt giam
cựu Tổng thống Arroyo vì tội hối lộ

Các lãnh đạo Kitô hữu làm việc cho công bằng xã hội mong muốn vị tân tổng thống của Philippines bắt giam và truy tố cựu Tổng thống Gloria Arroyo

Trước đây, bà Arroyo đã giũ sạch những cáo buộc gian lận trong bầu cử và hối lộ trong các hợp đồng của chính phủ

“Chúng tôi sẽ yêu cầu tân tổng thống lệnh cho thanh tra viên trình các vụ chúng tôi đã chuẩn bị đơn tố cáo và gửi cho thanh tra viên từ năm 2005” - Linh mục Jose Dizon của Imus nói

Thành viên Nhóm Đại kết, Đẩy mạnh phản ứng của nhân viên Giáo Hội (PCPR), nói: “Chúng tôi muốn bà ta bị bắt và nếu bằng chứng về các vụ đã được chuẩn bị có đầy đủ, thì bà ta nên bị bỏ tù”

Bà Arroyo sẽ mất quyền miễn bị truy tố khi bà từ chức tổng thống vào ngày 30-6

“Chúng tôi nhận thấy khởi tố bà ấy là điều quan trọng vì người dân Philippines chúng ta cần rút ra một bài học” - Cha Dizon nói và trích dẫn các vụ kiện các cựu Tổng thống Joseph Estrada và Ferdinand Marcos, thân nhân và bạn bè của ông đều thất bại

PCPR là tổ chức đại kết quốc gia của những người trong Giáo Hội tận tâm thúc đẩy và bảo vệ công lý, hoà bình và nhân quyền

Nhóm này cũng đang kêu gọi các lãnh đạo tương lai của Philippines giữ lời hứa, làm việc “nâng cao đời sống và phúc lợi của người dân, và góp phần kiến tạo hoà bình và công lý trong đất nước chúng ta”

Tổng Thư ký của PCPR Nardy Sabino trích báo cáo mới của các Giám mục Công giáo Philippines nói rằng khởi tố bà Arroyo và các đồng minh của bà “sẽ tạo ra ranh giới giữa những người thực sự nghiêm túc hướng tới những cải cách chính và những người không nghiêm túc”

“Các vấn đề lâu đời như cải cách ruộng đất thật sự, tiền lương thoả đáng, nhân quyền, hệ thống thuế bất công, giá cả các mặt hàng nhu yếu phẩm cao, hối lộ và tham nhũng, và các chính sách ngoại giao độc lập là những vấn đề cấp bách trong nước cần phải được chính quyền tiếp theo giải quyết” - Sabino nói

Bà Arroyo được bầu làm đại biểu quốc hội trong khu vực thứ hai của tỉnh Pampanga trong các cuộc bầu cử gần đây

LOBBY.VN
06-07-2010, 11:02 AM
Vận động hành lang xe điện Push cho thêm ưu đãi để
Tăng cường Công nghiệp Liên bang

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Picture-57-400x248.jpg


Mặc dù Hoa Kỳ. đã cam kết hàng tỷ để thúc đẩy xe điện (EV) ngành công nghiệp cho đến nay, vận động hành lang cho ô tô cảm thấy ưu đãi hơn nữa là bắt buộc để khởi động một chiến dịch thành công để giới thiệu dòng mới của pin xe. Họ là những đòi hỏi mà nhiều ngân sách liên bang được cam kết cho công trạm nạp tiền, bổ sung ưu đãi cho người tiêu dùng cài đặt các hệ thống tính phí nhà và giảm thuế cho các nhà sản xuất pin EV

Theo vận động hành lang, Tổng thống Obama họp của mục tiêu tạo ra doanh thu lên đến $1 triệu cho xe năng lượng thay thế được trong hoạt động của 2015 sẽ không được có thể trong điều kiện hiện tại. Để đảm bảo thành công, họ muốn bỏ những hạn chế hiện hành về CAFE hướng dẫn hạn chế số lượng xe zero-emission như EVs mà có thể được áp dụng cho các tiêu chuẩn khí thải thấp hơn đặt ra cho ngành công nghiệp

Ô tô được hỗ trợ push vì họ sợ rằng nếu không có sự tích hợp của các trạm nạp tiền và cắt giảm thuế, chi phí cao của xe điện sẽ làm người tiêu dùng để balk lúc chuyển sang EV và gây ra sự chậm trễ trong đá ra khỏi đề xuất ‘pin-powered tiến hóa’ đó là một dự án yêu thích của chính quyền Obama

LOBBY.VN
06-08-2010, 01:27 PM
Thân ở WHO, hồn ở các hãng dược

- Cùng lúc với Nghị viện châu Âu, tạp chí y khoa nổi tiếng của Anh British Medical Journal (BMJ) và Tổ chức báo chí điều tra (BIJ) của Anh cũng công bố kết quả cuộc điều tra phối hợp và kết luận: các chuyên gia y tế hàng đầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ăn tiền của các hãng dược lớn

Cuộc điều tra của BMJ/BIJ đã phơi bày những xung đột lợi ích rõ như ban ngày giữa ngành công nghiệp dược phẩm, WHO và hệ thống y tế cộng đồng toàn cầu. Các nhà báo điều tra đã chỉ mặt điểm tên những nhà khoa học vừa có tên trong bảng lương của các tập đoàn dược phẩm, vừa là thành viên của những nhóm cố vấn cho các kế hoạch chống dịch cúm của WHO. Và trên thực tế WHO dù biết rõ nhưng chưa bao giờ công khai những xung đột lợi ích này.

Những nghi vấn từ năm 1999

Sự thiếu minh bạch đã làm lãng phí niềm tin mà công chúng thế giới đặt vào những tổ chức có uy tín lớn như thế và suy giảm niềm tin này có thể trở thành một nguy cơ trong tương lai
Điều tra của BMJ/BIJ viết

Sau dịch cúm gia cầm ở Hong Kong năm 1997, tháng 4-1999 WHO bắt đầu lên kế hoạch chống một đại dịch cúm toàn cầu có nguy cơ bùng nổ và đã công bố một tài liệu quan trọng “Kế hoạch dịch cúm: vai trò của WHO và các hướng dẫn cho việc lên kế hoạch quốc gia và khu vực”.

Phần chú thích của tài liệu có ghi rõ: R. Snacken, J. Wood, L. R. Haaheim, A. P. Kendal, G. J. Ligthart và D. Lavanchy đã chuẩn bị tập tài liệu này cho WHO, với sự hợp tác của Nhóm làm việc khoa học châu Âu về cúm (ESWI). Tuy nhiên, tài liệu này không tiết lộ một sự thật là Hãng Roche và các hãng sản xuất văcxin chống cúm đã cung cấp vốn hoạt động cho ESWI.

Hai chuyên gia René Snacken (thuộc Bộ Y tế Bỉ) và Daniel Lavanchy (nhân viên WHO), các đồng tác giả “Kế hoạch dịch cúm”, đều từng tham gia vào các hoạt động quảng bá cho Roche. Hai thành viên ESWI là giáo sư Karl Nicholson của ĐH Leicester (Anh) và Abe Osterhaus của ĐH Erasmus (Hà Lan) cũng đều có tên trong bảng lương của Roche từ năm 1998-2000.

Cả hai chuyên gia này từng tham gia chiến dịch thử nghiệm thuốc Tamiflu của Roche. “Đây rõ ràng không phải là một nhóm y tế độc lập” - giáo sư Barbara Mintzes thuộc ĐH British Columbia (Canada), thành viên Tổ chức Health Action International, bình luận.

Năm 1999, hai loại thuốc oseltamivir (Tamiflu) của Roche và zanamivir (Relenza) của GlaxoSmithKline cùng được tung ra thị trường. Cũng trong năm đó, giáo sư Osterhaus viết hàng loạt báo cáo cổ vũ việc sử dụng thuốc chống virut như Tamiflu hay Relenza trong các đại dịch. “Do thiếu nguồn cung cấp văcxin, các loại thuốc chống virut mới chắc chắn sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sứ mệnh giảm số lượng nạn nhân tử vong” - giáo sư Osterhaus viết. Hàng loạt chuyên gia khác cũng nối bước Osterhaus khuyến khích việc sử dụng Tamiflu và Relenza.

Cuối năm 1999, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cấp giấy phép cho thuốc Relenza. Tuy nhiên, ít ai biết rằng trước đó Tổ chức y tế Cochrane Collaboration kết luận không thể xác định được hiệu quả của Tamiflu hay Relenza. Chính ủy ban cố vấn của FDA cũng bác bỏ Relenza với lý do loại thuốc này không có hiệu quả.

Bác sĩ Michael Elashoff, thành viên FDA, tiết lộ ủy ban cố vấn kết luận Relenza chỉ có tác dụng trấn an tâm lý khi bệnh nhân cúm đã sử dụng các loại thuốc khác như paracetamol. Nhưng cuối cùng FDA vẫn cấp phép cho Relenza. “Họ cho rằng sẽ an toàn hơn khi có một loại thuốc trên thị trường trong trường hợp đại dịch xảy ra - bác sĩ Elashoff cho biết - Đó không phải là một quyết định mang tính khoa học”. Một năm sau, đến lượt Tamiflu được FDA cấp phép.

Bên kia Đại Tây Dương, Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu (EMEA) cũng nghi ngờ hiệu quả của Tamiflu và Relenza. Điều đáng nói là hai chuyên gia tư vấn cho EMEA là Annike Linde (Thụy Điển) và René Snacken (Bỉ) đều có tên trong bảng lương của Hãng Roche. Bác sĩ Snacken còn là “chuyên viên liên lạc” với ESWI.

Tư vấn cho WHO, nhận tiền các hãng dược

Tháng 10-2002, các chuyên gia WHO nhóm họp ở Geneva để bàn việc phát triển các hướng dẫn của WHO về việc sử dụng văcxin và thuốc chống virut khi đại dịch cúm xảy ra. Có mặt trong cuộc họp là đại diện hãng Roche, Aventis Pasteur và ba chuyên gia đã giúp Roche bán Tamiflu là các giáo sư Karl Nicholson, Ab Osterhaus và Fred Hayden. Hai năm sau, WHO công bố báo cáo Các hướng dẫn của WHO năm 2004 về việc sử dụng văcxin và thuốc chống virut khi đại dịch cúm xảy ra.

Giáo sư Fred Hayden là tác giả Phần hướng dẫn đặc biệt về thuốc chống virut, trong đó có lời kêu gọi các nước tích trữ thuốc chống virut. Khi đó, ông Hayden là cố vấn của cả Roche và GlaxoSmithKline. Năm 2003, ông Hayden cũng là đồng tác giả một nghiên cứu của Roche, khẳng định Tamiflu giúp giảm 60% tỉ lệ bệnh nhân cúm phải nhập viện.

Giáo sư Arnold Monto, tác giả mục Sử dụng văcxin trong các đại dịch cúm, làm việc cho Roche, GlaxoSmithKline và ViroPharma từ năm 2000-2004. Giáo sư Karl Nicholson, tác giả mục Đại dịch cúm, được các hãng Roche, GlaxoSmithKline, Wyeth, Chiron và Berna Biotech trả lương. WHO cũng không hề công bố các xung đột lợi ích này trước khi xuất bản Các hướng dẫn 2004.

Điều đáng nói là trước đó, WHO đã công bố một loạt quy định chống lại các tình huống xung đột lợi ích. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn BMJ, người phát ngôn của WHO Gregory Hartl tuyên bố: “Tổng giám đốc WHO Margaret Chan luôn quyết tâm đảm bảo sự minh bạch”. Tuy nhiên, văn phòng của bà Chan liên tục từ chối yêu cầu của BMJ đòi công bố mối quan hệ tài chính của các chuyên gia cúm.

“Những người có quan hệ với các công ty sản xuất văcxin và thuốc chống virut không được phép tham gia vào các ủy ban phát triển kế hoạch chống cúm - giáo sư Barbara Mintzes của ĐH British Columbia khẳng định - Loại bỏ các mối quan hệ tài chính là điều cực kỳ cần thiết khi đưa ra những quyết định lớn về y tế cộng đồng”. Bà Mintzes cho rằng lý tưởng nhất là sử dụng các chuyên gia độc lập trong ngành y tế công cộng. “Tuy nhiên, rất khó tìm ra những người như vậy. Một giải pháp là nhận tư vấn từ những chuyên gia có quan hệ với ngành dược phẩm, nhưng không đưa họ vào bất cứ ủy ban ra quyết định nào. Chúng ta cần một bức tường lửa”.

Giáo sư Chris Del Mar, chuyên gia Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược về miễn dịch của WHO (SAGE), cho rằng việc các tác giả của Các hướng dẫn 2004 vừa quảng bá các loại thuốc vừa nhận tiền của chính các hãng dược sản xuất những loại thuốc đó là hành vi “cần phải lên án bằng ngôn từ mạnh mẽ nhất”. Năm 2005, WHO công bố kế hoạch chuẩn bị đại dịch cúm toàn cầu, một năm sau thành lập nhóm làm việc đại dịch cúm. Nhưng WHO vẫn không hề công bố những xung đột quyền lợi theo yêu cầu của giới truyền thông.

Bí mật của Ủy ban khẩn cấp

Một trong những bí mật lớn nhất của WHO là danh tính 16 thành viên Ủy ban khẩn cấp do WHO thành lập năm 2009, với mục đích tư vấn cho tổng giám đốc WHO khi đại dịch cúm nổ ra. Ngoài WHO, không ai biết 16 chuyên gia này là ai. WHO tuyên bố phải giữ bí mật tên tuổi của họ nhằm “bảo vệ các nhà khoa học trước ảnh hưởng của ngành công nghiệp dược”, và cho biết cả 16 thành viên Ủy ban khẩn cấp đều đã ký thỏa thuận bảo mật và công bố các mối quan hệ tài chính cá nhân. Chính ủy ban này đã yêu cầu bà Chan tuyên bố cúm A/H1N1 trở thành đại dịch toàn cầu ngày 11-6-2009.

Giới y tế thế giới đặt câu hỏi: vậy tại sao WHO lại công bố danh tính thành viên các nhóm tư vấn khác như SAGE, để rồi họ có khả năng bị những áp lực bên ngoài, như lập luận của chính WHO? Những người khác cho rằng khi giấu tên các thành viên Ủy ban khẩn cấp, WHO đã triệt tiêu sự giám sát của công chúng và giới truyền thông đối với những chuyên gia đóng vai trò cực kỳ quan trọng: cố vấn cho WHO và các chính phủ khi đại dịch xảy ra.

Một câu hỏi lớn khác được đặt ra: liệu các hãng dược lớn, đã đầu tư khoảng 4 tỉ USD để phát triển văcxin cúm A/H1N1, có “tay trong” trong Ủy ban khẩn cấp hay không. Điều tra của BMJ và BIJ khẳng định có ba cái tên trong danh sách các thành viên Ủy ban khẩn cấp là giáo sư Arnold Monto, giáo sư John Wood và giáo sư Masato Tashiro.

Giáo sư Monto thì đã rõ, ông có quan hệ với rất nhiều hãng dược từ năm 2000-2004. Theo số liệu tài chính hiếm hoi thu thập được của GlaxoSmithKline, ông Monto đã nhận 3.000 USD phí diễn thuyết của GlaxoSmithKline trong quý 4-2009. Trong khi đó, giáo sư Wood thuộc Viện Kiểm soát và tiêu chuẩn sinh học quốc gia Anh (NIBSC) thừa nhận: để đảm bảo hiệu quả công việc, NIBSC phải hợp tác chặt chẽ với ngành công nghiệp dược. “Hiệp hội các nhà sản xuất dược phẩm quốc tế cũng đã công khai cho biết mối quan hệ thân cận của họ với NIBSC và các tổ chức tương tự để phát triển văcxin chống cúm” - ông Wood khẳng định

WHO hiện cũng đang điều tra lại cách hành xử của chính WHO trong “đại dịch” cúm A/H1N1 và xác định xem liệu Các quy chế y tế quốc tế (IHR) có hiệu quả trong việc đối phó với dịch bệnh hay không. Tuy nhiên, đã có nhiều điều tiếng về Ủy ban điều tra của WHO, bởi 13 trên tổng số 29 thành viên ủy ban là thành viên IHR và một là chủ tịch Ủy ban khẩn cấp

Có những thực tế không thể chối bỏ: dịch cúm A/H1N1 không hề nghiêm trọng như “kịch bản“ cảnh báo của WHO. Các quốc gia đang “đổ nợ” khi phải ôm một lượng khổng lồ văcxin chống cúm thừa thãi. Nếu WHO không thể trả lời những câu hỏi này thì “nạn nhân lớn nhất” của dịch cúm A/H1N1 sẽ chính là uy tín của WHO

LOBBY.VN
06-18-2010, 11:14 PM
Quốc hội Mỹ lắp “vòng kim cô” với FED


- Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ phải đối mặt với sự giám sát nghiêm ngặt hơn của Quốc hội Mỹ sau làn sóng chỉ trích dữ dội vai trò của “ngân hàng trung ương” trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009.

FED vẫn cứng cựa

Bất chấp sự giám sát chặt chẽ hơn của GAO, quyền lực và sự độc lập của FED vẫn gần như nguyên vẹn. Bởi lẽ sau phản ứng dữ dội của FED, các nghị sĩ đã chấp nhận bỏ hai điều khoản quan trọng khỏi dự luật cải tổ tài chính: đó là việc quốc hội sẽ kiểm tra chính sách thiết lập lãi suất cơ bản của FED - một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm, và việc tổng thống sẽ bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh FED tại New York

Như vậy, ban quản trị FED New York vẫn sẽ tiếp tục bổ nhiệm vị chủ tịch chi nhánh có ảnh hưởng cực lớn này. FED New York là tổ chức duy nhất trong số 12 ngân hàng khu vực của FED có một ghế thường trực trong ủy ban thiết lập chính sách của Ngân hàng trung ương Mỹ. Trước đó, FED cảnh báo hai điều khoản này có thể khiến hoạt động ra quyết định về kinh tế - tài chính của FED chịu ảnh hưởng chính trị từ bên ngoài.

Ngày 16-6, các nghị sĩ Mỹ đàm phán để tích hợp hai phiên bản dự luật cải tổ tài chính của hai viện cho phép cơ quan điều tra của quốc hội giám sát các hoạt động giao dịch quan trọng nhất của FED.

Theo đó, Văn phòng Trách nhiệm giải trình chính phủ (GAO) sẽ kiểm toán các khoản cho vay khẩn cấp của FED cho các tổ chức tài chính trong thời điểm khủng hoảng tài chính, các khoản cho vay lãi suất thấp cho các ngân hàng và các thỏa thuận mua bán chứng khoán của FED nhằm xác lập chính sách tiền tệ.

“FED sẽ trở nên minh bạch hơn nhiều và sẽ thường xuyên bị kiểm tra” - hạ nghị sĩ Dân chủ Melvin Watt khẳng định.

FED là ngân hàng tư nhân ?

Giới chuyên gia đã buộc tội FED góp phần “đổ dầu vào lửa” khiến cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 bùng nổ. Nhiều nhà kinh tế, như ông John Taylor cáo buộc chính sách lãi suất của FED đã dẫn đến tình trạng bong bóng bất động sản tại Mỹ.

Theo họ, giá nhà đất ở Mỹ tăng vọt trong thập niên đầu thế kỷ 21 không phải do cung - cầu mà do FED đẩy cầu lên khi giữ lãi suất cho vay ở mức rất thấp, dẫn đến tình trạng người dân vay quá nhiều và mua nhà một cách khinh suất.

Bong bóng bất động sản bùng nổ, thị trường nhà đất sụp đổ dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính. “FED không phải là thủ phạm duy nhất của cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng đã châm dầu vào lửa khi giữ mức lãi suất 1% vào năm 2003-2004 và chỉ tăng quá ít trong các năm 2004-2006” - nhà kinh tế David Malpass cáo buộc.

Một trong những chỉ trích FED thường hứng chịu là FED quá thân cận với giới ngân hàng, đối tượng mà nó giám sát. Trên thực tế, nếu nhìn vào cơ cấu của FED, có thể thấy cáo buộc này có cơ sở.

FED bao gồm một cơ quan trung ương là ban thống đốc ở Washington và 12 chi nhánh FED địa phương. Theo định nghĩa của FED (www.federalreserve.gov/pf/pdf/pf_1.pdf), các chi nhánh FED địa phương là “các cánh tay hoạt động của hệ thống ngân hàng trung ương, và chúng bao gồm cả các yếu tố công và tư trong tổ chức”. Mỗi chi nhánh FED có chín thành viên trong ban giám đốc.

Các ngân hàng thương mại trong khu vực của chi nhánh FED đó bầu ra ba thành viên, sáu người còn lại do các ngân hàng thành viên của FED và ban thống đốc lựa chọn. FED có khoảng 38 ngân hàng thành viên và các ngân hàng này sở hữu cổ phần vốn của các chi nhánh FED địa phương.

Các đại gia ngân hàng như Citibank và J.P.Morgan Chase nắm đa số cổ phần của chi nhánh FED ở New York. Các chi nhánh FED địa phương chi 6% lợi nhuận cho các cổ đông tư nhân này thông qua hình thức cổ tức. Do đó, không ít người đã chỉ trích FED dù mang tiếng là cơ quan liên bang nhưng thực tế lại là một “ngân hàng tư nhân”.

Từng cho vay 100 tỉ USD/ngày

Từ năm ngoái đến nay, ở cả tòa án và Quốc hội Mỹ, FED đã vận động hành lang dữ dội để chống lại đề xuất của thượng nghị sĩ độc lập Bernard Sander về việc điều tra chương trình cho vay khẩn cấp của FED từ năm 2007. Tuy nhiên, các tòa án và thượng viện Mỹ đều buộc FED phải tiết lộ tên các ngân hàng, công ty tài chính Phố Wall đã vay khẩn cấp từ FED và tài sản các ngân hàng này thế chấp để được vay.

“Chúng ta phải vén bức màn bí mật của cơ quan có lẽ là quan trọng nhất trong Chính phủ Mỹ” - thượng nghị sĩ Sander tuyên bố.

Nhiều nguồn tin cho biết trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, FED đã cho vay khẩn cấp hơn 1.000 tỉ USD với mức trung bình 10-11 tỉ USD mỗi tuần. Vào giai đoạn cao điểm của cuộc khủng hoảng, FED cho vay hơn 100 tỉ USD mỗi ngày. Hiện tại, FED đã dừng phần lớn các chương trình cho vay khẩn cấp. Ngoài đề xuất của thượng nghị sĩ Sander, các hãng thông tấn như Bloomberg News hay Fox News Network đã kiện FED ra tòa, đòi FED phải công khai thông tin về chương trình cho vay khẩn cấp.

FED từ chối công khai chương trình cho vay khẩn cấp với lý do nếu tiết lộ tên các ngân hàng đã vay thì giới khách hàng có thể nghi ngờ khả năng trả nợ của các ngân hàng này và bỏ chạy. Khi đó, các ngân hàng khác cũng sẽ ngại không muốn vay khẩn cấp từ FED, dẫn đến nguy cơ chương trình vay khẩn cấp của FED, một công cụ quan trọng trong khủng hoảng tài chính, trở nên vô tác dụng. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng lập luận của FED không mang tính thuyết phục.

“Người dân Mỹ cần biết hàng ngàn tỉ USD tiền thuế của họ biến đi đâu” - thượng nghị sĩ Sander khẳng định.

Như vậy, dù vẫn còn đầy quyền lực nhưng trong thời gian tới, FED sẽ không còn là một tổ chức bí mật, bất khả xâm phạm nữa

LOBBY.VN
06-22-2010, 04:09 PM
Sony lobby Mỹ 730.000 USD trong quý I

Số tiền các công ty dùng để vận động hành lang (lobby) chính phủ Mỹ được công bố cho thấy muốn kiếm lợi nhiều tại Mỹ, doanh nghiệp phải chi nhiều cho lobby chính phủ

Hai công ty con của Sony - Sony Music Entertainment và Sony Electronics đã chi 730.000 USD trong quý I đầu năm nay để vận động hành lang chính phủ liên bang về chống vi phạm bản quyền nội dung số và các vấn đề khác

Theo hãng tin AFP, con số này tuy giảm nhẹ so với 740.000 USD Sony đã chi cho cùng kỳ năm ngoái nhưng nhiều hơn 570.000 USD Sony đã chi trong quý IV trước đó. Sony cũng vận động hành lang chính phủ liên bang về lập pháp các vấn đề liên quan đến thù lao biểu diễn và phí tần số cho các công ty ghi âm

Trong ba tháng đầu năm, Sony đã vận động hành lang Quốc hội, Ủy ban Truyền thông liên bang, văn phòng tổng thống và các cơ quan chính phủ khác

LOBBY.VN
07-03-2010, 12:45 PM
Thương vụ tàu Mistral giữa Nga và Pháp có thể đổ bể ?

- Một ủy ban đặc biệt của chính phủ được thành lập để nghiên cứu việc mua tàu mang trực thăng lớp Mistral của Pháp do Phó Thủ tướng, Chủ tịch hội đồng giám đốc tập đoàn đóng tàu thống nhất của Nga Igor Sechin lãnh đạo. Theo tờ Kommersant của Nga, điều này có nghĩa là hợp đồng mua tàu Mistral của Pháp do Bộ Quốc phòng vận động hành lang có thể sẽ không diễn ra vì ông Sechin được cho là người không ủng hộ hợp đồng này

Thay vào đó, tập đoàn đóng tàu thống nhất có thể bắt đầu chế tạo tàu tương tự như tàu Mistral với tập đoàn STX của Hàn Quốc tại Kronstadt, Nga

Thông tin trên được Phó Thủ tướng Nga Sergei Ivanov tuyên bố vào chiều 02/7. Tuy nhiên, ông không nói rõ thành phần đầy đủ của ủy ban và quyền hạn của ủy ban này. Trong khi đó ông Sechin không bình luận về việc thành lập ủy ban này

Cho đến nay, cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện hợp đồng mua tàu Mistral của Pháp là công ty xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport. Vào tháng 6, Tổng Giám đốc công ty Anatoly Isaikin cho rằng, trong các cuộc hội đàm với Pháp có cả sự tham gia của đại diện Bộ Quốc phòng Nga. Nhưng nguồn tin của tờ Kommersant cũng như một vài nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga cho biết, hiện nay “ủy ban này sẽ chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề của hợp đồng từ việc bắt đầu nghiên cứu tính hợp lý của hợp đồng đến việc trang bị vũ khí cho tàu”. Đại diện Bộ Quốc phòng Nga cũng vẫn sẽ tham gia vào quá trình thực hiện hợp đồng này còn công ty Rosoboronexport sẽ chịu trách nhiệm đơn thuần “về mặt kỹ thuật của hợp đồng tiềm năng này”

Trong khi đó, một vài nguồn tin tiết lộ với tờ Kommersantbản thân ông Igor Sechin kịch liệt phản đối hợp đồng trực tiếp mua tàu Mistral của Pháp. Họ giải thích rằng, tổ hợp công nghiệp quốc phòng “không chỉ quan tâm đến việc nhập khẩu các tàu quân sự mà còn tới cả việc đóng chúng tại Nga và việc nhận các hợp đồng của Bộ Quốc phòng Nga". Trong chuyến thăm Paris hồi tháng 6, Phó Thủ tướng Sechin nói rằng việc mua tàu Mistral không phải ở “bản thân tàu Mistral” mà là “công nghệ đóng loại tàu này”. Tập đoàn đóng tàu thống nhất của Nga muốn đóng tàu lớp Mistral tại Nga, chứ không chỉ mua tàu hoàn thiện. Bộ Quốc phòng Nga giải thích cần thiết mua tàu Mistral là vì tính đa chức năng của nó và có kế hoạch sử dụng tàu tại vùng Viễn Đông

Việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Igor Sechin làm chủ tịch ủy ban phụ trách việc mua tàu Mistral là “chiến thắng quan trọng của những ai không tán thành hợp đồng mua trực tiếp tàu Mistral”, Phó Giám đốc Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ Konstantin Makyenko nhận định. Chuyên gia trên nhận định, hiện nay, hợp đồng chắc chắn đang bị cản trở còn các cuộc tranh cãi xung quanh hợp đồng này sẽ càng “rôm rả” hơn từ vấn đề mua tàu đến khả năng đóng tàu này tại Nga. Nếu ủy ban này do Phó Thủ tướng Igor Sechin lãnh đạo thì việc mua tàu trước hết nhằm mục đích nắm được công nghệ đóng tàu chắc chắn sẽ không được chào đón. Nhưng, ông cho biết rõ hơn rằng, toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ phía Hàn Quốc sẽ sẵn sàng chia sẻ công nghệ cho Nga ở mức độ nào cũng như thời gian thực hiện dự án

LOBBY.VN
07-05-2010, 05:16 PM
HUNGARY TỐN BẠC TRIỆU HÀNG TUẦN
ĐỂ VẬN ĐỘNG MỸ BỎ VISA

Dutko Worldwide, một hãng tư vấn Mỹ được Hungary trả 5.000 USD (chừng 1 triệu Ft) hàng tuần để "vận động hành lang" trong Quốc hội Hoa Kỳ nhằm mục đích Mỹ bỏ thị thực nhập cảnh cho công dân Hung. Không chỉ riêng Hung, mà nhiều nước thành viên EU khác cũng ủy nhiệm Dutko Worldwide vì mục đích này, và theo Simonyi András - đại sứ Hungary tại Washington -, điều này được thực hiện trên cơ sở đấu thầu hoàn toàn hợp thức.

Như đã đưa tin, Cộng hòa Hungary đang rất hy vọng được Hoa Kỳ miễn visa trong thời gian tới và để đạt được điều đó, nước này đang thuê các dịch vụ "vận động hành lang" của Dutko Worldwide, một hãng giàu kinh nghiệm, rất có uy tín và ảnh hưởng đối với cả hai đảng Xã hội và Dân chủ. Ông Simonyi András cho biết: việc ủy nhiệm hãng này đã được bàn bạc từ nửa năm nay và trong khuôn khổ một cuộc đấu thầu theo các quy định nghiêm ngặt của Liên hiệp Châu Âu, Dutko Worldwide đã giành được vai trò này. Hiện tại, 4 nước thuộc khối Visegrád (Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Czech và Slovakia), cũng như hai nước vùng vịnh Baltic (Litvania và Lettonia), hàng tuần đều trả 5.000 USD cho Dutko Worldwide để hãng này vận động Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cho phép công dân các nước kể trên được nhập cảnh Mỹ mà không cần xin chiếu khán.

Trả lời câu hỏi liệu bao giờ Hoa Kỳ miễn visa cho công dân Hung, đại sứ Simonyi András cho rằng không nên "đoán già đoán non", vì "điều gì phải đến sẽ đến" theo đúng lịch trình và các kế hoạch được bàn thảo. Nhà ngoại giao Hung nhấn mạnh: ông sẽ là người hạnh phúc nhất nếu quyết định được đưa ra trước khi nội các Bush mãn nhiệm, tức tháng 1-2009.

Ông Simonyi András cũng cho biết: cho dù quyết định được đưa ra đi nữa, vẫn phải chờ một khoảng thời gian nhất định để thực hiện các thủ tục hành chính, cho đến khi thủ tục miễn thị thực được thực hiện.

LOBBY.VN
07-14-2010, 05:16 PM
Phố Wall lung lạc Quốc hội Mỹ như thế nào ?

- Giới vận động hành lang là phần không thể thiếu trong nền chính trị Mỹ. Những gì họ đã làm trong thời gian gần đây liên quan đến dự luật cải tổ hành chính càng cho thấy quyền lực trong bóng tối của họ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/432359.jpg
Chuyên gia vận động hành lang Tony Podesta tự tin về tương lai

Trong hai tuần qua, khi các thành viên Thượng viện và Hạ viện Mỹ tranh cãi nảy lửa về những khác biệt trong hai phiên bản của dự luật cải tổ tài chính, Phố Wall cũng mở chiến dịch vận động dữ dội nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại có thể phải gánh chịu khi dự luật được thông qua. Theo ước tính sơ bộ, Phố Wall đã chi 1,4 triệu USD mỗi ngày để thuê tổng cộng 2.063 chuyên gia vận động hành lang với mục tiêu duy nhất: làm suy yếu dự luật cải tổ tài chính.

Nghề “trao thông tin”

Các nhà vận động hành lang khẳng định vai trò của họ không phải là gây sức ép hay ảnh hưởng, mà đơn thuần chỉ là “trao thông tin” cho các nghị sĩ quốc hội. “Các nghị sĩ quốc hội muốn hiểu rõ những gì họ đang làm. Họ thường xuyên viết luật nhưng không nghĩ đến việc luật đó sẽ được áp dụng như thế nào trong các trường hợp khác nhau - một nhà vận động giải thích - Khi hiểu rõ hậu quả của những gì họ định làm thì họ sẽ ra những quyết định đúng đắn hơn”.

Lợi khoe, hại che

Trong tòa nhà Quốc hội Mỹ tại đồi Capitol, hằng ngày các chuyên gia vận động hành lang - những người đàn ông bảnh bao trong các bộ vest đắt tiền - thường xuyên lượn ra lượn vào. Họ không ngại tiết lộ nhiệm vụ của mình là “tóm lấy một cố vấn cấp cao của phe Cộng hòa, nhồi vào đầu ông ta ý tưởng về việc viết lại luật Volcker”

Luật Volcker, lấy tên của cựu chủ tịch Cục Dự trữ liên bang (FED) Paul Volcker, cấm các ngân hàng đổ tiền vốn vào các giao dịch tài chính mạo hiểm như địa ốc hay chứng khoán cá nhân. Đó là điều khoản mà nhiều chuyên gia tài chính tin rằng sẽ giúp ngăn chặn khủng hoảng tài chính lặp lại

Giới vận động hành lang đã không thể xóa nó khỏi dự luật cải tổ tài chính của ông Obama, nhưng đã tìm cách cắt xén bớt nó bằng cách rót vào tai các nghị sĩ những gợi ý như hãy cho phép các ngân hàng, quỹ đầu tư dành một vài phần trăm vốn vào các khoản đầu tư mạo hiểm, hoặc hoãn thi hành luật Volcker, hoặc miễn áp dụng đối với các ngân hàng lớn.

Các nhà vận động hành lang cũng hoạt động dữ dội để tiêu diệt hoặc làm suy yếu điều khoản cấm các ngân hàng tham gia thị trường chứng khoán phái sinh, thị trường trị giá 615.000 tỉ USD. Vũ khí của họ chính là những nghiên cứu, khảo sát cực kỳ chi tiết về những bất lợi của các điều khoản hạn chế Phố Wall, trong khi lờ tịt đi những lợi ích thiết thực mà các điều khoản này có thể đem lại

Và khi hai viện hoàn tất thương lượng, luật Volcker đã yếu đi rõ rệt. Các ngân hàng vẫn có quyền sở hữu cổ phiếu tư nhân và cổ phiếu quỹ đầu tư nếu không vượt quá 3% vốn ngân hàng. Đồng thời, phiên bản cuối của dự luật cải tổ tài chính vẫn cho phép các ngân hàng lớn giao dịch một số sản phẩm của thị trường chứng khoán phái sinh. Các chuyên gia tài chính ước tính trong tổng số 615.000 tỉ USD của thị trường này, gần 500.000 tỉ USD sẽ không bị đụng đến

Cũng nhờ những nỗ lực vận động hành lang quyết liệt, hai ngân hàng Fannie Mae và Freddie Mac cùng với ngành sản xuất ôtô Mỹ và các hãng đo định mức tín nhiệm trở thành những kẻ thắng trong phiên bản cuối cùng của dự luật cải tổ tài chính, như đánh giá của nhiều chuyên gia tài chính. Dù nhận của chính phủ 125 tỉ USD nhưng Fannie và Freddie đều hoàn toàn miễn nhiễm với các điều khoản kiểm soát giới ngân hàng

Nghề có giá

Ông Tony Podesta, một trong những nhà vận động hành lang nổi tiếng ở Washington, kiêu hãnh khẳng định dù Tổng thống Obama liên tục chỉ trích sự ảnh hưởng của giới vận động hành lang, thì nhu cầu dành cho họ vẫn liên tục gia tăng

“Điều mỉa mai là cứ mỗi lần tổng thống nói rằng các chuyên gia vận động hành lang chúng tôi có đủ mọi quyền lực và ảnh hưởng thì những người chưa thuê được một nhà vận động nào lại phát cuồng lên đi tìm cho bằng được một người - ông Podesta hể hả - Tổng thống nói quá khả năng của chúng tôi, nhờ đó giúp tăng nhu cầu dịch vụ cho chúng tôi”

Bằng chứng là theo Trung tâm Chính trị phản ứng (CRP) ở Washington, vận động hành lang có lẽ là ngành công nghiệp ăn nên làm ra nhất. Tại thủ đô nước Mỹ có tổng cộng 1.900 hãng vận động hành lang, chiêu mộ một đạo quân hơn 11.000 “tay súng”

Trong thời gian qua, đối tượng khách hàng lớn nhất của họ là các ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà môi giới cổ phiếu, quỹ đầu tư, chuyên gia giao dịch chứng khoán... Nhiều tập đoàn chi hàng triệu USD mỗi năm cho dịch vụ vận động hành lang. Chỉ trong năm 2009, doanh thu của các công ty vận động hành lang đạt tới 3,49 tỉ USD

Trong bốn năm qua, Hãng Podesta Group của ông Podesta đã tăng gấp ba lần nhân lực. Trong dự luật cải tổ tài chính, ông Podesta vận động ở 25 điểm khác nhau cho những tập đoàn lớn như Bank of America, và các công ty khác nhỏ hơn

Ngay sau khi Quốc hội Mỹ kết thúc thảo luận vụ này, ông Podesta lập tức chuyển sang làm “trung gian” giữa Hãng dầu khí BP với các nhà điều tra của Quốc hội về vụ tràn dầu trên vịnh Mexico. Ông Podesta cũng thu hút vô số khách hàng từ ngành bảo hiểm y tế sau khi Tổng thống Obama đưa ra luật cải tổ bảo hiểm y tế

Washington đang tìm cách đưa ra các biện pháp hạn chế giới vận động hành lang. Nhưng những nhà vận động như ông Podesta tỏ ra rất tự tin. “Họ (chính quyền) sẽ làm bất cứ điều gì có thể - ông Podesta tuyên bố - Nhưng dù họ có cấm các nhà vận động hành lang lấy bằng lái xe đi chăng nữa, chúng tôi vẫn sẽ mua xe hơi và thuê tài xế”

LOBBY.VN
07-14-2010, 05:21 PM
3,3 tỷ USD cho các hoạt động vận động hành lang

- Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Các vấn đề chính trị Mỹ cho biết, năm 2009, nước này phải chi tới 3,3 tỷ USD cho các hoạt động vận động hành lang

Trong đó, chi cho vận động hành lang đối với các nghị sỹ Quốc hội và cơ quan hành chính liên bang lên tới 2,5 tỷ USD. Tuy nhiên, số nhà vận động hành lang tham gia thị trường năm 2009 ít hơn năm 2008 (13.426 so với 14.808 người)

Thanh tra PCTN (http://chongthamnhung.thanhtra.com.vn/UserPages/N ews/detail/tabid/73/newsid/729/seo/3-3-ty-USD-cho-cac-hoat-dong-van-dong-hanh-lang/Default.aspx)

LOBBY.VN
07-17-2010, 04:31 PM
FIFA cấm vận động hành lang khi xin đăng cai World Cup

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/172514214.jpg
Chủ tịch của FIFA, ông Sepp Blatter

Tổ chức hành chính bóng đá lớn nhất thế giới - FIFA vừa ban hành một số điều luật mới cấm các nước xin đăng cai các VCK World Cup 2018 và 2022 tiến hành vận động hành lang với các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA (gồm 24 người)

Trước đây, đại diện của các nước xin đăng cai World Cup được tự do gặp gỡ các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA mà không cần phải báo cáo. Nhưng theo luật mới này, mọi sự liên hệ (dù trực tiếp hay gián tiếp) của đại diện các nước xin đăng cai với 24 thành viên trong Ủy ban điều hành của FIFA (kể cả đại diện của những người này) đều phải được báo cáo trước với FIFA bằng văn bản. Ngoài ra, trong báo cáo còn phải nói rõ nguyên nhân của việc liên hệ và cả những thông tin khác nếu cần

Việc FIFA ra luật mới này được xem là một biện pháp ngăn chặn những hành vi tiêu cực trong việc vận động hành lang của các nước xin đăng cai World Cup. Điển hình là vụ bê bối gần đây do báo chí Úc khui ra liên quan đến việc chính Ủy ban vận động đăng cai World Cup 2022 của nước này đã hối lộ các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA dưới những hình thức khôn khéo như tặng quà cáp đắt tiền, các chuyến du lịch sang trọng…

Vào ngày 11.12 tới đây, Ủy ban điều hành FIFA sẽ họp tại Zurich (Thụy Sỹ) để bỏ phiếu chọn quốc gia đăng cai World Cup 2018

LOBBY.VN
08-07-2010, 04:16 PM
Nghề vận động hành lang cho nước ngoài tại Hoa Kỳ

Vận động hành lang (tiếng Anh là lobby) cho nước ngoài đã trở thành một dịch vụ kinh doanh lớn đối với đa số công ty uy tín ở Washington D.C. Theo dữ liệu từ Bộ Tư pháp, danh sách những người đăng ký đại diện cho nước ngoài khoảng 1.800 trong nửa đầu năm 2005 đã lên 1.900 trong nửa đầu năm 2009. Các nhà hoạt động nhân quyền nói rằng có một bước gia tăng nhảy vọt về vận động hành lang, đặc biệt trong những khu vực sử dụng đồng USD, và với một số nước đang chịu sự trừng phạt của Mỹ

Chỉ riêng nửa đầu năm 2009, Cộng hòa Congo đã chi 1,5 triệu USD cho các công ty PR (giao tế) và lobby cũng như các đại diện khác, theo nguồn tin từ Bộ Tư pháp Mỹ. Angola, một trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới, đã chi hơn 3 triệu USD trong cùng kỳ. Các đại diện lobby của Đức quốc xã tại Washington trước Thế chiến II đã làm bại hoại cả các công ty, tạo một vết nhơ phải mất nhiều thập niên để tẩy xóa. Sau khi nắm quyền lực trong một cuộc đảo chính hồi mùa hè qua, và đang phải đối diện với những chỉ trích trực tiếp từ chính quyền Obama, các nhà cầm quyền quân sự mới của Honduras đã nhanh chóng chi phí ít nhất 400.000USD thuê các công ty quyền lực Mỹ để vận động hành lang cho họ

Vận động hành lang đã trở thành những hoạt động khá mập mờ. Luật pháp Mỹ yêu cầu các nhà lobby phải công khai tất cả các hợp đồng với những thân chủ nước ngoài, nhưng sự thực là hồ sơ về các thân chủ nước ngoài cung cấp vốn không có nhiều thông tin. Một số nhà lobby còn không có cả hồ sơ. Sự gia tăng vận động hành lang cho người nước ngoài cũng có thể đem lại thỏa hiệp đối với chính sách gần đây và trong tương lai của các quan chức Mỹ. Trong vai trò giám sát, các lobby có thể đại diện và là cầu nối cho đa số các chế độ tai tiếng nhất trên thế giới với chính phủ Mỹ

Vận động hành lang có thể làm giảm áp lực đối với những chế độ độc tài. Sau những năm vận động hành lang căng thẳng, Tổng thống Teodoro Obiang của Equatorial Guinea đã làm chuyển đổi hình ảnh của ông đối với Washington, từ một nhà cầm quyền “tai tiếng” trở thành đồng minh của Mỹ và là bạn thân thiện của giới doanh nghiệp Mỹ. Năm 2006, trong cuộc họp với ông Obiang ở Foggy Bottom, Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã tuyên bố ông là một “người bạn tốt”. Năm ngoái, ông Obiang đã có dịp hội kiến với Tổng thống Obama. Có nhiều quốc gia vẫn thuê các nhà lobby ở Washington để xử lý vấn đề như các cuộc tranh cãi về thương mại, hoặc những kiện tụng về quyền sở hữu trí tuệ, kể cả quá trình tranh thủ những hậu thuẫn chính trị. Được biết số tiền hàng năm ông Obiang đã chi cho các nhà vận động hành lang ở Mỹ lên đến một triệu USD

LOBBY.VN
08-08-2010, 05:58 PM
Môi giới vốn: Nghề mới !

Khi tín dụng NH gặp khó, hướng đi của các DN là phát hành trái phiếu DN. Nhưng cung - cầu không dễ gặp nhau nên nghề môi giới vốn bắt đầu xuất hiện và trở nên có giá

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2010 khoảng 10,52%, trong đó tín dụng bằng VND chỉ tăng 4,6%, còn tín dụng ngoại tệ tăng tới 27%

Có 2 nguyên nhân được coi là ảnh hưởng chính đến mức tăng trưởng tín dụng thấp, đó là nguồn vốn huy động trong dân cư chưa đủ lớn và DN không dễ chấp nhận mức lãi suất vay vốn ngân hàng thực tế lên đến 17 - 18%.

Chính vì vậy, thay vì thông qua các tổ chức tín dụng như công ty tài chính, ngân hàng thương mại…, thì một bộ phận cá nhân, dựa vào quan hệ và thông tin đã thực hiện hoạt động kết nối nhu cầu tín dụng trực tiếp giữa DN cần vốn và những người có vốn.

Thống kê sơ bộ cho thấy, trong thời gian vừa qua, không ít DN đã phát hành thành công trái phiếu DN với tổng giá trị huy động lớn, lãi suất huy động hợp lý hơn so với lãi suất vay vốn ngân hàng như: Tập đoàn Sông Đà phát hành 1.500 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất năm đầu là 15%/năm, các năm sau là lãi suất trung bình của 4 ngân hàng cộng 4%; Tổng công ty Vinaconex phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 2 năm, lãi suất năm đầu 14%/năm, năm thứ hai là lãi suất bình quân 4 ngân hàng cộng 3,4%;

Tổng CTCP Đầu tư và Xây dựng Bình Chánh phát hành 300 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất năm đầu 12,5%/năm, các năm tiếp theo bằng lãi suất bình quân 4 ngân hàng cộng 4%...

Tuy nhiên, để có được những đợt phát hành thành công như trên, không phải DN nào cũng có cơ may trực tiếp tìm được người sẵn sàng cung ứng vốn hoặc gặp thuận lợi trong quá trình làm việc với các tổ chức trung gian thu xếp vốn.

Lãnh đạo một DN ngành vận tải đường biển cho biết, DN muốn vay vốn ngân hàng bằng USD để đầu tư thêm một tàu biển theo kế hoạch mà ĐHCĐ đã đề ra từ đầu năm. Nhưng khi trao đổi với ngân hàng đối tác thì được trả lời, với mức lãi suất vay USD chấp nhận khoảng 6%/năm, DN khó lòng huy động được toàn bộ số vốn như nhu cầu.

Tại một DN ngành thủy sản đang niêm yết trên Sở GDCK TP. HCM, lãnh đạo DN đang tích cực triển khai các bước để có thể sớm hoàn thành việc phát hành trái phiếu, nhưng người môi giới không phải là tổ chức tín dụng, mà là cá nhân.

Anh Đ., một môi giới chứng khoán tự do, sau một thời gian phụ trách phòng VIP của 3 CTCK tại Hà Nội đã thiết lập được mạng lưới khách hàng lớn, trong đó bao gồm cả một số quỹ đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy, thay vì chỉ thực hiện môi giới đầu tư cổ phiếu, anh Đ. còn kiêm luôn cả nghề môi giới vốn.

Bằng việc hợp tác với hai ngân hàng quen, thêm một CTCK đứng ra làm đơn vị tư vấn để hợp thức hóa thủ tục, hiện tại, anh Đ. đang làm môi giới để phát hành trái phiếu cho 3 DN (trong đó có 1 DN niêm yết).

Không chỉ có anh Đ., việc tận dụng mối quan hệ để kết nối nhu cầu vốn của các cá nhân (đôi khi chỉ là cho một thương vụ cụ thể) thời gian gần đây đã trở thành trào lưu.

Với việc xuất hiện ngày càng nhiều các "đại gia" trên TTCK, thì khi thị trường trầm lắng, nhu cầu phân tán một phần rủi ro bằng việc đầu tư vào trái phiếu DN tăng lên, khiến các môi giới cá nhân vì thế cũng tăng cường hoạt động.

Điều này không chỉ giúp DN huy động được vốn rẻ hơn, mà còn giúp những đơn vị, cá nhân tận dụng tốt hơn nguồn vốn nhàn rỗi so với gửi tiết kiệm tại ngân hàng.

Theo anh Đ., có nhiều thương vụ thu xếp vốn mang danh nghĩa CTCK tư vấn, nhưng thực tế là do các môi giới cá nhân đứng ra làm trung gian.

Xu hướng sử dụng môi giới cá nhân không chỉ xuất phát từ sự chủ động tìm hiểu và kết nối nhu cầu của chính môi giới, mà đôi khi các tổ chức tín dụng cũng muốn phát huy kênh tín dụng này để bán trái phiếu.

Giai đoạn cuối năm 2009, đầu năm 2010, giám đốc tín dụng một công ty tài chính đã liên tục tuyển dụng "chân rết" ngoài thị trường, chỉ nhằm mục đích là tìm DN hoặc cá nhân có năng lực tài chính để bán trái phiếu DN.

Theo vị này, việc tìm "chân rết" không chỉ giúp công ty tiết kiệm chi phí tiền lương, mà quan trọng là hiệu quả hoạt động cao, do tận dụng được mối quan hệ thân thiết của từng "chân rết" với lãnh đạo DN.

"Không ai có thể đảm bảo mình biết rõ DN nào thừa vốn, vì vậy, tận dụng thế mạnh của mỗi cá nhân trong từng thương vụ sẽ giúp chúng tôi bán trái phiếu dễ dàng hơn nhiều so với việc chào bán công khai", vị này nói.

Dù vậy, khó khăn nhất trong các thương vụ là thiếu cơ chế trả phí cho môi giới. Theo đó, để hợp thức hóa, công ty tài chính nêu trên đã ký kết một hợp đồng trung gian với một DN thân quen khác, sau đó DN thân quen này ký hợp đồng với cá nhân môi giới và DN mua trái phiếu. Vậy là, phải qua 2 cầu, đồng vốn mới đến được đích của nó.

Rõ ràng, môi giới vốn của các cá nhân đang phát triển và chứng minh được hiệu quả. Để phát huy tiềm năng của khối này và thuận tiện cho việc giám sát, nên chăng cơ quan quản lý sớm có hành lang pháp lý để môi giới vốn thực sự trở thành nghề minh bạch trên thị trường vốn

Bùi Sưởng - ĐTCK (http://cafef.vn/2010080710241391CA31/moi-gioi-von-nghe-moi.chn)

LOBBY.VN
08-09-2010, 10:11 PM
Quan chức không môi giới dự án FDI

- “Trao đổi với lãnh đạo nhiều địa phương, họ thừa nhận có sự thiếu thận trọng cần thiết khi thẩm định dự án, vì có nhiều dự án lớn do T.Ư giới thiệu về. Vì vậy, khi dự án đổ bể thì không truy trách nhiệm cho ai được”

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ với Tiền Phong, quanh chuyện thu hút FDI tại Việt Nam

Không làm được thì mời ra

Báo Tiền Phong vừa đăng loạt bài về Những đại dự án FDI vốn ảo. Câu chuyện này cho thấy những bất ổn nào trong thu hút FDI tại Việt Nam, thưa bà?

Formosa không phải là đơn vị mạnh về ngành thép ở Đài Loan. Tuy nhiên, chúng ta lại chào đón họ vào với số vốn đăng ký lên tới 16 tỷ USD, thực sự tôi cũng thấy ngạc nhiên. Nếu thẩm tra lại, hỏi các cơ quan Đài Loan là biết ngay năng lực của họ

Rất nhiều trường hợp doanh nghiệp hiện nay trước khi đặt bút ký hợp đồng với đối tác nào đó thì họ thuê tư vấn, ngân hàng thẩm tra lại đối tác. Các cơ quan đầu mối của ta ở bên ngoài như Thương vụ cũng có thể hỗ trợ việc thẩm tra này. Chi vài trăm USD sẽ biết được năng lực thực sự của doanh nghiệp trước khi ký những hợp đồng triệu USD, làm như thế chắc chắn sẽ bớt rủi ro. Với những dự án lớn như vậy, thiếu việc thẩm tra là đáng tiếc

Các cơ quan nhà nước ở cấp T.Ư khi phân cấp cho địa phương cũng nên quan tâm hỗ trợ, nhất là những địa phương gặp khó khăn, thiếu điều kiện, năng lực thẩm định. Nên giúp địa phương thẩm tra lại chứ không nên hùa theo ngay. Bởi khi dự án đổ bể hậu quả rất lớn

Đối với các dự án ảo, chính quyền đã lỡ cấp phép thì các bộ ngành cần tích cực cùng với địa phương rà soát lại, chứ không nên để các địa phương tự làm. Với những dự án nhà đầu tư làm chậm trễ nhưng họ vẫn muốn làm tiếp thì phải kiên quyết buộc họ đảm bảo đúng tiến độ

Số tiền đặt cọc cũng phải đảm bảo theo quy định, không thực hiện được thì mời họ ra. Quá trình họ mang vốn đầu tư vào phải giám sát chặt. Các con số do Bộ KH&ĐT đưa ra cho thấy các nhà đầu tư chỉ có 28% vốn khi cam kết thực hiện dự án. Đây là tỷ lệ quá nhỏ, không đảm bảo để thực hiện dự án. Phải có đòi hỏi nghiêm ngặt về việc này

Quan chức không làm môi giới

Thực tế cho thấy có một số quan chức Việt Nam là những người đóng góp tích cực trong việc đưa các dự án lớn vào, trong đó có cả những dự án rởm như dự án thép 30 tỷ USD của tập đoàn Eminence đầu tư vào Thanh Hóa năm 2007?

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Khi thực hiện phân cấp mạnh như hiện nay, chúng ta đã làm loãng, thậm chí nhòa đi trách nhiệm của cơ quan cấp phép. Việc chọn nhầm các dự án rởm và bị đổ bể thường được đổ do phân cấp, do địa phương không có đủ năng lực thẩm định. Nhưng về các địa phương thấy hầu hết lãnh đạo các tỉnh đều nói rất nhiều trường hợp dự án FDI lớn là do T.Ư giới thiệu

Có những dự án được cho là triển khai do sức ép từ ông này, ông nọ. Đến khi địa phương hỏi ý kiến thì bộ này, bộ kia không trả lời, hoặc trả lời theo kiểu cứ làm đi. Chính vì vậy khi dự án có vấn đề, sẽ rất khó biết trách nhiệm thuộc về ai

Cách phân cấp hiện nay không ổn, không làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan. Cùng với đó là thiếu hệ thống giám sát xem những người đưa ra quyết định đã làm đầy đủ quy trình theo quy định của pháp luật chưa

Giờ có nhiều trường hợp, như việc cho thuê đất rừng chẳng hạn, chính Phó Thủ tướng giải thích là địa phương làm đúng quy trình. Nếu như vậy quy trình của chúng ta sai, có vấn đề. Nếu quy trình có vấn đề thì lỗi thuộc về những người đặt ra quy trình đó. Không thể đơn giản vì làm đúng quy trình nên khi có vấn đề xảy ra thì ai cũng đổ tại quy trình và không ai chịu trách nhiệm. Nếu được thẩm định độc lập, có sự giám sát của dân có lẽ đỡ hơn

Bà nhìn nhận thế nào việc quan chức dẫn mối dự án và có cảnh báo gì về việc này?

Theo tôi, cá nhân quan chức đi giới thiệu dự án đầu tư ở các địa phương là việc không hay, không nên làm. Chúng ta có sự lẫn lộn trong vai trò của các cơ quan trong việc đi xúc tiến, thúc đẩy quan hệ với việc tham gia các dự án cụ thể

Với những dự án nhà đầu tư làm không đúng nhưng quan chức vẫn cố ép địa phương thực hiện thì rất cần phải xem xét lại. Xem đằng sau sự nhiệt tình đó là cái gì. Chuyện quan chức đi làm xúc tiến đầu tư như vậy cần chấm dứt. Các quan chức có cương vị cao thì càng không nên làm việc này. Chỉ nên cam kết nếu nhà đầu tư làm nghiêm túc thì sẽ nhận được sự ủng hộ tối đa của Nhà nước, còn việc giải quyết cụ thể thì để các cơ quan địa phương làm việc theo chức trách. Phải rạch ròi quan chức không nên là nhà môi giới

Phải có định hướng

Các chuyên gia cho rằng thu hút FDI của Việt Nam còn nhiều bất ổn, các địa phương mới chú ý đến số vốn đăng ký chứ không có sự chọn lọc dự án theo hướng đặt nặng việc chuyển giao công nghệ, tạo việc làm?
Ở những nước có trình độ phát triển cao như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu hay ở Nhật Bản thì họ vẫn thu hút đầu tư nước ngoài. Cách thu hút của họ hoàn toàn khác với ta. Không phải Chính phủ đứng ra thu hút đầu tư mà Chính phủ chỉ tạo môi trường phát triển và hoan nghênh các doanh nghiệp vào làm theo đúng luật pháp. Các dự án vào nước họ đều được thẩm định rất kỹ lưỡng

Thay đổi cần thiết trong thu hút FDI ở Việt Nam trong thời gian tới, theo tôi cái mình cần là công nghệ, năng lực quản lý, kết nối thị trường để Việt Nam tham gia chuỗi thị trường toàn cầu chứ không phải như cách làm lâu nay. Công nghệ đưa vào ở mức rất thấp, không đáng kể. Ngay cả ở những lĩnh vực được coi là chất lượng cao thì hàm lượng công nghệ cũng vẫn thấp. Nhà đầu tư chỉ đưa vào những khâu sản xuất với công nghệ thấp nhất. Như dự án của Canon tại Việt Nam chủ yếu là lắp ráp

Lobby & FDI (http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/509181/Quan-chuc-khong-moi-gioi-du-an-FDI.html)

LOBBY.VN
08-22-2010, 08:33 AM
Microsoft lobby Mỹ về chính sách Internet Trung Quốc


Microsoft đã chi 1,85 triệu đô trong quý II để vận động hành lang (lobby) chính phủ Mỹ về bản quyền phần mềm, công nghệ trong y tế và các vấn đề khác

Theo hãng tin AP, so với cùng kỳ năm ngoái, ngân sách chi cho lobby của Microsoft giảm nhẹ. Các vấn đề đa dạng Microsoft lobby trong quý vừa qua cũng phản ánh lĩnh vực kinh doanh rộng lớn hãng. Microsoft đã vận động chính phủ liên bang Mỹ về lập pháp liên quan đến chính sách Internet của Trung Quốc, cải tổ chính sách sáng chế và thị thực cho kỹ sư nước ngoài…

Là hãng phần mềm lớn nhất thế giới, Microsoft liên tục chống lại vi phạm bản quyền phần mềm và các công ty bị hãng cho là vi phạm sáng chế của mình. Microsoft đặc biệt vận động chính phủ Mỹ về vi phạm bản quyền ở Trung Quốc

Microsoft cũng có thể hưởng lợi từ đạo luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ - một trong những dự luật hãng đã vận động, và các đề xuất khác về hồ sơ y tế điện tử. Microsoft có một bộ phận y tế với các sản phẩm giúp bệnh viện hợp nhất dữ liệu từ các nguồn khác nhau để tạo thành một bức tranh tổng thể về lịch sử chăm sóc sức khỏe và y tế của bệnh nhân. Hãng cũng vận động về các vấn đề quyền riêng tư liên quan đến hệ thống HealthVault của họ. Đây là hệ thống mà người dùng có thể sử dụng để lưu trữ thông tin y tế của mình

Microsoft sử dụng khoảng 89.000 nhân viên trên toàn cầu. Trong đó, riêng ở Mỹ có đến 54.000 nhân viên và rất nhiều là người nước ngoài. Microsoft ủng hộ việc tăng số lượng thị thực dành cho nhân viên nước ngoài làm việc ở Mỹ

Hãng cũng đã vận động chính phủ Mỹ về nhân quyền và Internet ở Trung Quốc. Đầu năm nay, đối thủ của Microsoft là Google đã đóng cửa công cụ tìm kiếm Trung Quốc của mình và chuyển người dùng sang website ở Hong Kong để phản đối việc chính phủ Trung Quốc cương quyết kiểm duyệt kết quả tìm kiếm

LOBBY.VN
08-28-2010, 10:12 AM
“Tướng quân bóng tối” muốn bước ra ánh sáng

- Ichiro Ozawa, chính trị gia đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ), từng được mô tả là “tướng quân bóng tối” suốt 20 năm qua. Giờ đây ở tuổi 68, “kẻ buôn vua” này lại đang muốn làm vua, một tham vọng có thể đe dọa sự tồn vong của DPJ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/443974.jpg
Ở giai đoạn hoàng hôn trong sự nghiệp, “tướng quân trong bóng tối” Ichiro Ozawa muốn bước ra ánh sáng

Báo Japan Times đưa tin hồi giữa tuần, cả chính trường Nhật đã chấn động khi ông Ozawa, cựu tổng thư ký DPJ, tuyên bố sẽ thách thức chức chủ tịch đảng với Thủ tướng Naoto Kan trong cuộc bầu cử nội bộ đảng ngày 14-9. Do DPJ nắm quyền kiểm soát hạ viện, người chiến thắng trong cuộc bầu cử chắc chắn nắm ghế thủ tướng. “Ozawa sẽ không tranh cử nếu ông ấy không nghĩ mình có cơ hội chiến thắng”, báo Wall Street Journal dẫn lời giáo sư chính trị học Gerald Curtis thuộc Đại học Columbia

Ông Ozawa, nhân vật từng được mệnh danh là “tướng quân bóng tối”, đã từ chức tổng thư ký DPJ hồi tháng sáu khi cựu thủ tướng Yukio Hatoyama rời nhiệm sở do không giành được sự tín nhiệm của người dân

WSJ bình luận ông Ozawa sẽ phải đối mặt với nhiều bất lợi lớn trong cuộc đối đầu với ông Kan. Thứ nhất, toàn bộ thành viên nội các và phần lớn lãnh đạo DPJ không ưa ông. Quan trọng hơn là công chúng Nhật lại không tin tưởng ông

Theo khảo sát của Hãng Nippon News Network trong tuần này, 79% người được hỏi khẳng định không ủng hộ ông Ozawa giữ bất cứ chức vụ gì trong DPJ, trong khi 61% cho biết họ muốn ông Kan tiếp tục nắm quyền. Dù uy tín ông Kan đang sụt giảm mạnh do muốn tăng thuế tiêu thụ, nhưng ông là thủ tướng thứ năm trong vòng bốn năm qua, và người dân Nhật đã quá mệt mỏi khi phải chứng kiến chính phủ thay đổi xoành xoạch

Ông Ozawa tuy bị mất uy tín do hiện đang bị điều tra hình sự do có dính dáng đến vụ bê bối quỹ chính trị mờ ám, nhưng các thành viên DPJ, chứ không phải công chúng Nhật, mới là những người quyết định kết quả cuộc bầu cử ngày 14-9. Trong nội bộ đảng, ông Ozawa nổi tiếng là “vua bầu cử” và là chiến lược gia chính trị hiệu quả nhất nước Nhật. Ông đóng vai trò quan trọng trong việc đưa khoảng 150 nghị sĩ giành ghế tại quốc hội, chiếm hơn 1/3 sức mạnh của DPJ. Ông cũng có sự ủng hộ từ phe của cựu Thủ tướng Hatoyama gồm 60 nghị sĩ khác. Trong lúc đó, uy tín của ông Kan đang sa sút sau khi DPJ thất bại ở cuộc bầu cử thượng viện hồi tháng 7. Và ở tuổi 68, cuộc bầu cử ngày 14-9 là cơ hội cuối cùng của ông Ozawa để lên nắm chiếc ghế quyền lực nhất

Giới quan sát bình luận tham vọng của ông Ozawa có thể khiến DPJ đảo lộn. Tỉ lệ ủng hộ của người dân Nhật dành cho DPJ đã sụt giảm mạnh, do vậy việc ông Ozawa lên nắm quyền sẽ chỉ khiến người dân càng thêm bất mãn. “Nền tảng DPJ đang bị rạn nứt nghiêm trọng - WSJ dẫn lời nhà phân tích chính trị Minoru Morita ở Tokyo - Kể cả một cơn địa chấn nhỏ cũng có thể khiến DPJ sụp đổ”. Mà Ozawa lại là một cơn địa chấn lớn

Cơn chấn động mới trên chính trường Nhật (http://tuoitre.vn/The-gioi/397603/%E2%80%9CTuong-quan-bong-toi%E2%80%9D-muon-buoc-ra-anh-sang.html)

LOBBY.VN
08-29-2010, 11:50 AM
Các nước Arab vận động Mỹ chống Israel

Bỏ qua những cảnh báo từ nước Mỹ, các quốc gia Arab vẫn đang tích cực vận động hành lang trong giới chức chính quyền Washington chấm dứt mọi ủng hộ đối với chương trình hạt nhân bí mật của Israel và gây sức ép buộc quốc gia Do Thái này phải đồng ý cho các thanh sát viên của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tới kiểm tra

Trả lời phỏng vấn hãng AP ngày 15/8, một số nhà ngoại giao của các nước Arab thậm chí còn nhấn mạnh rằng, nhiều quốc gia Arab Hồi giáo cảm thấy bị đe dọa bởi chương trình hạt nhân của Israel. Một số quốc gia thậm chí đã họp bàn và thành lập một đơn vị chuyên vận động hành lang tại Mỹ cùng các nước đồng minh của Israel nhằm yêu cầu những nước này thuyết phục Israel tham gia cuộc họp vào tháng 9 tới của IAEA

Đối với họ, động thái chỉ trích chính quyền Tel Aviv của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng trước cho thấy rằng, Mỹ cũng mệt mỏi với những "trò đánh đu" của Israel và rằng, đã đến lúc Israel phải tôn trọng sự hợp tác của quốc tế trong quá trình tiến tới phi hạt nhân trên Trái đất.

Điều kiện duy nhất mà các nước Arab yêu cầu lúc này là Israel mở cửa cho thế giới biết chương trình hạt nhân của họ và để từ đó, các cuộc đàm phán về một Trung Đông phi hạt nhân hóa sẽ được tiến hành một cách cởi mở, chân thành

Cũng theo quan niệm của một số nhà ngoại giao Arab thì khi Israel công khai hóa chương trình hạt nhân, Chính phủ Iran cũng sẽ học tập theo và thế giới không còn phải bán tín bán nghi về chương trình hạt nhân của Iran nữa

Rõ ràng, nhu cầu phi hạt nhân hóa ở Trung Đông đã trở nên cấp bách trong thế giới Arab. Hôm 8/8, Chủ tịch Liên đoàn Arab Amr Moussa đã viết thư chia sẻ với hãng thông tấn AP rằng, các quốc gia Arab sẵn sàng tham gia hội nghị do IAEA tổ chức vào tháng 9 và sẽ cố gắng thuyết phục sự ủng hộ từ Israel, Iran

Trong một dự thảo tuyên bố chung tại một cuộc họp trước đó, các nước Arab thậm chí còn đặt ra mục tiêu kêu gọi Israel nhanh chóng gia nhập Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Một bản sao của dự thảo tuyên bố chung này đã được gửi tới Đại sứ quán Bỉ ở Cairo và Ngoại trưởng Bỉ Steven Vanackere bởi Bỉ hiện là quốc gia đang giữ chức Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU)

Theo dự kiến, trong vài ngày tới, dự thảo tuyên bố này sẽ được gửi lên cả IAEA, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Ngoại trưởng Nga, Ngoại trưởng Trung Quốc, Ngoại trưởng Anh, Ngoại trưởng Pháp

Được biết, hồi tháng trước, Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu trong một cuộc hội đàm cũng cam kết sẽ cùng nhau hợp tác để tránh việc Israel bị cô lập tại Hội nghị của IAEA. Là quốc gia luôn lên tiếng phản đối chương trình hạt nhân của Iran , song Israel lại có vũ khí hạt nhân và không mấy khi muốn quốc tế thảo luận về vấn đề này. Trong 18 năm qua, đây là lần đầu tiên các quốc gia Arab thống nhất thái độ trong việc chỉ trích Israel về chương trình phát triển hạt nhân của nước này

LOBBY.VN
08-29-2010, 12:15 PM
Vụ hối lộ làm rung động Canada

Cuộc cạnh tranh và vận động hành lang giữa hai tập đoàn chế tạo máy bay hàng đầu thế giới là Airbus và Boeing nhằm cố chiếm được hợp đồng bán máy bay trị giá hàng chục tỉ USD cho Hãng Hàng không Canada (Air Canada) diễn ra quyết liệt

Cuối cùng thì Tập đoàn Airbus đã chiến thắng khi ký được hợp đồng bán 34 máy bay vận chuyển hành khách A 320s trị giá 12 tỉ USD cho Air Canada. Tức giận vì thua cuộc, Tập đoàn Boeing thông qua một số phương tiện truyền thông ở Canada đã tố cáo nhiều quan chức Chính phủ Canada, trong đó có cả Thủ tướng đương nhiệm Brian Mulroney và Chánh văn phòng nội các Fred Doucet đã nhận hối lộ hàng triệu USD để giúp Tập đoàn Airbus giành được hợp đồng bán máy bay cho Air Canada

Từ đó bùng nổ vụ tai tiếng đưa và nhận hối lộ làm rung động Canada từ thập niên 90 thế kỷ XX cho đến nay mà sự kiện mới nhất là việc Thủ tướng Canada Stephen Harper, vào tháng 4/2008, thông báo quyết định của Chính phủ và Quốc hội về việc thành lập một ủy ban đặc biệt để tái điều tra vụ đưa và nhận hối lộ liên quan đến Tập đoàn Airbus vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước

Trước đó, vào năm 1993, sau khi trở thành Thủ tướng Canada, ông Jean Chétien, đã quyết định cho mở một cuộc điều tra về vụ hối lộ liên quan đến thương vụ bán máy bay của Tập đoàn Airbus vào năm 1989 như là hành động thực thi một trong những lời hứa mà ông cam kết với cử tri trong chương trình vận động tranh cử trước đó

Sau gần 3 năm điều tra, lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Canada (RCMP) đã cho công bố kết luận làm rung động Canada, đó là việc cựu Thủ tướng Brian Mulroney (nhiệm kỳ 1984-1993) và Chánh văn phòng nội các Fred Doucet đã nhận hối lộ tất cả 1.050.000 USD của Tập đoàn Airbus để giúp cho tập đoàn này giành được hợp đồng bán 34 máy bay A 320s cho Air Canada

Kết luận điều tra còn cho biết, ông Mulroney đã nhận hối lộ số tiền 500.000 USD làm 2 lần. Lần thứ nhất là 300.000 USD được chuyển từ một tài khoản mang mã hiệu BRITAN qua một ngân hàng ở Thụy Sĩ đến một ngân hàng ở thành phố New York của Mỹ

Lần thứ hai là 200.000 USD từ một tài khoản mang mã hiệu FRANKFURT qua một ngân hàng cũng ở Thụy Sĩ đến một ngân hàng ở thành phố New York. Có điều là tuy tích cực điều tra nhưng RCMP vẫn không biết được danh tính của cá nhân hay tổ chức nào đã chuyển tiền cho ông Mulroney

Đồng tình với kết luận điều tra của RCMP là nhận định và buộc tội của các phương tiện thông tin đại chúng ở Canada. Các tờ báo lớn như Globe and Mail, The National Post, các hãng truyền hình và phát thanh CBC, CTV đồng loạt đưa tin và cả thực hiện các phóng sự điều tra chỉ với mục đích là buộc tội ông Mulroney nhận hối lộ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/18_karl824-to.jpg
Karlheinz Schreiber, nhân vật quan trọng của vụ đưa và nhận hối lộ làm rung chuyển Canada


Cuộc chiến pháp lý trở nên gay gắt vào các năm 1997-1998 khi ông Mulroney kiên quyết bác bỏ mọi cáo buộc nhận hối lộ và quay sang kiện chính phủ của Thủ tướng Chétien về tội vu khống và bôi nhọ danh dự cá nhân với yêu cầu phải bồi thường thiệt hại lên đến 50 triệu USD

Đến năm 1999, sau nhiều lần tranh kiện, Tòa án Tối cao Canada đã phán quyết cáo buộc ông Mulroney nhận hối lộ của Tập đoàn Airbus là không có căn cứ và tuyên Chính phủ Canada phải bồi thường 2,1 triệu USD thiệt hại danh dự cho ông Mulroney

Vụ hối lộ làm rung động Canada tưởng đâu bị chìm xuồng sau phán quyết của tòa án tối cao nhưng bỗng bùng nổ trở lại vào năm 2001 bởi vụ bắt giữ một người Canada gốc Đức tên Karlheinz Schreiber theo lệnh truy nã đặc biệt của Bộ Nội vụ Đức

Giới buôn bán vũ khí và vận động hành lang quốc tế không lạ gì Schreiber, bởi vì y nguyên là một điệp viên của Cơ quan Tình báo Đức (BND) bị sa thải vào năm 1988, sau đó lợi dụng thời cơ sụp đổ của các quốc gia XHCN Đông Âu vào năm 1990 để buôn bán vũ khí lấy cắp từ các kho quân giới của các quốc gia này

Trở nên giàu có, Schreiber đã hào phóng chi hàng triệu USD cho các chiến dịch tranh cử của các chính trị gia Đức, trong đó có việc chi 1,5 triệu USD gây quỹ vận động tranh cử cho đảng Liên minh Dân chủ Thiên Chúa giáo (CDU) của Thủ tướng Helmut Kohl

Sau khi vụ việc đổ bể, Schreiber bỏ trốn đến Canada và được nhập quốc tịch Canada vào năm 1995. Vào ngày 21/2/2001, Scheiber bị Cảnh sát Canada bắt giữ theo lệnh truy nã của Bộ Nội vụ Đức tại thành phố Toronto

Qua điều tra Schreiber, có sự phối hợp với Bộ Nội vụ Đức, ông ta thú nhận mình chính là chủ nhân của hai tài khoản mang mã hiệu

Britan và Frankfurt, từng vận động hành lang và môi giới bán máy bay của Tập đoàn Airbus cho Air Canada vào năm 1989. Đây cũng chính là người đã chuyển tiền cho ông Mulroney

Thú nhận của Schreiber một lần nữa lại làm sống dậy và bùng nổ vụ hối lộ từng làm rung động Canada vào thập niên 90 thế kỷ XX, đến nỗi từ năm 2003 đến năm 2008, Quốc hội và Chính phủ Canada đã tổ chức nhiều phiên họp để bàn đến việc nên hay không nên tái điều tra về vụ nhận hối lộ của cựu Thủ tướng Brian Mulroney

Cuối cùng, trước sức ép của dư luận, nhất là từ các phương tiện thông tin đại chúng, vào ngày 26/4/2008, Thủ tướng Stephen Harper thông báo về việc chính phủ và Quốc hội sẽ thành lập một ủy ban đặc biệt để tái điều tra vụ nhận hối lộ của ông Mulroney. Do là một nhân chứng quan trọng nên Schreiber sẽ không được dẫn độ về Đức theo như đề nghị của Bộ Nội vụ Đức mà vẫn bị giam giữ tại Canada

Cuộc điều tra của Ủy ban đặc biệt dự kiến kéo dài trong vòng 18 tháng và nếu bị buộc tội, cựu Thủ tướng Mulroney sẽ phải lĩnh mức án 5 năm tù giam. Và đây cũng sẽ là trường hợp đầu tiên trong lịch sử Canada, một cựu thủ tướng bị kết tội và phải thụ án tù giam

LOBBY.VN
09-02-2010, 10:21 PM
Iran: Tổng thống Brazil định "lobby" Pháp, Nga, Trung Quốc

Tổng thống Iran Ahmadinejad lên tiếng ca ngợi quan điểm "dũng cảm" của ông Lula da Silva

Thông báo trên website của tổng thống Iran cuối ngày 30/5 cho biết, Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva sẽ lên kế hoạch kêu gọi sự ủng hộ từ Pháp, Nga và Trung Quốc để đạt được một hợp đồng nhiên liệu hạt nhân của Iran

Theo báo cáo trên website này thì trong cuộc điện thoại với Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, ông Lula da Silva cho biết sẽ đàm phán với người đồng nhiệm phía Pháp Nicolas Sarkozy, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nhằm có được sự ủng hộ của các bên về hiệp định Tehran 17/5

"Hiệp định Tehran đã đặt các nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an vào một tình thế nhạy cảm" - trích lời ông Lula trong cuộc nói chuyện với tổng thống Iran

"Để có được sự ủng hộ đối với hợp đồng này, trong tuần này tôi sẽ nói chuyện với tổng thống Pháp Sarkozy, tổng thống Nga Medvedev và chủ tịch Trung Quốc. Cộng hòa Hồi giáo Iran có thể hoàn toàn được đảm bảo về sự giúp đỡ đầy đủ từ Brazil", ông Lula da Silva nói

Hôm 17/5 tại Tehran, ba nước gồm Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil đã thống nhất một thỏa thuận chung. Theo đó, chính phủ Iran đồng ý chuyển 1.200kg uranium làm giàu ở mức 3,5% sang Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lấy uranium làm giàu ở mức 20%. Tuy nhiên, hiệp định trao đổi nhiên liệu phải được nhóm Viena gồm Iran, Pháp, Nga, Mỹ và IAEA phê chuẩn chính thức mới được tiến hành

Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn nỗ lực thúc đẩy một nghị quyết của LHQ nhằm trừng phạt Iran khi thấy rằng Hiệp định Tehran 17/5 không đủ để chứng minh rằng chương trình hạt nhân Iran là vì mục đích hòa bình

Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an - nơi sẽ "duyệt" nghị quyết trừng phạt nhằm vào Iran. Dù vậy, tổng thống Iran Ahmadinejad vẫn lên tiếng ca ngợi quan điểm "dũng cảm" của ông Lula da Silva về hợp đồng này - thông báo trên website cho biết

LOBBY.VN
09-17-2010, 09:03 PM
Cộng hòa Congo vận động hành lang để hoãn nợ ?

Trong suốt 5 năm qua, Cộng hòa Congo, một đất nước nhỏ bé và nghèo nhất châu Phi đã chi hàng triệu USD cho một chiến dịch vận động hành lang ở Washington để tìm cách đối phó với những kiện cáo kéo dài liên quan đến các khoản nợ quốc gia và bản thân Tổng thống Denis Sassou-Nguesso

Chiến dịch vận động hành lang của Cộng hòa Congo bắt đầu từ cách nay gần 5 năm. Mục tiêu của chiến dịch là vận động Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cấm các hoạt động đầu tư quỹ trục lợi từ các khoản nợ nần của các quốc gia nghèo, thuật ngữ trong giới đầu tư toàn cầu thường gọi là "quỹ kền kền" (kền kền là loài chim chuyên ăn xác chết, ám chỉ đây là loại quỹ đầu tư trục lợi trên sự phá sản của các nước nghèo)

Các nhà đầu tư phương Tây, nhiều nhất là ở Mỹ, thường trục lợi bằng cách tìm kiếm và mua lại các khoản nợ xấu của các quốc gia nghèo không có khả năng chi trả, nhưng mua với "giá sàn", tức là chỉ phải trả khoản tiền rẻ hơn nhiều so với khoản nợ thực tế. Sau đó, các nhà đầu tư này đâm đơn kiện các quốc gia nghèo để đòi đủ số nợ mà các nước này phải trả

Theo đánh giá của giới chuyên môn về vận động hành lang ở Washington thì trong khu vực châu Phi, Cộng hòa Congo là nước đi đầu trong việc vận động hành lang thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua các chính sách nhằm ngăn chặn tư bản đầu cơ trục lợi trên xương máu người nghèo ở châu Phi. Năm 2008, nước này đã đạt được một thỏa thuận kín với phần lớn các nhà đầu tư "quỹ kền kền". Việc tiếp tục theo đuổi chiến dịch vận động hành lang để thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua dự luật cấm đầu tư "quỹ kền kền" sẽ không chỉ có lợi cho Cộng hòa Congo mà còn cho cả vài quốc gia nghèo khác của châu Phi (như Rwanda, Ethiopia, Sierra Leone,...)

Từ khi phát động chiến dịch đến nay, đội ngũ vận động của Cộng hòa Congo đã có hơn 100 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và trao đổi với các nghị sĩ Quốc hội, các trợ lý của họ và các nhóm ủng hộ châu Phi. Kết quả của những cuộc tiếp xúc này là dự luật cấm đầu tư "quỹ kền kền" đã được soạn thảo và được 33 nghị sĩ đứng ra đồng bảo trợ. Trong đó, bà Hạ nghị sĩ Maxine Waters và các trợ lý đã tiếp xúc nhiều nhất với các nhóm vận động cho Cộng hòa Congo, và là người ủng hộ dự luật này mạnh mẽ nhất

Waters cho biết, bà đã nhận được hồ sơ dự thảo luật từ các nhóm vận động hành lang vào năm 2007 và sau nhiều lần chỉnh sửa, bản dự thảo cuối cùng đã hoàn chỉnh và được giới thiệu trước Hạ viện 2 lần vào các năm 2008 và 2009. Ngoài các nghị sĩ trong Hạ viện, dự luật "quỹ kền kền" còn nhận được sự ủng hộ của một số nhóm hoạt động xã hội ủng hộ châu Phi ở Mỹ.

Tính đến nay, chiến dịch vận động đã tiêu tốn khoảng 9 triệu USD. Theo giới chuyên môn, đây là một số tiền không nhỏ mà một quốc gia nghèo như Cộng hòa Congo chi cho hoạt động vận động hành lang, mặc dù so với các cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia giàu có nó chẳng đáng là bao

Theo một số nhà phân tích, việc Cộng hòa Congo chi bạo cho chiến dịch vận động hành lang hẳn là có lý do, và mục tiêu của vận động hành lang không chỉ là để bảo vệ lợi ích quốc gia. Nói cách khác, trong chiến dịch vận động hành lang của Cộng hòa Congo, lợi ích quốc gia đã dính liền với những quyền lợi cá nhân Tổng thống Sassou-Nguesso

Câu chuyện có lẽ bắt đầu từ chỗ công ty đầu tư "quỹ kền kền" Elliott Management, có trụ sở tại New York, đâm đơn kiện Cộng hòa Congo đòi thanh toán món nợ 100 triệu USD mà công ty này đã mua trên thị trường thứ cấp. Một phiên tòa đã được mở vào năm 2005, và cũng thật kỳ lạ, nó không chỉ là phiên tòa đòi nợ mà đã biến thành phiên "hạch tội" Tổng thống Sassou-Nguesso. Bên nguyên (Công ty Elliott Management cùng với vài tổ chức nhân đạo châu Âu và Mỹ đã lợi dụng phiên tòa để tố cáo việc Tổng thống Sassou-Nguesso có dấu hiệu biển thủ nhiều triệu USD thu nhập từ nguồn lợi dầu hỏa của nước này

Bằng chứng được các tổ chức nhân đạo quốc tế đưa ra là các báo cáo điều tra của Cảnh sát Pháp năm 2007 trong đó cho rằng các bất động sản (gồm biệt thự và các khu điền trang) thuộc quyền sở hữu của Tổng thống Sassou-Nguesso tại khu ngoại ô Paris đã được mua từ tiền biển thủ công quỹ hàng trăm triệu USD cất giấu trong các tài khoản ngân hàng bí mật ở nước ngoài. Bản thân ông Sassou-Nguesso đã thừa nhận các tài sản nêu trên trong một chuyến công du Pháp năm 2009

Tuy nhiên, vụ kiện tụng đòi nợ của Elliott Management đã làm lộ ra một vấn đề nghiêm trọng là việc đầu tư trục lợi trên các khoản nợ có nguy cơ biến các nước nghèo thành con nợ triền miên, có thể lâm vào cảnh phá sản, để lại hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội

Để đối phó với vụ kiện của Elliott Management, năm 2006, Cộng hòa Congo đã mở màn chiến dịch vận động hành lang bằng việc thuê Hãng luật Trout Cacheris ở Washington để giúp dàn xếp một số vấn đề với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và đối phó với các cáo buộc nhằm vào Tổng thống Sassou-Nguesso. Sau đó, Trout Cacheris thuê lại các "nhà thầu con" là Livingston Group (do cựu Chủ tịch Hạ viện Bob Livingston sáng lập và điều hành), Chlopak Leonard, Amani Group (do cựu Hạ nghị sĩ Bill Gray điều hành), và Công ty tư nhân Public Private Solutions. Mỗi đơn vị thầu con giúp một phần việc khác nhau, cùng chung sức vận động giúp Cộng hòa Congo

Các đơn vị này đã tiếp xúc và làm việc chặt chẽ với bà Hạ nghị sĩ Waters cũng như một số nghị sĩ khác để thúc đẩy thông qua dự luật chống đầu tư "quỹ kền kền". Tuy nhiên, dự luận này hiện đang bị "treo" tại Hạ viện Mỹ do những vấn đề liên quan đến Tổng thống Sassou-Nguesso chưa được giải quyết

LOBBY.VN
09-28-2010, 06:50 PM
Quốc gia vận động hành lang

Cuốn sách “Bí quyết hóa rồng” là cuốn tự truyện của nhà sáng lập ra quốc gia Singapo Lý Quang Diệu. Cuốn sách ghi lại lịch sử phát triển Singapo từ ngày lập quốc năm 1965, đọc cuốn sách các bạn sẽ có góc nhìn của bậc nguyên thủ về các xử lý quan hệ với thế giới xung quanh. Lobby Vietnam Club muốn đưa ra góc nhìn Lý Quang Diệu là super lobbyist, siêu anh hùng dân tộc, siêu thuyết khách của thế kỷ 20

I. Hoạt động vận động hành lang cấp chính phủ
1. Cơ cấu sắc tộc tại Singapo

Quốc gia Singapo thành lập sau khi tách khỏi liên bang Malaysia năm 1965. Giới tinh hoa lãnh đạo Singapo là thế hệ trẻ được đào tạo bài bản theo nền giáo dục phương tây tại Anh Quốc. Nhiệm vụ lớn nhất của tầng lớp lãnh đạo quốc gia là giải quyết cân bằng lợi ích giữa các sắc tộc, người gốc Hoa chiếm đa số, người Malay, người Ấn độ, người Indonesia…

Singapo ngày mới thành lập là quốc gia nhỏ bé, hòn đảo nhỏ bé, trong con mắt các quốc gia láng giềng khổng lồ như Malaysia, Indonesia, Úc,Trung Quốc… Singapo phải biết nghe lời. Phong trao dân tộc của người Malay tại Malaysia muốn đánh đuổi người Hoa khỏi Singapo, bảo vệ lợi ích người Malay, thậm chí là xâm lược lại Singapo.

Khi nước Anh lên kế hoạch rút quân đội khỏi Singapo, người ta sợ rằng các chuẩn mực luật pháp, giáo dục xã hội mà nước Anh đã xây dựng ở mảnh đất này sẽ biến mất giống như ngày xưa khi đế chế La Mã rút quân những vùng đất thuộc địa lại trở lại thời kỳ không luật pháp, không chính phủ. Chính phủ Indonesia trong giai đoạn 65, 67 phát ngôn rằng sẽ tự cho phép mình điều quân đội đến đề lập lại các giá trị xã hội tại Singapo, can thiệt vào một quốc gia có chủ quyền, không tôn trọng chính phủ được lãnh đạo bởi Lý Quang Diệu

Tất cả các quốc gia Đông Nam Á bên cạnh Singapo đều sợ hãi một Singapo với 70% là người gốc Hoa sẽ trở thành một Trung Quốc cộng sản hải ngoại. Chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc sẽ gây bạo loạn tại Indonesia, Malaysia nếu không được ngăn chặn ngay từ Singapo. Chính phủ Lý Quang Diệu đã phải thực hiện chiến dịch vận động hành lang liên tục, các nước tin rằng Singapo là một gia theo chủ nghĩa tư bản phương tây, thân thiện với các nước xung quanh, cân bằng lợi ích các bên với Singapo.

Lý Quang Diệu xây dựng cơ cấu tổ chức xã hội ở đó cân bằng được lợi ích sắc tộc người Hoa, Người Ấn, người Malaysia, người Indonesia, hành động này giúp Lý Quang Diệu thuyết phục các quốc gia bên cạnh hay đặt niềm tin ở Singapo. Singapo là một quốc gia độc lập của người dân Singapo, hoạt động vì lợi ích người dân không chịu sự chi phối của bất cứ quốc gia lớn mạnh nào, đặc biệt là từ Trung Quốc cộng sản

Lý Quang Diệu đàm phán thành công với quốc gia Do Thái Israel, quân đội Israel là quân đội nước ngoài đầu tiên giúp đỡ đào tạo, cung cấp vũ khí cho quân đội Singapo. Các tổ chức tài chính Do Thái đã giúp xây dựng Singapo trở thành trung tâm tài chính của Châu Á, gia tộc Do Thái Rothschild & Sons Limited…quản lý quỹ đầu tư nhà nước Temasek của Singapo

Lý Quang Diệu xây dựng cơ cấu các thành viên chính phủ, thành viên trong các lực lượng sức mạnh như quân đội, cảnh sát, các tổ chức kinh tế có đầy đủ lơi ích thành phần sắc tộc là nền tảng sức mạnh để Singapo tập trung vào phát triển kinh tế từ đầu thập niên 70


2. Xây dựng đội quân Lobbyist

Singapo là quốc gia không tài nguyên, đất nước thiếu thốn mọi thứ…đến cả nước uống, nước sinh hoạt cũng phải nhập khẩu từ Malaysia. Chính phủ Lý Quang Diệu xác định con người là nguồn tài nguyên duy nhất, lớn nhất của Singapo, muốn phát triển được Singapo phải biết khai thác nguồn tài nguyên này hiệu quả

Tư duy quản trị một quốc gia như quản trị một doanh nghiệp, Lý Quang Diệu xây dựng chính phủ là các chính khách, doanh nhân có trí tuệ, tư duy thực tế để điều hành quốc gia này sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra lợi nhuận

Singapo muốn phát triển thì Singapo phải chơi được với các quốc gia phương Tây, những quốc gia ở rất xa. Anh Quốc, Mỹ, Israel, Đức…là những mục tiêu Singapo phải chơi được

Lý Quang Diệu và ekip của ông đã tuyển chọn những người trẻ tuổi, tài năng trong xã hội đào tạo họ thành đội quân Lobbyist thiện chiến, đi đến mọi ngõ ngách của các nước phương tây mời gọi họ đến Singapo kinh doanh đầu tư

Tình hình chính trị thế giới giai đoạn đó chủ yếu tập trung vào cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Nước Mỹ và đồng minh tham chiến ở Việt Nam để chặn đứng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản lan xuống Đông Nam Á. Lý Quang Diệu hiểu rằng hòn đảo Singapo nhỏ bé phải biết chọn một phe để đi theo, ông đã chọn Mỹ và chủ nghĩa tư bản phương tây

Lý Quang Diệu đã đúng, Singapo công khai ủng hộ Mỹ và công kích chủ nghĩa cộng sản. Một hòn đảo nhỏ bé ở một góc rất nhỏ tại Đông Nam Á trở thành đồng minh quan trọng của chủ nghĩa tư bản, quốc gia này xứng đáng để chủ nghĩa tư bản giúp đỡ để phát triển

Đội quân lobbyist của Singapo với tư tưởng ủng hộ tư bản đó đã được thế giới phương tây đồng ý cho gia nhập thế giới tư bản. Lobbyist Singapo đã giới thiệu về nước họ cho các tập đoàn đa quốc gia, Lý Quang Diệu thực hiện các chuyến bay thuyết khách Anh, Pháp, Mỹ, Đức…thuyết phục các tập đoàn đến Singapo

Super Lobbyist Lý Quang Diệu và đội quân lobbyist do ông đào tạo đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến các tập đoàn đa quốc gia phương tây. Chưa bao giờ các tập đoàn đa quốc gia lại nhận thấy sự thiện chí, nhiệt tình mời gọi làm ăn như thế từ một quốc gia nhỏ bé thuộc thế giới thứ 3. Sự cam kết của người đứng đầu chính phủ Singapo Lý Quang Diệu đã đảm bảo sự thành công khi làm ăn ở đây

Nguồn nhân sự được đào tạo tốt, một chính phủ cởi mở giúp các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu kinh doanh có lãi tại quốc gia này. Lợi nhuận ngày càng lớn, môi trường kinh doanh hấp dẫn tại Singapo vì thế từ đầu những năm 80 thì các doanh nghiệp phương tây tự tìm đến Singapo làm ăn. Singapo trở thành đối tác tin cậy số 1 của các nước phương tây tại Châu Á

15 năm làm việc mệt mài đội quân lobbyist do Lý Quang Diệu đào tạo làm được việc thần kỳ, hình ảnh Singapo từ hòn đảo nhỏ bé, nghèo đói trở thành miền đất hứa, viên ngọc hấp dân nhất trong các mắt các nhà kinh doanh toàn cầu

Singapo đã biết chào bán nguồn tài nguyên lớn nhất của mình đó là con người, tri thức, văn hóa kinh doanh của người dân Singapo

II. Hoạt động vận động hành lang của doanh nghiệp
1. Quốc gia thương mại

Đầu thế kỷ 18 Singapo được một nhà buôn Anh Quốc tìm ra, sau đó các nhà buôn Anh Quốc đã xây dựng đây trở thành cảng trung chuyển hang hóa, chạm dừng chân khi các thuyền buôn từ Ấn Độ Dương sang Trung Quốc và Nhật Bản làm ăn

Ngay từ ngày đầu thành lập hòn đảo này được xác nhận giá trị là một hòn đảo thương mại, hòn đảo tồn tại và phát triển được nhờ vào hoạt động tương tác với thế giới bên ngoài

Lý Quang Diệu và chính phủ của ông xác định biến Singapo trở thành một quốc gia thương mại. Singapo trở thành một phần trong chuỗi phân phối toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Singapo xây dựng hải cảng lớn, kho chứa hàng lớn, hệ thống giao thông hiện đại bậc nhất thế giới, Singapo là địa điểm số 1 để các công ty đặt văn phòng đại diện

Mỗi doanh nghiệp, công dân Singapo đều là các chuyên gia bán hàng, họ phải cung cấp các giá trị thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Môi trường kinh doanh tạo ra con người Singapo phẩm chất hoàn toàn khác với công dân các quốc gia láng riềng

Chính phủ và doanh nghiệp Singapo nắm trong tay quyền lực mềm của nhà buôn, họ làm cho dòng chảy hàng hóa khắp thế giới dễ dàng hơn. Hàng hóa từ nhà sản xuất đến tận tay người tiêu dung với chất lượng tốt nhất, giá thành rẻ nhất. Singapo không sản xuất bất cứ sản phẩm nào nhưng lại có thể cung cấp cho khách hàng bất cứ sản phẩm nào khách hàng yêu cầu với giá trị kinh tế cao nhất

Tại Việt Nam các thông tin thương mại trong nước thường khó cạnh tranh lại với các công thương mại Singapo. Rất ít doanh nghiệp biết rằng chính phủ Singapo đã vận động hành lang chính phủ Việt nam, ký kết hiệp định coi công ty thương mại Singapo như công ty nội địa của Việt Nam. Công ty thương mại Việt nam thường phải mua lại hàng hóa thống qua các công ty trung gian của Singapo, chơi theo luật chơi của các công ty thương mại này

Singapo trở thành quốc gia quan trọng trên bản đồ kinh tế toàn cầu, tất cả các quốc gia lớn, bé trên thế giới đều có lợi ích kinh doanh ở đây. Singapo đã dung hòa lợi ích các vùng ảnh hưởng trên thế giới, có rất nhiều bài học từ quá trình phát triển của Singapo cho các quốc gia có vị trí tương tự, đang nằm trong vùng tranh chấp lợi ích của các nước lớn

2. Tính chủ động của doanh nghiệp trong hoạt động quan hệ toàn cầu

Từ đầu những năm 90 Singapo gia nhập hành ngũ các quốc gia phát triển, thu nhập người dân cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Mô hình kinh tế Singapo và thủ tướng Lý Quang Diệu được nhiều quốc gia Châu Á và thế giới ngưỡng mộ

Thủ tướng Lý Quang Diệu được mời đi diễn thuyết cố vấn ở khắp thế giới, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan coi ông như người bạn lớn, mời ông cố vấn xây dựng một vùng đất nhỏ trong quốc gia họ để thành công như Singapo

Indonesia muốn Singapo giúp phát triển một hòn đảo quy mô lớn hơn Singapo một chút, nằm gần Singapo. Pakistan cũng muốn Singapo giúp phát triển một hoàn đảo khá lớn của quốc gia này nằm trong Ấn Độ Dương trở thành miền đất hứa như Singapo

Triết lý quản trị quốc gia và kinh doanh của Lý Quang Diệu khác hoàn toàn với triết lý quản trị quốc gia của các nguyên thủ quốc gia bạn bè của ông. Với Lý Quang Diệu không phải là thuyết phục thủ tướng hoặc chính phủ Singapo ra lệnh cho doanh nghiệp đến quốc gia đó đầu tư mà các quốc gia đó phải thuyết phục được doanh nghiệp Singapo đến đầu tư. Doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, không có lợi nhuận doanh nghiệp không bao giờ đến

Lý Quan Diệu không thể ra lệnh cho doanh nghiệp Singapo vì nhiệm vụ chính trị các doanh nghiệp Singapo phải giúp những vùng đất trên phát triển như Singapo hiện nay. Vùng đất với những người lãnh đạo thiếu tầm nhìn, thiếu uy tín, nguồn lao đông chưa được đào tạo…không thể một sớm một chiều trở thành một Singapo thứ 2 được

Lý Quang Diệu ngày đầu xây dựng đất nước ông đã đặt nền móng xây dựng các tập đoàn kinh tế Singapo hung mạnh như Singtel, Singapo airline, tập đoàn ngân hàng hoa kiều(OCBC), hãng tàu biển NOL…trở thành những tập đoàn kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á. Tất cả các doanh nghiệp Singapo đều nhận được mệnh lệnh nếu không phát triển được sẽ bị chính phủ dẹp bỏ, chính phủ không có tiền để tài trợ cho các doanh nghiệp làm ăn yếu kém

Lãnh đạo các doanh nghiệp lấy đó làm động lực để xây dựng doanh nghiệp mình thành hùng mạnh. Lý Quang Diệu với câu nói đáng nhớ với công ty Singapo Airline, chính phủ Singapo không cần để một hang hàng không với quốc kỳ Singapo bay đến các sân bay trên thế giới, nếu Singapo airline không kinh doanh có lãi nó sẽ bị xóa sổ

Doanh nghiệp Singapo thể hiện tính chủ động tìm kiếm cơ hội làm ăn ở khắp thế giới, doanh nghiệp Singapo đến Việt nam ngay từ những năm sau khi thống nhất đất nước, họ có mặt ở Myanmar một đất nước gần như đóng cửa với thế giới…và mọi ngóc ngách trên thế giới nơi nào doanh nghiệp Singapo tìm thấy lợi nhuận

Doanh nghiệp Singapo chủ động tìm kiếm đầu tư các mối quan hệ chính quyền tại các quốc gia họ tìm thấy lợi ích. Đầu tư vào cac quan hệ cá nhân, quan hệ hậu trường hiệu quả giúp doanh nghiệp Singapo giành được các hợp đồng chính phủ lớn của các chính phủ các nước Châu Á và nhiều người trên thế giới

III. Quốc gia vận động hành lang
1. Quyền lực quan hệ và tài chính

Ngày nay Singapo được biết đến là trung tâm thương mại và tài chính quan trọng của thế giới, hòn đảo quan trọng nhất ở Châu Á. Năm 1965 quốc tịch Singapo chỉ có giá trị đối với mỗi người dân Singapo, quốc tịch Singapo chưa hề có vị thế trong quan hệ toàn cầu. Giờ đây Singapo là quốc gia giàu có, Singapo ký hiệp định miễn Visa với 132 quốc gia trên thế giới, công dân Singapo có thể đi lại làm ăn dễ dàng không bị các thủ tục hành chính cản trở

Quốc tịch Singapo giờ đây rất có giá, rất nhiều ngôi sao lớn của Trung Quốc, Đài Loan nhập quốc tịch. Chính phủ Singapo còn sử dụng tư cách công dân để thu hút người tài khắp thế giới về Singapo. Tại Việt Nam đã hình thành quỹ đầu tư, mục đích kêu gọi các đại gia Việt Nam bỏ vốn đầu tư vào thị trường bất động sản, chứng khoán Singapo, với một mức đầu tư nhất định thì nhà đầu tư hoặc con cái nhà đầu tư sẽ được nhập quốc tích Singapo. Quy chế 2 quốc tịch vừa được chủ tịch nước thông qua, sẽ có rất nhiều đại gia Việt nam tìm cách có thêm quốc tịch Singapo. Kinh doanh quốc tịch, Singapo vừa thu hút được tài chính, vừa thu hút được người tài về nước mình…đó là quyền lực mềm

Singapo nắm trong tay sức mạnh tài chính, quan hệ, thương mại nguồn tài nguyên này đang mang lại sự thịnh vượng cho người dân và đất nước Singapo

Singapo của hiện tại luôn vận động không ngừng, tìm kiếm sang tạo giá trị mới, tạo giá trị cạnh tranh cao hơn cho đất nước. Singapo đi tìm mô hình để duy trình sự thịnh vượng của Singapo trong tương lai

Singapo duy trình và phát triển các quan hệ tốt đẹp trong quá khứ với các quốc gia phương tây đặc biệt là Mỹ. Singapo mở rộng đầu tư vào các quốc gia tiềm năng, sẽ có vị thế cao trên thế giới trong thế kỷ 21 như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…

Quyền lực và quan hệ xây dựng dựa trên niềm tin của đối tác xung quang về đất nước con người Singapo. Vị thủ tướng và chính phủ của ông suốt 45 năm luôn làm việc hết mình vì lợi ích của các đối tác đến Singapo làm ăn. Chính sách nhất quán, chính phủ quyết tâm tạo dựng môi trường kinh doanh tốt nhất cho mọi đối tác

Dân tộc Singapo xây dựng được hình ảnh tốt đẹp trong con mắt đối tác và nhà đầu tư toàn cầu, tiền và cơ hội sẽ tự tìm đến với Singapo

2. Xây dựng một hệ tư tưởng cho dân tộc phát triển

Một quốc gia được gọi là cường quốc phải hội tụ đủ các yếu tố như quy mô lãnh thổ lớn, quy mô dân số, quy mô nền kinh tế, quy mô hoạt động quân sự.... Singapo gia nhập hàng ngũ các quốc gia phát triển dựa trên tiêu chí thu nhập người dân cao, Singapo chỉ có thể là quốc gia thịnh vượng chứ không thể trở thành một cường quốc

Các nhà lãnh đạo Singapo đã xây dựng chiến lược phát triển cho Singapo trong hiện tại và tương lai. Singapo trở thành quốc gia “Tri thức” nền kinh tế tăng trưởng và tạo ra của cải vật chất cho xã hội dựa trên tri thức

Đầu tư vào giáo dục, công nghệ cao như công nghệ nano, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…những mục tiêu để thế hệ lãnh đạo ngày nay của Singapo phải hoàn thành.

Thế hệ trẻ Singapo vẫn tiếp bước tư tưởng của Lý Quang Diệu, họ vẫn miệt mài đi khắp ngó ngách thế giới tự giới thiệu về đất nước, con người Singapo, họ tìm kiếm cơ hội, lợi ích cho Singapo

Hình ảnh một quốc gia vận động hành lang, quốc gia với các ý tưởng mới, chính sách quản trị quốc gia sáng tạo. Lý Quang Diệu với tư tưởng quản trị quốc gia thành công bắt đầu từ con người, nhà lãnh đạo từ quốc gia khác có thể tìm thấy phương pháp tiếp cận phù hợp đem lại thành công cho đất nước họ lãnh đạo


Lobby Vietnam Club: Trong một bài phỏng vấn Super Lobbyist Lý Quang Diệu từng nói “Nếu có vị trí số 1 ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người thì Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực” Trong tình hình địa chính trị thế giới hiện nay Việt Nam đang vùng tranh chấp ảnh hưởng của các trung tâm quyền lực trên thế giới. Nếu đất nước xây dựng được đội ngũ lobbyist giỏi chúng ta sẽ là nhà đàm phán thành công, mang lại lợi ích to lớn cho dân tộc

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

LOBBY.VN
10-08-2010, 06:54 PM
"Katrina" từ cửa miệng của giới vận động hành lang Mỹ

Hai trăm tỉ USD tái thiết các tiểu bang miền Nam nước Mỹ chịu ảnh hưởng từ bão Katrina là một khoản tiền khổng lồ đang làm"hoa mắt"giới vận động hành lang giúp các công ty dầu mỏ, hàng không, các nhà sản xuất và nhiều ngành khác trên toàn nước Mỹ. Ai cũng muốn có phần...

Katrina là cơ hội biến"ước mơ"thành hiện thực

"Người ta nói về Katrina mọi lúc, và giờ đây là cả Rita", J. Steven Hart - Chủ tịch Công ty Williams & Jensen PLLC, một công ty vận động hành lang hàng đầu tại Washington D.C phát biểu."Ngoài vấn đề Toà án tối cao, giờ đây Quốc Hội đang hướng sự chú ý đặc biệt tới công cuộc tái thiết sau bão và chúng tôi không còn cách nào khác hơn là phải nhảy vào cuộc"

Theo một số nguồn tin từ Quốc hội, các nghị sĩ Mỹ đang tỏ ra khá"dễ dãi"trước những lời đề nghị. Ví dụ, Chủ tịch Uỷ ban Thương mại và Năng lượng Hạ viện Joe Barton, bang Texas tuần này sẽ trình bày một dự thảo luật dỡ bỏ các quy định để giúp công ty dầu mỏ xây dựng nhà máy lọc dầu mới. Đa số quy tắc trong dự luật do các nhà vận động hành lang đề xuất. Lý do là: hai cơn bão Katrina và Rita đã làm cho mọi người chú ý tới sự phụ thuộc của nước Mỹ vào các nhà máy lọc dầu dọc vùng Vịnh Mexico

Cũng như rất nhiều người khác, các nhà vận động hành lang dầu mỏ đang sử dụng hai cơn bão này làm cớ để thúc đẩy Quốc hội thông qua đạo luật mà họ từ lâu mong đợi, ngay cả khi các kế hoạch của họ chỉ hơi"dính dáng"một chút tới hai cơn bão

Hồi đầu tuần này, các nhóm vận động chẳng mấy liên quan tới bão lũ từ Viện Kiến trúc Mỹ và Viện Dầu lửa Mỹ lại đưa ra các yêu cầu giảm thuế và đòi thêm nhiều ưu đãi từ phía chính phủ

Ngành hàng không vốn đã gặp nhiều khó khăn nay bỗng hoạt động đặc biệt"tích cực"trên mặt trận bão lũ. Công ty Hàng không Delta và Công ty Hàng không Tây Bắc đang tìm cách vận động để Quốc hội đưa điều khoản giảm nghĩa vụ trợ cấp hưu trí vào đạo luật của ngành trong năm nay. Ngay từ trước khi bão Katrina tràn về, các công ty hàng không đã yêu cầu thay đổi điều khoản trên, và họ cũng nói với các nghị sĩ rằng việc tăng giá nhiên liệu sau bão Katrina làm họ rất cần trợ cấp."Katrina đã tạo ra tình cảnh khẩn thiết", một phát ngôn viên của công ty Delta nói."Nhưng cho tới nay, đề xuất của chúng tôi vẫn chưa được xem xét"

Hiệp hội vận tải hàng không, tổ chức thương mại của các hãng hàng không cũng đang cố gắng vận động Quốc hội thay đổi một số quy định hiện hành trong tình cảnh bão Katrina gây ra quá nhiều thiệt hại. Trước mắt, tổ chức này muốn Quốc hội hoãn đánh thuế nhiên liệu máy bay trong vòng 1 năm (hiện ở mức 4,3 cent/gallon). Nếu vậy, chính phủ sẽ mất 600 triệu USD

Không riêng gì các nhà sản xuất dầu, và điều hành hàng không, các công ty bảo hiểm cũng lợi dụng Katrina để thúc đẩy Quốc hội chấp nhận nới thời hạn cho Đạo luật Tái bảo hiểm khủng bố (TRIA), vốn từ lâu là mối quan tâm của họ. Đạo luật này đòi chính phủ phải chi trả một phần thiệt hại gây ra do cuộc tấn công khủng bố nước ngoài. Để chứng minh mối liên hệ giữa bão Katrina và đạo luật này, Carl M. Parks, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm thiệt hại tài sản Mỹ còn ghép Katrina và Tria thành từ"KA-TRIA"

"Tôm - tép lẫn lộn"

Các bệnh viện hoạt động vì lợi nhuận trên khắp nước Mỹ cũng đang cố gắng thuyết phục Quốc hội miễn cho họ đạo luật đã được áp dụng từ nhiều thập kỷ nay: chỉ các bệnh viện phi lợi nhuận mới đủ điều kiện được nhận trợ cấp của Cơ quan Đối phó khẩn cấp để xây dựng lại các cơ sở vật chất xuống cấp sau một thảm hoạ tự nhiên."Bão không phá hoại các bệnh viện căn cứ vào hình thức sở hữu của chúng", Richard Coorsh, phát ngôn viên Liên đoàn bệnh viện Mỹ - tổ chức đại diện cho các bệnh viện do nhà đầu tư sở hữu

Ngoài ra, nhiều ngành khác cũng tỏ ra khá thận trọng khi hướng các đề xuất của họ nhằm vào người dân và cơ sở kinh doanh ở vùng Vịnh. Hội Doanh nghiệp du lịch, một liên minh của các tổng giám đốc khách sạn, chủ nhà hàng và công ty du lịch hiện đang vận động để các đề xuất về trợ cấp, giảm thuế và giảm nợ của họ, tất cả đều dành cho vùng bị bão được thông qua."Chúng tôi sẽ không thể khoanh tay ngồi nhìn", Charles L. Merin, trưởng đại diện của hội tại Washington phát biểu

Nông dân, ngay cả những người không nằm trong vùng bão cũng xin chính phủ trợ cấp tiền cứu đói."Cần phải hiểu rằng hậu quả kinh tế của bão Katrina gây nhiều thiệt hại tới nền nông nghiệp Mỹ hơn là với các nhà sản xuất ở 3 bang miền nam", Bob Stallman, Chủ tịch Hội nông trang Mỹ viết trong một bức thư gửi Quốc hội."Khi các uỷ ban Phân bổ ngân sách Thượng viện và Hạ viện chuẩn bị giải quyết thảm hoạ này, chúng tôi yêu cầu các ngài phải trợ giúp khẩn cấp cho các nông dân và chủ trang trại"

Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động hành lang hiện nay đều vì mục đích lợi nhuận. Một số nhằm mục đích"phòng vệ", tức là cố gắng ngăn chặn những thay đổi có thể xảy ra do hậu quả cơn bão như tăng thuế. Ngành dầu khí thì lưu ý các nghị sĩ rằng kiểm soát giá không phải là một ý kiến hay. Một hiệp hội xây dựng đường cao tốc đang yêu cầu các nghị sĩ không dùng biện pháp giảm thuế xăng để giúp người tiêu dùng. Lý do là: doanh thu từ thuế xăng thấp hơn có thể làm giảm các quý tín thác của liên bang vốn được sử dụng để xây đựng cầu, đường

Đề xuất chỉ là đề xuất

Mặc dù các nhà vận động hành lang đưa ra khá nhiều yêu cầu, song họ có thể sẽ không được đáp ứng hoàn toàn."Tình hình chung có chiều hướng diễn biến như sau: chi tiêu sẽ tăng và giảm thuế, đặc biệt với những nơi bị ảnh hưởng bởi Katrina. Không một đảng nào muốn bị coi là"bàng quan", một chuyên gia thuộc Nhóm nghiên cứu Washington Stanford phát biểu

Khá nhiều yêu cầu của giới vận động hành lang liên quan tới những điều luật mà Quốc hội phản đối từ nhiều năm lại được nêu ra nhưng núp dưới vỏ bọc Katrina. John M. Engler, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia đã kêu gọi dựng dàn khoan dầu và khí trên thềm lục địa bên ngoài vùng Vịnh, coi đó là cách để tăng cung

Trước đây, đề xuất này bị bác bỏ vì nó gây nguy hại cho môi trường và hiện vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, giờ đây, Jack N. Gerard, Chủ tịch Hội đồng hoá học Mỹ lại nhìn thấy hy vọng."Thảm hoạ đáng tiếc ở New Orleans đã làm cho mục tiêu còn dang dở của chúng tôi thêm rõ nét"

Huyền Trang

LOBBY.VN
10-11-2010, 09:14 PM
Các chính trị gia Mỹ đã vận động hành lang
cho giới tội phạm kinh tế nước ngoài


Cựu GĐ FBI William Sessions trước đây đã từng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ lũng đoạn của mafia Nga tại Mỹ, đồng thời tuyên bố: “Chúng tôi có đủ khả năng chiến thắng giới tội phạm có tổ chức”. Nhưng hiện giờ, chính Sessions lại đang bận rộn để chạy chọt cho một nhân vật đang nằm trong danh sách “Những tội phạm đặc biệt nguy hiểm” của FBI.

Công dân Nga Semen Mogilevich, kẻ theo đánh giá của FBI, đang là một trong những trùm tội phạm thế lực nhất của Nga. Hoạt động nhân danh Mogilevich, Sessions đang cố gắng ký kết được một thỏa thuận ngoài tòa án với Bộ Tư pháp Mỹ.

Vấn đề là Mogilevich đang bị buộc tội gian lận thương mại, đồng thời còn là một nhân vật chủ chốt trong một vụ điều tra khác của Bộ Tư pháp Mỹ về một số thương vụ mờ ám trong lĩnh vực năng lượng giữa Nga và Ukraina.

William Sessions chỉ là một trong nhiều quan chức vận động hành lang (lobby) hàng đầu của Washington đang nhận những khoản tiền hậu hĩnh để bảo vệ quyền lợi cho những khách hàng từng “có tì vết” từ các nước thuộc Liên Xô cũ.

Dịch vụ lobby hạng sang tại Washington từ lâu đã không còn xa lạ với những khách hàng nước ngoài cần tới bất cứ một nhu cầu đặc biệt nào. Như Jack Abramoff - bị kết án vì tội gian lận và hối lộ năm 2006 - từng đại diện cho quyền lợi của các khách hàng từ Pakistan và Nga.

Ngay cả cựu Tổng thống Charles Taylor của Liberia (đang chuẩn bị phải ra tòa với tư cách tội phạm chiến tranh) cũng từng phải nhờ tới dịch vụ của chuyên gia lobby này.

Những năm gần đây đã ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng số lượng các cựu quan chức quốc gia và nhà tài phiệt từ Nga đang tìm kiếm những “bạn bè mới” tại Washington.

Nhiều nhân vật trong số này đang dần nắm giữ những vai trò quan trọng trong thị trường kinh tế thế giới, do đang nắm trong tay quyền kiểm soát nhiều nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên phong phú tại khu vực lục địa Á - Âu. Đó là lý do khiến những nhà tài phiệt này đã không tiếc tiền của để thuê mướn những chuyên gia lobby có ảnh hưởng hàng đầu ở Washington nhằm bảo vệ cho quyền lợi kinh doanh của mình tại Mỹ.

Có thể dễ dàng đưa ra vài minh chứng cho xu hướng này. Chẳng hạn như với khoản thù lao hậu hĩnh 560 ngàn USD, Bob Doyle (cựu thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện và là ứng cử viên tranh cử tổng thống của phe Cộng hòa hồi năm 1996) đã giúp đỡ một nhà tỉ phú người Nga nhận được hộ chiếu vào kinh doanh tại Mỹ. Nhân vật này đã bị các đối thủ cạnh tranh buộc tội có dính dáng tới các âm mưu hối lộ.

Còn Tập đoàn Alpha Group của Nga đã trả cho hãng lobby có ảnh hưởng tại Mỹ là Barbour Griffith & Rogers khoản tiền tới 2 triệu USD trong một thương vụ giành quyền kiểm soát một tập đoàn viễn thông khác. Một ông chủ của hãng lobby này chính là Haley Barbour, Thống đốc của bang Mississipi.

Chính vì những tài sản có nguồn gốc mờ ám của những ông chủ giàu có ở Nga, các khoản tiền thù lao được họ trả cho giới lobby cũng được che giấu bằng mọi cách sao cho kín đáo nhất. Như hồi năm 2005, chính trị gia Yuri Boiko từ Ukraina để trả công cho một chuyên gia lobby đã sắp xếp cho ông ta được gặp gỡ với giới lãnh đạo đảng Cộng hòa, đã thanh toán qua tiền chuyển khoản từ công ty ma Annex Holdings, được lập ra chỉ để làm bình phong.

Chính Boiko hiện đang bị Bộ Tư pháp Mỹ nghi ngờ và điều tra vì có liên quan đến một khách hàng mafia khác của Sessions. Với những mục đích trên, danh sách các công ty ma kiểu trên có thể lần ra không phải là ít.

Vào năm 2004, một công ty của Anh có tên Foruper Ltd. (không hề có vốn cũng như cả nhân viên) đã chi trả một khoản tiền 820 ngàn USD cho Hãng Barbour Griffith. Điều tra cho thấy, Foruper là con đẻ của một luật sư chuyên trách tổ chức việc đàm phán về cung cấp khí gas thiên nhiên, hiện cũng đang là đối tượng điều tra của người Mỹ.

Theo giải thích của Barbour Griffith, số tiền này là để trả công cho “việc vận động cho mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực tài chính giữa Đông Âu và phương Tây”. Trong giai đoạn 2002-2003, Barbour Griffith cũng nhận được tổng cộng tới 320 ngàn USD từ một tổ chức có tên “Friends of Ukraine” nhờ những dịch vụ tương tự như trên.

Theo luật pháp Mỹ, những công dân nước này khi đảm bảo các dịch vụ cho khách hàng nước ngoài trong lĩnh vực lobby hay quan hệ cộng đồng (PR) cần phải đăng ký và có báo cáo chi tiết cho các cơ quan liên bang có thẩm quyền. Tuy nhiên, nội dung những báo cáo này thường chỉ mang tính mập mờ và chiếu lệ.

Chẳng hạn như Bob Doyle khi báo lên thượng viện về việc hợp tác của mình với nhà tỉ phú Nga Oleg Deripaska, chỉ nói rằng, dịch vụ này “có liên quan tới chính sách về hộ chiếu và hoàn tất các thủ tục của Bộ Ngoại giao Mỹ”. Deripaska (được mệnh danh là ông vua nhôm tại Nga) từ lâu đã bị dính dáng tới nhiều vụ kiện tại tòa án.

Các đối thủ cạnh tranh đã nộp đơn kiện lên nhiều tòa án tại Mỹ và Anh, buộc tội trùm tài phiệt này dính líu tới nhiều âm mưu hối lộ, dọa dẫm, thậm chí còn tổ chức đánh dằn mặt nhiều người khác. Chính vì những lý do này mà Bộ Ngoại giao Mỹ từ nhiều năm qua đã từ chối cung cấp hộ chiếu cho Deripaska vào Mỹ.

Năm 2003, Deripaska đã trả một khoản tiền hào phóng 300 ngàn USD cho Hãng luật Alston & Bird của Bob Doyle. Kể từ thời điểm đó, ông Doyle đã rất tích cực thuyết phục Chính phủ Mỹ rằng, khách hàng của ông ta không phải là một tội phạm và công việc làm ăn cũng hoàn toàn trong sạch. Kết quả là đến năm 2005, Bộ Ngoại giao Mỹ đã thay đổi quan điểm với Deripaska và đồng ý cấp thị thực nhập cảnh cho ông ta.

Sau sự kiện này, Bob Doyle và công ty của ông ta nhận được thêm một khoản tiền thưởng 260 ngàn USD nữa

LOBBY.VN
10-11-2010, 09:35 PM
Lobby & Bàn tay vô hình trên chính trường

Nếu như trong kinh tế có thuyết “Bàn tay vô hình" của Adam Smith, thì trong chính trường, vị Tổng thống thứ 4 của Mỹ năm 1809 James Madison, một trong những người thành lập quốc gia giàu có nhất thế giới này, là người phổ biến một thuyết “bàn tay vô hình" khác mang đậm màu sắc chính trị. Đó là nghề Lobby, hay còn gọi là Vận động hành lang

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Không phải ngẫu nhiên mà trong lĩnh vực chính trị, ngay cả những nước thân thiện với Mỹ và có văn hóa gần gũi với Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Australia cũng phải cần chuyên gia lobby để vận động thường xuyên với chính khách Mỹ. Ở châu Á cũng vậy, các nước đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có đội lobby hùng hậu ở Mỹ. Thậm chí từng có bài báo được đăng tải trên BBC đã kết luận rằng: "Làm ăn với Mỹ phải biết lobby, vì đó là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài"

Chính trường như thương trường

Trong suy nghĩ của nhiều người, lobby là chuyện đi đêm, hối lộ, phi pháp…, nhưng một số người khác thì cho rằng lobby là nghệ thuật trong kinh doanh hoặc vĩ mô hơn, đó là sách lược quốc gia. Nói đơn giản hơn, lobby là một hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định

Ở Mỹ, lobby không chỉ là nghề hợp pháp mà thậm chí còn được ghi trong Hiến pháp. Vì vậy, ở Washington, người ta đã quá quen thuộc với hình ảnh vào giờ ăn trưa và ăn tối, những nhóm người đạo mạo trong bộ vest xám, tay xách cặp, đổ về những địa điểm nổi tiếng ở quanh tòa nhà Quốc hội. Ở những nơi này, người ta có cả những phòng riêng thường ngày dành cho những cuộc họp "gây quỹ". Những người ngoài cuộc khó có thể biết điều gì đang diễn ra sau những vuông cửa kính mờ

Tổng thống thứ tư của Mỹ James Madison là người phổ biến thuyết "bàn tay vô hình" trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, chính trường cũng như thương trường. Nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, vì nhà nước có đủ thông tin để biết và cung cấp được những cái dân cần. Từ đó, vai trò của những người vận động hành lang được xem là cần thiết như vai trò của người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới... trong thương trường. Người lobby ở Mỹ có thể đại diện cho bất cứ cá nhân, tập thể chính trị, xã hội, kinh tế nào, kể cả những cá nhân, tập thể chính phủ nước ngoài, chỉ cần họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ

Hiện có hơn 22.000 nhóm lợi ích và khoảng 50.000 người đăng ký chính thức hành nghề lobby tại Mỹ. Phần lớn những người lobby là các quan chức, luật sư, chuyên viên từng làm việc ở Quốc hội, trong đó có nhiều cựu Bộ trưởng, tướng lĩnh, dân biểu, thượng nghị sĩ… Vì vậy mà ông Paul Miller, Chủ tịch Liên đoàn các nhà vận động hành lang Mỹ, mới tự hào khoe: "Không có chúng tôi, tôi không biết có điều luật nào được thông qua ở Mỹ hay không"

Sự lợi hại của đồng tiền lobby

Thực vậy, một ví dụ điển hình của lobby chính trị từ nước khác vào Mỹ là năm 1994, khi Tổng thống Clinton trao Quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho Trung Quốc, đồng thời tuyên bố từ nay không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét MFN cho Trung Quốc hàng năm

Số là đầu thập niên 1990, thời điểm Trung Quốc bắt đầu nổi lên tại châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ tỏ ra lo ngại trước "mối đe doạ từ Trung Quốc". Trong quan hệ với Trung Quốc, Mỹ thường xuyên dùng chiêu "nhân quyền" để gây sức ép về thương mại, cụ thể là đe doạ miễn áp dụng quy chế MFN. Thời hạn áp dụng MFN chỉ trong vòng 1 năm, nên cứ sau 12 tháng, Quốc hội Mỹ lại sẽ bỏ phiếu để quyết định xem có tiếp tục trao MFN cho các nước hay không. Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống, điều này không những gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc khi muốn vào thị trường Mỹ, mà đặc biệt cản trở các tập đoàn lớn của Mỹ khi muốn làm ăn tại Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu lobby của Trung Quốc tại thời điểm này là "làm sao gây ảnh hưởng để Trung Quốc được hưởng MFN tại cuộc bỏ phiếu hàng năm ở Quốc hội" và trước tiên "tập trung nhằm thuyết phục Quốc hội và chính quyền Mỹ tách vấn đề nhân quyền khỏi việc áp dụng MFN"

Chẳng phải ngẫu nhiên khi cùng lúc các lãnh đạo Boeing công khai lên tiếng yêu cầu chính quyền Mỹ tiếp tục dành cho Trung Quốc quy chế MFN (Tờ Wall Street Journal trước đó đã đưa tin hãng Boeing đang sắp hoàn tất hợp đồng bán máy bay chở khách trị giá khoảng 5 tỉ USD cho Trung Quốc), còn Chủ tịch Hạ viện Tom Foley công khai "đối đầu" với các thành viên đảng Dân chủ tại Nhà Trắng khi tuyên bố rằng Tổng thống "không nên gắn vấn đề nhân quyền với thương mại". Thực chất, Hạ nghị sĩ Foley đại diện cho vùng Spokane, bang Washington - quê hương của hãng Boeing. Với sự vận động hành lang tích cực ở Mỹ như vậy, Trung Quốc đã giành được quy chế MFN năm 1994 với lời đảm bảo của Tổng thống Clinton "sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm"

Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn

Ngày 20/4/2010, dàn khoan dầu Deepwater Horizon của hãng BP (Anh) bỗng phát nổ ở Mỹ, làm 11 công nhân tử nạn và 3 người bị thương nặng, đồng thời gây thiệt hại môi trường nghiêm trọng hơn hẳn vụ tràn 11 triệu gallon dầu từ tàu Exxon Valdez năm 1989. Chỉ tính riêng chi phí khắc phục sự cố, BP đã tốn đến 930 triệu USD

Một trong những bằng chứng cho thấy sự "dễ dãi" của Mỹ khi tập báo cáo phản ứng khẩn cấp dày cộp 583 trang mà BP soạn theo yêu cầu Luật liên bang Hoa Kỳ gần như không bàn đến cách làm thế nào chặn đứng một vụ tràn dầu ở độ sâu. Mỉa mai thay, báo cáo xử lý tình huống khẩn cấp của BP lại có không ít phần đề cập đến sự cần thiết bảo vệ hải sư, rái cá biển trong khi những động vật này không hề có mặt ở vùng vịnh Mexico. Tất cả cho thấy báo cáo của BP dường như chỉ được thực hiện chiếu lệ, theo yêu cầu Luật liên bang Hoa Kỳ, chứ không là bản kế hoạch tác chiến thật sự nhằm xử lý hậu quả một khi xảy ra sự cố...

Theo Newsweek, BP đã sử dụng chiêu vận động hành lang để Mỹ bớt săm soi hoạt động kinh doanh của họ. Với tài ngoại giao và quen biết rộng của Tổng giám đốc điều hành BP Tony Hayward, hãng dầu lớn thứ tư thế giới này đang cố làm sao 15,9 triệu USD mà họ chi cho các chiến dịch lobby đạt hiệu quả. Một trong những nỗ lực của Hayward là làm dịu bớt sự nghiêm khắc của những điều luật mới liên quan phòng chống ô nhiễm dầu ban hành năm 2009. Theo CBS News, kết quả "nhẹ nhàng" này còn nhờ vào khoản chi lobby từ 2 năm trước khi xảy ra vụ Deepwater Horizon. BP đã thuê 12 công ty lobby và chi ra 32 triệu USD để gây ảnh hưởng tốt cho kinh doanh của họ tại Quốc hội, Nhà Trắng và ít nhất 14 cơ quan liên bang

Từ một vài câu chuyện điển hình trên, có thể thấy rằng các mối quan hệ, những vụ mua bán lớn ở Mỹ, kể cả vấn đề dính líu đến chính trị đều không thể thiếu hoạt động lobby - "bàn tay vô hình" thực sự trên chính trường

Minh Minh (http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=10331 )

LOBBY.VN
10-25-2010, 11:50 PM
Google chi đậm cho hoạt động vận động hành lang

Chỉ tính trong quý 3 năm 2010, Google đã mạnh dạn mở hầu bao để chi 1,2 triệu USD cho công tác vận động hành lang. Con số thể hiện mức tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái

Không hổ danh là đại gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Google luôn bạo dạn chi tiền so với các đối thủ khác

Cụ thể, những cố gắng vận động hành lang và gây dựng niềm tin nơi chính phủ của gã khổng lồ Google vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Cụ thể, trong quý 3 năm 2010, Google đã chi 1,2 triệu USD cho việc “lobby” so với con số 1,08 triệu USD cùng kỳ năm ngoái. Cứ đà này, dự tính Google sẽ chi khoảng 5 triệu USD trong năm nay khi mà Facebook mới chỉ nhân đôi chi phí của mình từ 60 nghìn thành 120 nghìn USD trong quý 3 này

Không chỉ vậy, chỉ trong 3 quý đầu năm 2010, gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm cũng đang gần “bắt kịp” con số ngân sách của cả năm 2009 (3,92 triệu USD so với 4,03 triệu USD năm 2009). Bởi vậy, theo dự tính của các chuyên gia, Google sẽ chi khoảng 5 triệu USD cho các công tác vận động hành lang

Tuy nhiên, nếu xét riêng trong năm 2010, khoản ngân sách này đang có dấu hiệu giảm dần. Trong quý 1 năm 2010, Google chi 1,38 triệu USD và con số tương ứng của quý II là 1,34 triệu USD. Mặc dù vậy, theo như bản thông báo từ Consumer Watchdog (một tổ chức về tiêu dùng), số tiền này của Google vẫn vượt trội hơn rất nhiều so với các tên tuổi khác như Apple (340.000 USD) và Facebook. “Kẻ” duy nhất vượt mặt Google không ai khác chính là Microsoft với việc bỏ ra khoảng 1,63 triệu USD trong quý 3

Chiến lược “lobby” chủ yếu của Google trong quý 3 vừa qua bao gồm: các hoạt động liên quan đến nhập cư, quy định quảng cáo trực tuyến như vi phạm bản quyền, vấn đề về cạnh tranh, cải cách quyền sáng chế, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, điện toán đám mây, các loại năng lượng có thể làm mới, lưới điều khiển thông minh…

Một lĩnh vực khác mà Google tập trung nguồn lực chính là “Sự cởi mở và cạnh tranh trong thị trường dịch vụ trực tuyến”, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến vụ thôn tín trị giá 700 triệu USD của công ty phần mềm du lịch ITA. Có nguồn tin cho rằng, vụ việc này đang được điều tra bởi các nhà chức trách có thẩm quyền tại Mỹ

Bên cạnh Google, một cái tên nổi tiếng khác là Facebook cũng tăng gấp đôi khoản tiền dành cho các công việc vận động hành lang (từ 60.000 USD trong quý 2 lên 120.000 USD trong quý 3). Tuy nhiên, số tiền này vẫn ít hơn cùng kỳ năm ngoái (khoảng 121.000 USD)

Khác với Google, Facebook tập trung vào những quy định toàn cầu về các công ty phần mềm và giới hạn trong việc truy cập internet bởi các chính phủ nước ngoài, vấn đề về an toàn trên mạng, bản quyền…

thoidaianhhung
10-28-2010, 08:03 AM
Lobby & Doanh nghiệp Việt chỉ biết… hầu kiện

Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, phàn nàn, các doanh nghiệp, hiệp hội hội nhập quốc tế quá… “ngoan”, rất ít sử dụng công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước

Nguyên nhân, theo ông Huỳnh là do thiếu đủ thứ: tính liên kết vì lợi ích chung, tiền, kinh nghiệm, thông tin, trợ giúp pháp lý… Bởi vậy, thay vì chủ động khiến kiện khi bị xâm hại lợi ích, doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết… hầu kiện từ các đối tác nước ngoài.

50% lơ mơ về quyền khởi kiện

Tại hội thảo “dạy” gần 100 doanh nghiệp chuyên sản xuất trong nước của Hà Nội cách khởi kiện, ông Huỳnh giải thích các biện pháp phòng vệ thương mại là công cụ duy nhất doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm bảo vệ hàng hóa nội địa mà không trái với quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Quyền quyết định cuối cùng thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu

Tuy nhiên, một khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cho thấy, 66% doanh nghiệp không hiểu hoặc hiểu sơ sài nội dung cơ bản của các hiệp định trong khuôn khổ WTO. Tỷ lệ hiểu về cam kết gia nhập WTO liên quan tới ngành mình có khả quan hơn song 81,48% không biết gì về diễn biến đàm phán của Việt Nam đang tiếp tục thực hiện trong khuôn khổ WTO…

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, ông Cao Sĩ Kiêm thừa nhận trong 17.000 thành viên, khoảng 50% có hiểu “lơ mơ” về quyền khởi kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ. Hơn 10% thành viên đã phản ánh hàng hóa nước ngoài bán phá giá vào Việt Nam song thông tin chưa rõ ràng, mang nặng đánh giá theo cảm tính bên ngoài, chưa tham vấn luật sư... Do đó Hiệp hội mới “hỗ trợ” bằng động tác chuyển kiến nghị của doanh nghiệp tới các cơ quan chức năng

Cơ quan quản lý phải hỗ trợ doanh nghiệp

Rút kinh nghiệm từ vụ kiện duy nhất (một số nhà sản xuất kính Việt Nam đề nghị áp dụng biện pháp tự vệ đối kính nổi nhập khẩu) thất bại khá sớm, ông Huỳnh đề nghị Chính phủ cần quy định cơ chế các cơ quan quản lý phải cung cấp những loại thông tin nào để hỗ trợ doanh nghiệp, hiệp hội thu thập chứng cứ khởi kiện. Chuẩn bị tiến tới thành lập những hội chuyên về nhập khẩu, xuất khẩu để bảo vệ quyền lợi hội viên chặt chẽ hơn và tránh mâu thuẫn quyền lợi giữa nhiều thành viên trong một hội. Đồng thời đưa một số luật sư ra nước ngoài đào tạo về lĩnh vực tự vệ thương mại. Quan trọng nhất, các doanh nghiệp cùng lợi ích và hiệp hội cần chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý để chuẩn bị tốt nhất cho việc khởi kiện

Ngày 30/7, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) và dự án hỗ trợ thương mại đa biên sẽ tổ chức hội thảo tương tự tại TP HCM. Phó cục trưởng Đỗ Bá Phú mong muốn vào đầu hoặc cuối hằng năm sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề với doanh nghiệp, hiệp hội nhằm tổng kết kinh nghiệm, bàn bạc những biện pháp khởi kiện hữu hiệu nhất đối với những ngành hàng nằm trong “tầm ngắm”. Trước mắt, Cục quản lý cạnh tranh sẽ phối hợp với Công ty CP cao su Sao Vàng thu thập thông tin một số nhà nhập khẩu đặt mua lốp ô tô Thái Lan, Trung Quốc chất lượng kém, khai man thuế nên giá bán tại Việt Nam rất rẻ.

Vận động hành lang để kiện

Doanh nghiệp sản xuất nội địa phải hiểu được cơ chế các vụ kiện phòng vệ thương mại, phối hợp với nhau trong một hiệp hội trước khi đệ đơn kiện nhằm thu thập đủ chứng cứ, thỏa mãn tư cách khởi kiện. Thuê luật sư thương mại chuyên nghiệp tư vấn pháp lý trong suốt quá trình khởi kiện. Chuẩn bị chiến lược vận động “hành lang” phù hợp nhằm chống lại áp lực lớn từ các nhà sản xuất nước ngoài. (Tư vấn của chuyên gia Liên minh châu Âu và Hãng luật Baker&McKenzia)

LOBBY.VN
11-17-2010, 07:09 PM
Những người giàu sắp rời Thụy Sĩ ?

- Có nhiều nguy cơ xảy ra làn sóng người giàu rời Thụy Sĩ và nước này sẽ trở thành điểm đến đầu tư kém phần hấp dẫn.

Theo giới quan sát, lời cảnh báo trên là có căn cứ nếu Chính phủ Thụy Sỹ thực thi kế hoạch đánh thuế tối thiểu vào thu nhập và tài sản, khiến những người giàu sẽ chuyển đến sống ở những nơi "rẻ hơn" và các công ty hàng đầu "lảng tránh" đầu tư vào đây

Ngày 28/11, Thụy Sỹ sẽ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về kế hoạch mà Đảng Dân chủ Xã hội (SP) đề xuất về việc đánh thuế tối thiểu 22% đối với các khoản thu nhập trên 250.000 franc (254.000 USD) và 5% đối với những tài sản có trị giá trên 2 triệu franc. Một nhóm vận động hành lang chống lại kế hoạch này cho rằng đây là kế hoạch sẽ gây thiệt hại cho Thụy Sỹ. Theo họ, nếu bị đánh thuế vào sự giàu có của mình, ông ta sẽ ít đầu tư vào công ty hơn, tác động đến việc làm và chi phối đến quyết định của ông ta trong việc có đặt trụ sở công ty ở Thụy Sỹ nữa hay không

Lo lắng khả năng các cử tri sẽ ủng hộ kế hoạch trên trong các cuộc trưng cầu dân ý, các doanh nghiệp hàng đầu đã cảnh báo họ có thể rời Thụy Sỹ. Tỷ phú Alfred Schindler, Chủ tịch công ty thang máy mang tên ông, nói ông không muốn rời bỏ đất nước Thụy Sỹ. Tuy nhiên, mức thuế mà ông phải đóng có thể lên tới trên 70% là một sự tước đoạt khó chấp nhận. Các triệu phú khác như người sáng lập tập đoàn giao dịch hàng hóa Glencore, Marc Rich và nhà vô địch tennis Roger Federer, cũng đang quan tâm theo dõi diễn biến trưng cầu dân ý

Thụy Sỹ là nơi tập trung đông nhất các triệu phú ở châu Âu. Đất nước này từng thu hút nhiều triệu phú, trong đó có ngôi sao nhạc pop Tina Turner và vận động viên đua xe Công thức 1 Michael Schumacher, với các mức thuế đặc biệt ưu đãi. Các bang của nước này đã đưa ra các mức thuế thấp đối với các cá nhân và doanh nghiệp, nhằm thu hút các công ty nước ngoài. Đảng Dân chủ Xã hội nói kế hoạch trên sẽ chỉ tác động đến 1% người đóng thuế Thụy Sỹ

Nghị sỹ SP Margret Kiener Nellen cho rằng cử tri Thụy Sỹ sẽ thể hiện sự phẫn nộ về mức lương trong các doanh nghiệp và tiền thưởng ở các ngân hàng lớn trong cuộc trưng cầu dân ý. Bà không cho rằng Schindler sẽ rời khỏi Thụy Sỹ, vì nếu muốn chuyển tới Monaco, thì ông đã có thể làm như vậy cách đây nhiều năm

LOBBY.VN
11-18-2010, 03:38 PM
Ông Thaksin thuê công ty lobby

- Thủ tướng bị phế truất của Thái Lan Thaksin Shinawatra vừa thuê công ty luật "hạng sang" của Mỹ Baker Botts để giúp ông vận động hành lang (lobby)

Các chính trị gia đối lập với ông Thakisn tỏ ra e ngại với thông tin trên và nghi ngờ ông chưa từ bỏ chính trị như đã hứa. Nhân vật cao cấp thuộc đảng Dân chủ Kobsak Sabhavasu cho rằng ông Thaksin muốn tìm sự hậu thuẫn của Mỹ để quay trở lại Thái Lan

Được biết một trong những nhân vật chủ chốt của công ty Baker Botts là ông James Baker, (cựu) Ngoại trưởng dưới thời Tổng thống Bush "cha". Tuy nhiên đại sứ Mỹ tại Thái Lan Ralph Boyce nói tất cả mọi người đều có quyền thuê công ty lobby và hành động của ông Thaksin không làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Bangkok và Washington

Những ngày này, ông Thaksin đang đi nghỉ mát trên đảo Bali của Indonesia

LOBBY.VN
11-18-2010, 03:48 PM
Doanh nghiệp nên tận dụng 'quyền lực mềm'

- Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cà phê Trung Nguyên cho rằng, cần có cái nhìn mới xung quanh việc phát triển thương hiệu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp Việt muốn vươn ra thế giới cần tận dụng các quyền lực mềm

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/11046_400.jpg
Ông Đặng Lê Nguyên Vũ

Có nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh xây dựng thương hiệu mạnh cho sản phẩm, doanh nghiệp cần biết tận dụng các lợi thế để lấn sang sân chơi toàn cầu. Ông có ý kiến gì ?

Theo tôi, trong bối cảnh này Việt Nam nên coi phát triển kinh tế làm trung tâm của mọi trung tâm. Tôi từng có cuộc trao đổi với GS Joseph Nye, cha đẻ của học thuyết Quyền lực mềm nổi tiếng thế giới và ông tán thành quan điểm Việt Nam phải nắm bằng được cờ nhân văn để tụ lực thế giới

Việt Nam với thế mạnh về nông nghiệp hoàn toàn có thể tuyên bố lo được một phần đáng kể an ninh lương thực cho thế giới. Nhưng ở đây đòi hỏi phải có một chiến lược toàn diện cho vấn đề nông nghiệp, phải nâng giá trị nông nghiệp toàn chuỗi. Làm được việc này, thế giới phải cần Việt Nam. Đó là điểm thứ nhất

Điểm nữa, Việt Nam hoàn toàn có thể đi tiên phong trong khắc phục biến đổi khí hậu bằng mô hình phát triển bền vững. Hai chương trình này cực kỳ nhân văn trong bối cảnh hiện nay. Nếu Việt Nam làm được như vậy, đó chính là quyền lực mềm. Khi mới nêu vấn đề này ra, nhiều người cho là tôi ở trên mây. Nhưng ngay Joseph Nye cũng cho rằng, đây chính là quyền lực mềm của Việt Nam

Phát triển các thương hiệu hàng đầu của quốc gia để tạo đà cho doanh nghiệp vươn ra quốc tế có được coi là một dạng của quyền lực mềm?
Tôi tán đồng quan điểm này. Ở đây phải nhận thức rõ, doanh nghiệp có vị thế toàn cầu thì doanh nghiệp phải là trung tâm của cái gì đó hay là một mắt xích quan trọng trong chuỗi nào đó

Doanh nghiệp Việt Nam chưa vươn ra toàn cầu có phải vì thiếu khát vọng, thiếu liên kết ?

Tôi nghĩ, khát vọng của mỗi cá nhân và các doanh nghiệp đều có. Nhưng ở mức độ cao, xa hơn, vì sứ mệnh lớn tầm quốc gia để từ đó đi khai phá, chinh phục ở nước khác, đem lại giá trị cho Việt Nam thì tôi chưa thấy. Đa phần khát vọng thuần về cá nhân. Doanh nghiệp còn phải được trang bị lý tưởng và cần lực thúc đẩy nó lao về phía trước

Từ năm 2003 đến 2008, tôi đắm chìm trong các chương trình vận động và bỏ bê Trung Nguyên. Sau đó tôi ngộ ra một chuyện: Tôi rồi cũng sẽ chết và phải làm điều gì đó có ích cho xã hội. Từ đó tôi nhìn cà phê như một thứ quyền lực

Trong quá trình đi vận động làm thương hiệu chung cho cà phê Việt Nam, tôi cũng gặp nhiều thách thức, nhiều người nghĩ tôi làm vì lợi ích cho Trung Nguyên. Các doanh nghiệp trong ngành cũng chống. Trong những cuộc khác tôi cũng đơn độc. Rất là buồn

Nhiều người khẳng định để doanh nghiệp phát triển và xây dựng được thương hiệu, không thể không vận động hành lang (lobby) ?

Lobby ở các nước khác thì được coi là hoạt động bình thường. Chính phủ không thể ba đầu sáu tay ngó thấu tất cả để ra chính sách. Đó là thực tiễn cuộc sống. Có những nhóm chỉ đi lobby cho lợi ích riêng của mình và mặc kệ những người khác. Cái đó thì nên chống và nên có hàng rào để chống. Còn những nhóm lobby cho đại cục, cho những chính sách tốt liên quan đến quốc kế dân sinh thì phải tiếp nhận. Chính phủ và xã hội cần tạo cơ hội cho các nhóm đó phát triển. Nhưng hiện nay, đích cuối cùng vẫn chủ yếu là lợi ích nhóm nhiều hơn. Cái đó đáng phê bình, lên án

LOBBY.VN
11-22-2010, 02:32 PM
Mời nghị sỹ chỉ trích cá tra đến Việt Nam ‘mục sở thị’

Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, hiệp hội này vừa gửi thư mời ông Struan Stevenson, Nghị sĩ Nghị viện châu Âu, đến ĐBSCL để chứng kiến quá trình nuôi, thu hoạch và chế biến, xuất khẩu loài cá này

Theo VASEP, ông Struan Stevenson đã đưa ra những chỉ trích mang tính kích động về tính an toàn của cá tra, như các điều kiện làm việc tại trại nuôi và nhà máy chế biến cá tra ở Việt Nam trong bài phát biểu tại Nghị viện châu Âu tuần qua

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/kt-ca-sua.jpg
VASEP khẳng định, cá tra Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế

Những lời phát biểu này được báo chí Châu Âu trích lại, có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của cá tra Việt Nam

Thư mời nêu rõ: VASEP tin rằng, khi tận mắt chứng kiến các sản phẩm được nuôi, thu hoạch và chế biến thì ông Struan Stevenson có thể chỉnh sửa phát biểu.

VASEP khẳng định, các trại nuôi và nhà máy chế biến cá tra đều đạt tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thế giới và vẫn đang tiếp tục xem xét quy trình, cũng như các thủ tục, nhằm đảm bảo ngành công nghiệp cá tra của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế yêu cầu

LOBBY.VN
11-30-2010, 01:40 AM
Trung Quốc năng nổ làm thuyết khách vụ Triều Tiên

Đóng vai trò nhất định tại bán đảo đang tranh chấp, phía Trung Quốc mấy hôm nay tỏ ra năng nổ vận động cho tình hình Triều Tiên – Hàn Quốc.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/20101129221742_nk5.jpg
Tàu chiến Mỹ trên biển Hàn Quốc



Trong diễn biến mới nhất, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc vừa lên tiếng kêu gọi Mỹ nên phối hợp với Trung Quốc tìm cách giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên

Điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc cho rằng giải pháp cần ưu tiên hiện nay là tìm cách làm dịu tình hình và từ bỏ mọi động thái có thể làm căng thẳng thêm tình hình.

Trước đó một ngày, phía Trung Quốc cũng đã lên tiếng đề nghị các trưởng đoàn đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên nhóm họp khẩn tại Bắc Kinh trong ít ngày nữa, vào đầu tháng 12 tới.

Tuy nhiên sau đó Triều Tiên đã bác bỏ khả năng này.

Trong khi đó, phía Hàn Quốc lại đang tỏ ra căng thẳng. Ngày 29/11, Tổng thống Lee Myung-bak trong bài phát biểu trên truyền hình quốc gia đã tuyên bố Triều Tiên sẽ phải trả giá nếu tiếp tục các hành động khiêu khích.

Ông Lee cũng cam kết tiến hành cải cách quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh của quân đội.

Trong khi đó, Hàn Quốc và Mỹ đang tiến hành cuộc diễn tập quân sự và sẽ chỉ kết thúc vào ngày 1/12 tới.

Cuộc tập trận đã bắt đầu từ hôm qua với sự tham gia của tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân Mỹ USS George Washington cùng các tàu chiến USS Cowpens, USS Shiloh, USS Stethem và USS Fitzgerald.

Phía Hàn Quốc cũng đưa hai tàu khu trục, một tàu tuần tiễu hải quân, máy bay chiến đấu chống tàu ngầm tham gia tập trận.

Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định cuộc tập trận chung này mang tính chất phòng thủ nhằm ngăn chặn những động thái khiêu khích tiếp theo của Triều Tiên.

Phía Triều Tiên khẳng định cuộc tập trận Mỹ-Hàn là "hành động khiêu khích quân sự nghiêm trọng".

Bình Nhưỡng khẳng định sẽ tiến hành các cuộc tấn công quân sự nếu Mỹ và Hàn Quốc vi phạm lãnh hải nước này

LOBBY.VN
12-04-2010, 11:53 PM
Lobby - chuyện vận động hành lang

Đó không phải là sự lén lút, “đi đêm” nhằm trục lợi. Đó là một nghệ thuật mà ở khía cạnh tích cực, nó mang lại lợi ích rất lớn cho người lobby; mang lại thông tin cho người được lobby và lợi ích chung cho xã hội.
Lobby được định nghĩa là “hình thức vận động nhằm mục đích gây ảnh hưởng lên các quyết định của chính quyền để phục vụ một lợi ích cụ thể nào đó”. Hoạt động này do các cá nhân (tức nhà vận động hành lang), tổ chức (nhóm lobby) tiến hành, nhằm vào quan chức chính phủ, giới lập pháp, thậm chí cả cơ quan tư pháp

Một câu chuyện cười

Có một câu chuyện cười thế này: Tại phiên họp quốc hội ở một xứ kia, đến lượt một nghị sĩ phát biểu. Ông ta bức xúc: “Báo cáo với quốc hội là tôi sắp phải kể một câu chuyện rất khó chịu liên quan tới công ty ABC. Bọn ABC thật đáng ghét. Chuyện là thế này, thưa quốc hội. Hôm qua có một tay tự nhiên đến gõ cửa nhà tôi, xưng là người của hãng ABC. Hắn đề nghị tôi cái gì các vị biết không. Ôi, thật là xúc phạm. Hắn bảo ABC sẽ trả cho tôi 1 triệu đôla để nói từ “ABC” bảy lần trước quốc hội ngày hôm nay. Tất nhiên là tôi đã nổi giận. Tất nhiên là tôi đã tống cổ cái thằng cha đại diện bọn ABC hỗn láo ấy đi ngay lập tức. Nhưng mà, báo cáo quốc hội, thật sự là tôi không thể nào không thể hiện nỗi bức xúc của mình ra đây được. Cái bọn ABC này thật sự là quá lắm. Tôi không thể nào mà không đưa chuyện của chúng nó ra đây để chửi cho chúng nó một trận được. Chỉ mong từ giờ không có thằng cha ABC nào đến làm phiền bất cứ ai trong số chúng ta. Cũng mong là các vị hết sức cảnh giác với cái tên ABC. Đấy, xin báo cáo quốc hội là như thế”. (Hóa ra, ông nghị sĩ ấy đã đề cập đến “ABC” đến hơn bảy lần!)

Tất nhiên đây chỉ là một câu chuyện cười nhưng nó cũng phản ánh phần nào mối liên hệ giữa các nhà lập pháp (nghị sĩ, đại biểu quốc hội) với các nhóm lợi ích. Và đó là bản chất của hiện tượng lobby - vận động hành lang - một hoạt động hợp pháp trong đời sống chính trị của nhiều nước trên thế giới

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/12-chot.jpg
Nhà vận động hành lang Steve Holzheause gặp gỡ cử tri ở sảnh tòa nhà Quốc hội Mỹ

Mang lại thông tin cho chính khách

Luật pháp ở các nước phương Tây (Mỹ, châu Âu) từ lâu đã công nhận hoạt động lobby. Người ta cho rằng lobby là một phần hợp lý và cần thiết của dân chủ, nó mang lại nhiều lợi ích: Các cá nhân và tổ chức, thông qua lobby, có thể góp phần hợp lý vào các quyết định chính trị vốn dĩ có thể ảnh hưởng tới họ và trong nhiều trường hợp là tới cả xã hội. Còn chính quyền thì nhờ có lobby mà tiếp cận được với các luồng thông tin và quan điểm từ xã hội

Bên cạnh chính phủ và quốc hội, các nhóm lobby thậm chí còn có thể tác động cả tới nhánh tư pháp. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, ở Mỹ, Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu đã từng đệ đơn kiện lên tòa án bang và liên bang, đồng thời tiến hành vận động chống các đạo luật phân biệt chủng tộc. Nỗ lực của họ đưa đến kết quả Tòa Tối cao Mỹ tuyên bố những đạo luật đó vi hiến

Tại Mỹ, hầu như vào bất kỳ thời điểm nào cũng có hàng trăm vụ việc ở các tòa án bang và liên bang, với các nhóm lobby theo đuổi vận động, thưa kiện, nhằm mang lại chiến thắng cho họ hoặc cá nhân, tổ chức đã thuê họ làm đại diện. Nhiều vụ lớn được đưa lên mục tin nổi bật trên báo chí, càng giúp cho các nhóm lợi ích liên quan được thêm nhiều người biết đến. Tại Anh, dịch vụ lobby chuyên nghiệp là một ngành kinh doanh tăng trưởng ổn định suốt những năm vừa qua, với sự tham gia của đông đảo công ty tư nhân và nhà tư vấn độc lập. CIPR, một viện nghiên cứu về quan hệ công chúng (PR), ước tính nước Anh có khoảng 48.000 người hành nghề PR, và 30% trong số đó làm nghề lobby hay gọi cách khác là “quan hệ chính phủ”. Vậy nếu tổng giao dịch của thị trường PR nói chung trị giá 6,5 ngàn tỉ bảng thì doanh thu của lobby ở vào khoảng 1,9 ngàn tỉ bảng Anh (năm 2007)

Lợi ích xã hội

Bên cạnh lực lượng công ty PR và nhà tư vấn độc lập coi lobby là dịch vụ kinh doanh, còn có rất nhiều cá nhân/tổ chức làm lobby khác như các hội nghề nghiệp, NGO, công đoàn, hội từ thiện…

Tổ chức Friends of the Earth (Bạn của trái đất) tự giới thiệu rằng họ đã lobby thành công rất nhiều vụ việc, ví dụ như “góp phần bảo vệ Nghị định thư Kyoto, thuyết phục nghị sĩ, thúc đẩy Nghị viện Anh thông qua tám đạo luật trong tám năm”

Một tổ chức khác thì thực hiện chương trình “Tighten the Net” (Siết chặt Internet). Họ tuyên bố đã tác động thành công khiến Bộ Nội vụ Anh phải chi 1,5 triệu bảng cho việc giáo dục thanh thiếu niên Anh về tác hại của Internet

Thực tế ở các nước phương Tây cho thấy trong quá trình hình thành, các chính sách luôn phải chịu rất nhiều áp lực và ảnh hưởng. Việc can thiệp để định hình chính sách gồm rất nhiều hoạt động được tiến hành đồng loạt, đồng thời, từ tiếp xúc trực tiếp với quan chức chính phủ, đại biểu quốc hội đến xúc tiến quan hệ với báo chí. Do đó, bản thân báo chí cũng được coi là một lực lượng lobby. Ở Anh, một đạo luật chống chó dữ, chó dại đã đi vào hiệu lực năm 1991, sau một loạt tin tức trên báo về các vụ trẻ em bị chó tấn công, kèm với đó là các bài xã luận đề nghị cơ quan lập pháp phải có luật ngăn chặn những tai nạn kiểu này

Hoạt động lobby được tiến hành nhằm vào cả giới hành pháp lẫn lập pháp. Viện CIPR đã tiến hành khảo sát các nhà lobby, đại đa số cho rằng “lobby nghị viện quan trọng hơn lobby chính phủ”. Thống kê cũng cho thấy nhiều nghị sĩ rất “đắt sô”, được các nhà lobby tiếp xúc tới 100 lần một tuần, tất nhiên là cũng tùy vấn đề nào quan trọng hay không. 22% số nghị sĩ Anh được giới lobby “thăm hỏi” hơn 50 lần/tuần

Một điều lạ là trái với quan niệm cho rằng các công ty PR dễ tiếp xúc với giới nghị sĩ và nhà làm chính sách hơn cả nhờ có nguồn lực tài chính, các nghị sĩ được hỏi đều nói rằng họ cảm thông hơn và do đó thường bị thuyết phục bởi các tổ chức NGO, các hội thiện nguyện hơn là bởi các công ty lobby chuyên nghiệp

Điều kiện tiên quyết: Công khai, minh bạch

Như đã nói, lobby vốn là một hoạt động hợp pháp và cần thiết trong sinh hoạt nghị trường ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của lobby là: nó phải diễn ra một cách công khai, minh bạch. Nếu không minh bạch thì nó sẽ chỉ là sự “móc ngoặc” để trục lợi giữa chính quyền và các nhóm lợi ích có liên quan

Năm ngoái, Bộ trưởng Văn phòng Nội các Anh Francis Maude từng tổng kết ngắn gọn về điều kiện đối với các nhà vận động hành lang khi ông yêu cầu họ “thứ nhất, bước ra khỏi bóng tối; thứ hai, công khai khách hàng của mình”, nghĩa là lobby phải diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật và công chúng phải được biết cá nhân, tổ chức nào đang tiến hành hoạt động lobby (hoặc đang thuê ai làm lobby)

Các nước công nhận hoạt động lobby đều có luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tinh thần chung của các đạo luật là buộc những cá nhân/tổ chức lobby chuyên nghiệp phải đăng ký hành nghề và có báo cáo định kỳ, thường xuyên. Ngoài ra còn nhiều hạn chế chi tiết khác đối với lobby, chẳng hạn Luật Minh bạch và Giải trình trong lập pháp (năm 2006) của Mỹ quy định: Cấm những người lobby biếu quà cho các nhà lập pháp hay mời họ đi ăn; người lobby phải thường xuyên giải trình chi tiết hoạt động của họ và đăng nội dung trên công báo

Nhìn rộng ra, sự công khai minh bạch là nền tảng của mọi hệ thống chính trị có chất lượng tiến bộ. Về điểm này, Bộ trưởng Francis Maude, đảng viên đảng Bảo thủ Anh, đã khẳng định: “Rất cần phải công khai, minh bạch hơn nữa để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn cao của đời sống chính trị. Nếu ngành lobby không tự điều chỉnh được theo hướng này thì sẽ phải có luật để buộc các nhà lobby phải giải trình nhiều hơn”

Vì sao lại gọi là lobby ?

Trong tiếng Anh, từ “lobby” vốn có nghĩa là “sảnh, hành lang”. Có giả thuyết cho rằng động từ “lobby” với ý nghĩa “vận động hành lang” xuất phát từ việc các thành viên Quốc hội Mỹ hay tụ tập ở hành lang của tòa nhà Quốc hội trước và sau mỗi phiên tranh luận. Theo một giả thuyết khác, cựu Tổng thống Ulysses S. Grant của Mỹ, thời còn đương nhiệm, đã dùng từ “lobby” để ám chỉ việc làm của những người thường xuyên lui tới sảnh khách sạn Williard ở Washington DC để tìm cách tiếp cận Grant - ông hay đến đó để trốn vợ hút xì gà và uống rượu brandy

Các nhà nghiên cứu cho rằng động từ “lobby” mang nghĩa “vận động hành lang” đã xuất hiện trên giấy tờ từ năm 1820: “Những bức thư khác từ Washington khẳng định rằng mỗi khi có vấn đề cần thỏa thuận ở Hạ viện, các thành viên của Thượng viện đã không chỉ “lobby xung quanh Hạ viện” mà còn tìm đủ cách đe dọa các đại biểu yếu thế…”

Đoan Trang (http://phapluattp.vn/20101203102837572p1017c1079/ lobby-chuyen-van-dong-hanh-lang.htm)

LOBBY.VN
12-07-2010, 04:35 PM
Chiến lược vận động hành lang

Để hình dung cách thức tiến hành vận động hành lang, chúng tôi xin giới thiệu chiến lược của một tổ chức Tư vấn vận động hành lang ở Vương quốc Anh

Bước thứ nhất của người vận động: Hình dung rõ mình muốn đạt kết quả gì? Ai là người có khả năng giúp đạt được kết quả này? Điều gì là mối quan tâm lớn nhất của những người này? Cách thức nào là tốt nhất và hợp pháp để tiếp cận những người này? Những sự kiện nào là quan trọng nhất đối với vấn đề cần vận động? Không phải áp lực mà lợi ích mới mang lại hiệu quả vận động, do đó, phải biết chọn đúng người để cung cấp đúng thông tin, đúng thời điểm và đúng cách

Làm thế nào để tiếp cận quan chức Chính phủ: Trong phần lớn trường hợp thì các chính khách thường hạn chế tiếp xúc với cử tri. Do vậy, biện pháp khả dĩ nhất để tiếp cận bộ trưởng là thông qua nghị sỹ. Cách khác là thông qua các tổ chức vận động chuyên nghiệp, các hiệp hội, liên minh (có càng đông thành viên càng tốt) mà người ta vẫn gọi là "Nhóm gây áp lực". Cách thứ ba là thông qua phương tiện thông tin đại chúng mà Chính phủ thường phải đưa ra chính kiến trên các phương tiện này.

Làm thế nào để tiếp cận nghị sỹ: Cách đơn giản nhất là gửi thư yêu cầu cho nghị sỹ. Tuy nhiên, nhiều khả năng các vị dân biểu chỉ là hòm thư giữa bạn và Chính phủ, chỉ làm nhiệm vụ gửi thư của bạn đến vị bộ trưởng có liên quan. Cách thứ hai là tới gặp vị dân biểu của bạn bằng cách điền vào phiếu hẹn tại hành lang trung tâm của Hạ viện (Central Lobby) để hẹn một cuộc gặp. Tuy nhiên, cách này thường không hiệu quả. Bạn cũng có thể tới gặp nghị sỹ tại Văn phòng địa phương. Có nghị sỹ chỉ tiếp một lượng hạn chế cử tri trong ngày vào những giờ nhất định, một số khác lại đòi có lịch hẹn trước thông qua thư ký

Vận động bằng cách nào sẽ mang lại hiệu quả: Hiệu quả tùy thuộc vào quan điểm tiếp xúc cử tri của từng nghị sỹ. Vì vậy trước khi tiếp cận nên tìm hiểu kỹ về mối quan tâm của vị nghị sỹ này và trong cuộc nói chuyện của bạn, đừng quên xoáy vào đó. Không nên nói chuyện với tư cách cá nhân mà phải chứng tỏ cho nghị sỹ thấy bạn thay mặt một nhóm cử tri hoặc hiệp hội để nói lên suy nghĩ của mình. Tìm hiểu quan điểm của vị nghị sỹ này về vấn đề bạn định vận động thông qua trang web cá nhân của nghị sỹ, báo chí, Kỷ yếu nghị viện. Nêu rõ những yêu cầu bạn dự định đề nghị và kế hoạch để đạt được kết quả

Tiếp cận thẳng các bộ trưởng: Nếu bạn nhân danh công dân viết thư thì thư trả lời sẽ do Thư ký Bộ trưởng dự thảo. Còn nếu bạn nhân danh một tổ chức, một hiệp hội có uy tín để viết thư thì có thể Bộ trưởng sẽ phải ký hoặc duyệt thư trả lời trực tiếp. Khi viết thư, bạn nên mở đầu bằng những câu gây thiện cảm như: "Nhân danh những người ủng hộ mãi mãi cho Công Đảng..." (Đảng cầm quyền ở Anh). Bạn nên biết cách sử dụng ảnh hưởng của các tờ báo có uy tín đối với đảng phái của Bộ trưởng hoặc dựa vào cương lĩnh tranh cử của Bộ trưởng để tăng cường sức thuyết phục cho lý lẽ của mình. Bạn nên phân tích lợi thế chính trị và những "nguy cơ chính trị" nếu Bộ trưởng không hành động hoặc hành động khác với điều bạn muốn

Làm thế nào để gây chú ý về lợi ích chính trị: Hãy tiếp cận những người có ảnh hưởng tới quan điểm chính trị của Bộ trưởng như Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng. Cố vấn chính sách, Nghiên cứu viên của các nhóm đảng phái, Chuyên viên Văn phòng địa phương của đại biểu là Bộ trưởng; các vị cố vấn địa phương tại đơn vị bầu cử của Bộ trưởng

LOBBY.VN
12-22-2010, 11:20 PM
Obama vận động hành lang các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/HU.jpg

Hôm qua (20.12), Tổng thống Barack Obama đã nỗ lực vận động các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa quay lại thảo luận Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí chiến lược mới với Nga, vấn đề mà bấy lâu vẫn gây ác cảm với đảng Cộng hòa khi đảng này cho rằng, hiệp ước có thể ảnh hưởng tới nền an ninh quốc gia

Nhà Trắng và các nghị sĩ đảng Dân chủ đã bày tỏ niềm tin rằng, họ đã bỏ phiếu tán thành cho hiệp ước được Tổng thống Obama và Tổng thống Nga, Dmitry Medvedev ký kết hồi tháng Tư. Trong nội dung đàm phán về hiệp ước START mới, hai bên cũng đã bàn về việc khởi động lại chương trình thanh tra vũ khí hạt nhân của Mỹ nhằm thiết lập lại mối quan hệ giữa hai quốc gia từng là kình địch thời chiến tranh lạnh

Một số Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đã nghiêng về xu hướng ủng hộ hiệp ước như Thượng nghị sĩ bang Massachusetts, Scott Brown đã công bố sẽ hỗ trợ các hiệp ước sau khi ông nhận một cuộc gọi từ Ngoại trưởng Hillary Clinton. Ngoài ra, Thượng nghị sĩ Johnny Isakson bang Georgia, người cũng có cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Clinton, đã gửi tín hiệu mạnh mẽ rằng ông sẽ hỗ trợ phê chuẩn hiệp ước

Với sự giúp đỡ của 8 thành viên đảng Cộng hòa, đảng Dân chủ đã đánh bại trong vấn đề tăng số lượng thanh tra vũ khí với số phiếu là 64/33. Họ cũng bác bỏ một phương án đề xuất về tăng số lượng tên lửa với 64/33 phiếu. Một nỗ lực nhằm thay đổi các điều ước quốc tế liên quan đến vũ khí hạt nhân chiến lược cũng không thành công với 62/35 phiếu bầu

Ông Obama, người đã trì hoãn kỳ nghỉ Giáng sinh của mình, cũng đã vận động các thượng nghị sĩ qua điện thoại nhằm đạt được hiệp ước START mới trước khi đảng Cộng hòa tăng số lượng thành viên tại Thượng viện. Phó Tổng thống Joe Biden và bà Clinton cũng đã kêu gọi các nhà lập pháp thúc đẩy việc phê chuẩn

Nhằm giúp cho chính sách của ông Obama được nhanh chóng phê chuẩn, Đô đốc Mike Mullen, tham mưu trưởng liên quân, cũng đã gửi một lá thư cho các nhà lập pháp nhắc lại sự hỗ trợ cho các hiệp ước này. “Hiệp ước này sẽ giúp tăng cường khả năng của quân đội... đó là bảo vệ công dân Mỹ, tôi tin tưởng vào sự thành công của nó. Tôi hy vọng hiệp ước sớm được phê duyệt”, ông Mullen viết

Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số thành viên bảo thủ của đảng Cộng hòa vẫn nhấn mạnh, hiệp ước sẽ hạn chế hệ thống phòng thủ tên lửa - cơ sở chính bảo vệ Mỹ và các nước đồng minh, và họ còn cho rằng, khó có thể xác minh sự tuân thủ của Nga

Tổng thống Obama đã bị mô tả “thất bại nặng nề” trong cuộc bầu cử Quốc hội giữa kỳ vào ngày 2.11 khi đảng của ông mất quyền kiểm soát Hạ viện và giảm số ghế tại Thượng viện. Tuy nhiên, ông đã đạt được “hai chiến thắng chính trị lớn” với việc Quốc hội thông qua thỏa thuận cắt giảm thuế và bãi bỏ lệnh cấm người đồng tính phục vụ trong quân đội. Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của ông trước cuối năm nay là phê chuẩn hiệp ước START mới

Với chiến lược vận động hành lang các Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa, năm thượng nghị sĩ đảng Cộng hoà bao gồm ông Richard Lugar của bang Indiana, Olympia Snowe và Susan Collins của bang Maine, George Voinovich của Ohio và Brown cho biết sẽ trở lại đàm phán về hiệp ước, trong khi bốn người khác là Robert Bennett của Utah, Judd Gregg của New Hampshire, Tennessee của Bob Corker và Isakson cho biết họ đã nghiêng về phía phê duyệt

Tại Nga, Ngoại trưởng Sergey Lavrov đã cảnh báo sẽ phản đối bất kỳ sự thay đổi nào trong hiệp ước. “Tôi chỉ có thể nhấn mạnh một thực tế là hiệp ước đã được đề ra nghiêm ngặt và chặt chẽ, theo quan điểm của chúng tôi, nó hoàn toàn đáp ứng đầy đủ lợi ích quốc gia của cả Nga và Mỹ”, ông Lavrov phát biểu trên hãng tin Interfax của Nga

Nếu Hiệp ước START mới đạt được thì sau 7 năm thực hiện, số phương tiện phóng đầu đạn hạt nhân của Nga và Mỹ, gồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo đặt trên tàu ngầm và các máy bay ném bom hạng nặng, sẽ giảm xuống còn một nửa so với Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược giai đoạn 1 (START-1), từ 1.600 xuống còn 700

Số đầu đạn hạt nhân của mỗi bên sẽ giảm hơn 30% so với Hiệp ước cắt giảm tiềm lực tấn công chiến lược ký tại Mátxcơva đầu năm 2002, từ 2.200 xuống còn 1.550. Số bệ phóng tên lửa (đã triển khai và chưa triển khai) của mỗi bên không vượt quá 800 đơn vị. START mới có hiệu lực 10 năm kể từ ngày Quốc hội 2 nước phê chuẩn và có thể gia hạn mỗi lần 5 năm

LOBBY.VN
12-22-2010, 11:23 PM
Zambia tiến hành vận động hành lang
nhằm nới lỏng lệnh cấm buôn bán ngà voi


Zambia hiện đang sở hữu kho dự trữ ngà voi trị giá gần 1 triệu đô la Mỹ, nhưng lại chưa thể bán ra thị trường do vấp phải lệnh cấm buôn bán ngà voi được "Công ước quốc tế về buôn bán động thực vật hoang dã" ban hành. Bộ trưởng Du lịch và môi trường Zambia cho biết, nước này đang tiến hành vận động hành lang để lệnh cấm trên được nới lỏng

Theo Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia, nước này đã bắt đầu tiến hành vận động hành lang để lôi kéo sự ủng hộ cho đề xuất mới nhằm kêu gọi sự nới lỏng lệnh cấm buôn bán ngà voi trên thị trường, giúp Zambia giải quyết 21 tấn ngà voi đang tồn trong kho

Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia Catherine Namugala cho biết, nước này đã lên kế hoạch vào năm 2013 tới sẽ tái đệ trình bản đề xuất trước đó đã bị Công ước quốc tế về buôn bán động thực vật hoang dã viết tắt là CITEs bác bỏ vào tháng 3 năm nay

“ Zambia muốn tái đệ trình đề xuất này, và chúng tôi muốn bán lượng ngà voi dự trữ vì nhờ đó đất nước sẽ có thêm nguồn thu. Số tiền thu được có thể được sử dụng để chi cho các chương trình bảo vệ loài voi”

Bà Namugala cho biết Zambia có thể thu được khoảng 1 triệu đô la Mỹ từ việc bán 21 tấn ngà voi này, hầu hết là được thu thập từ các con voi bị chết do thảm họa thiên nhiên

Cuộc họp của 175 nước tham gia Công ước CITEs đã bỏ phiếu bác bỏ ý kiến của Zambia và Tanzania rằng, số lượng voi cá thể đang gia tăng, và gây nguy hiểm cho người dân tại các vùng xa xôi

Bà Namugala cho biết, hiện vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về những mối đe dọa mà người dân gặp phải khi sống chung với voi tại Zambia

“ Zambia nên được cho phép loại bỏ khỏi danh sách cấm, vì chúng tôi là một quốc gia có chủ quyền. Và nhiệm vụ của chúng tôi là phải đảm bảo các nguồn lợi thiên nhiên phục vụ lợi ích của nhân dân. Nếu như lệnh cấm không được nới lỏng, chúng tôi cảm thấy rằng, môi liên hệ giữa việc bảo tồn và sử dụng bền vững đã bị Công ước CITES bỏ qua, vì bạn không thể nào đảm bảo công tác bảo tồn nếu người dân sống cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên này không được hưởng lợi gì từ nó”

Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia cho biết, Zambia sẽ tiến hành vận động hành lang đối với những nước như Kenya, vốn là những nước đã phản đối đề xuất của Zambia trong năm nay

“ Chúng tôi hy vọng rằng, thông qua đối thoại, thông qua các kênh ngoại giao với bạn bè của chúng tôi, ngay cả những nước trước kia đã phản đối đề xuất của chúng tôi, sẽ trở nên hiểu rằng, lợi ích của người dân Zambia đang phụ thuộc vào họ, và chúng tôi sẽ nhất trí rằng, là người châu Phi, chúng tôi sẽ không tham dự hội nghị sắp tới với tinh thần chia rẽ”

Zambia cũng lên kế hoạch đàm phán với các tổ chức phi chính phủ để họ hiểu rằng Zambia cũng rất quan tâm tới việc bảo tồn loài voi

Được biết, Zimbabwe, Namibia, Nam Phi và Botswana là những nước châu Phi đã được cho phép bán ngà voi sau hội nghị của Công ước CITEs hồi năm 2007

LOBBY.VN
12-26-2010, 06:22 PM
Facebook xây dựng nhóm vận động hành lang ở Washington

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Facebook-xay-dung-nhom-van-dong-hanh-lang-o-Washington.jpg
Với 500 triệu người sử dụng, bảo mật hiện là vấn đề hàng đầu của Facebook

- Đây là một trong những biện pháp nhằm đối phó với áp lực ngày càng gia tăng từ phía Washington trong các vấn đề bảo mật thông tin người sử dụng

Trang mạng xã hội lớn nhất thế giới đang mở rộng văn phòng 6 người ở thủ đô Washington, đồng thời chi nhiều hơn cho các khoản vận động hành lang

Đại diện Facebook cũng tổ chức các buổi họp với các nhà lập pháp, Quốc hội và các chuyên gia bảo mật nhằm tìm hướng giải quyết cho vấn đề hiện tại là đảm bảo quyền riêng tư cho hơn 500 triệu người sử dụng.

Nhà sáng lập Facebook, người vừa tạp chí Times bầu chọn là “Nhân vật của năm 2010” khẳng định: “Bảo mật và đảm bảo quyền kiểm soát thông tin cá nhân của người sử dụng là một trong những yếu tố cơ bản nhất trên mạng internet”

Bảo mật thông tin đang là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của người sử dụng khi mạng internet đang phát triển nhanh chóng, việc kết nối thông tin diễn ra mạnh mẽ và khó kiểm soát hơn. Các công ty lớn như Facebook và Google ngày càng khai thác có hiệu quả hơn những thông tin cá nhân của người sử dụng để kiếm lợi nhuận

Quốc Hội, Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ và Phòng thương mại đang xem xét bổ sung và làm rõ các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư của người sử dụng tại các công ty mạng lưu trữ thông tin cá nhân của khách hàng

Nhiều khả năng, một dự thảo luật về vấn đề bảo mật trên mạng internet sẽ được các nhà lập pháp đưa ra vào năm tới, theo lời của Chủ tịch Ủy ban thương mại Thượng viện Mỹ, Jay Rockefeller

Hiện tại, Facebook cho phép người sử dụng trao đổi, chia sẻ thông tin giữa những người có mối quan hệ “bạn bè” với nhau, đồng thời giúp các nhà quảng cáo tìm được khách hành mục tiêu thông qua các mối quan hệ này và sở thích của họ

Công ty cũng cung cấp những công cụ để người dùng hạn chế đối tượng chia sẻ thông tin của mình cho những người thứ 3. Điều này được gọi là “cách người dùng kiểm soát thông tin của mình”. Tuy nhiên, đối với các cơ quan chức năng thì công cụ này là chưa đủ

Nhóm phụ trách về vấn đề này tại Nhà Trắng cho biết, họ ủng hộ những lựa chọn “không theo đuổi” các thông tin và chuyển động trực tuyến của người sử dụng các trang mạng xã hội

Jeffrey Chester, giám đốc điều hành trung tâm kỹ thuật số của Đảng Dân chủ cho rằng: vấn đề bảo mật các thông tin riêng của người sử dụng là một “quả bom nổ chậm” của Facebook, dù cho công ty này có chi bao nhiêu tiền cho các chiến dịch vận động hành lang đi nữa

Giáo sư Sunil Gupta của Harvard nhận định rằng: “Bảo mật có thể chính là gót chân Achilles của các công ty kinh doanh trong lĩnh vực này”

Facebook đang cố gắng vận dụng những giải pháp mà Google, Microsoft và Apple đã từng sử dụng trong việc giải quyết các vấn đề tương tự trước đây

Tuy nhiên, những cản trở này không làm chậm tốc độ tăng trưởng của Facebook. Doanh thu ước tính năm 2010 của trang mạng xã hội này có thể sẽ gấp đôi so với năm trước, lên 1,4 tỷ USD

Bên cạnh đó, Facebook cũng tiết lộ một thông tin thú vị là hầu hết các ứng cửa viên của Hạ viện và Thượng viện đều sử dụng mạng xã hội này để thuyết phục các cử tri trong cuộc bầu cử vừa qua

thoidaianhhung
12-29-2010, 10:57 AM
Mục tiêu của Trung Quốc tại Washington
Khôi phục hình ảnh

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào sẽ tới thăm Mỹ vào tháng tới. Giới phân tích cho rằng, ông cần xóa bỏ những “tổn thất” trong chính sách ngoại giao. Chuyến công du chính là lúc để kiểm soát những tổn thất ấy

Thời báo Los Angeles giới thiệu bài viết của tác giả Barbara Demick

Chính phủ Trung Quốc hy vọng sẽ thay đổi một hình ảnh bị lu mờ vì những sai lầm trong chính sách đối ngoại. Nhà Trắng cho biết, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nhận lời mời từ Tổng thống Mỹ Obama và tới Washington ngày 19/1, có một bữa tiệc tối chính thức cùng lịch trình gặp gỡ ở phòng Bầu dục. Trung Quốc đã “giảm âm lượng” trong sự ủng hộ với Triều Tiên, thúc giục Bình Nhưỡng chấp nhận các thanh sát viên hạt nhân và kiềm chế trong phản ứng với Hàn Quốc

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/20101228153919_hocamdao.jpg
Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào

Nydailynews"Vào cuối ngày, ông Hồ Cẩm Đào cần một cuộc gặp thượng đỉnh thành công”, Michael Green, một cố vấn châu Á hàng đầu của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush, hiện là nhà phân tích tại Trung tâm Chiến lược và nghiên cứu quốc tế ở Washington, nói. Ông nhấn mạnh, tuy vậy “đó có thể là một chiến thuật hơn là sự công nhận thẳng thắn rằng, Trung Quốc cần thỏa hiệp”

Vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hầu như không có sai lầm, người Trung Quốc lại có những bước đi “lạc chỗ” không ngờ trong ngoại giao. Sự quả quyết của Bắc Kinh - trong cách hành xử trên trường quốc tế - đã làm lu mờ hình ảnh họ xây dựng và vun đắp lâu nay như một người khổng lồ hiền từ với sự thịnh vượng chỉ góp phần thúc đẩy giàu có của những nước láng giềng

Quan hệ mỏng manh

Những mối quan hệ được “chăm sóc” cẩn trọng giữa Trung Quốc với Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và nhiều quốc gia châu Âu dường như gặp rắc rối

"Chúng ta cần phải làm một số công việc khôi phục”, Thẩm Đinh Lợi, một chuyên gia quan hệ quốc tế tại Đại học Phúc Đán, Thượng Hải cho biết. "Trung Quốc cần khiêm nhường và nhã nhặn đánh giá sự giúp đỡ của Mỹ trong quá trình phát triển của mình và không nên sử dụng sức mạnh đang lên gây ra bất hòa”

Trong nhiều vấn đề khúc mắc, có chính sách tiền tệ của Bắc Kinh tạo lợi thế cho ngành xuất khẩu nhưng “không được lòng” các đối tác thương mại; việc Trung Quốc dường như ủng hộ vô điều kiện với Triều Tiên, đặc biệt là sau vụ quân đội Bình Nhưỡng nã pháo vào một hòn đảo của Hàn Quốc ngày 23/11 làm bốn người thiệt mạng

Theo Trung tâm nghiên cứu Pew tại Mỹ, tỉ lệ người Hàn Quốc tán thành Trung Quốc đã giảm từ 66% năm 2002 xuống còn 38%. Ít ngày sau vụ đấu pháo tại đảo Yeonpyeong, 92% người được hỏi nói rằng, họ thất vọng với phản ứng của Trung Quốc

"Hành xử của Trung Quốc đã tạo ra một xu thế bất lợi với chính nước này, dẫn tới việc tạo ra một khối chống Trung Quốc của Mỹ và các đồng minh”, Susan Shirk, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học California, San Diego nhận định. "Nó vụng về và phản tác dụng”

Chính sách cứng rắn

Theo Shirk, sự quả quyết quá mức của Trung Quốc gần đây là kết quả của sự “yếu đi” trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất, dẫn tới việc quyết định chính sách thuộc về tay bộ máy an ninh và tuyên truyền kiểu như quân đội

Đây là một ví dụ điển hình: phản ứng thái quá của Bắc Kinh trong vụ va chạm hồi tháng 9 giữa một tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản đã dẫn tới việc Nhật “đại tu” chính sách phòng thủ, với chỉ dẫn chủ chốt là thay đổi các tài nguyên tập trung về khu vực biển Hoa Đông. Tại Nhật Bản, 90% người được hỏi trong một cuộc điều tra dư luận hồi tháng 10 cho là quan hệ với Trung Quốc ở mức độ xấu, so với 45% trong năm 2009, theo kết quả thăm dò mà báo Yomiuri Shimbun đưa ra.
Hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông cũng đã đẩy nhiều quốc gia châu Á xích lại gần hơn với Mỹ. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với cả một khu vực biển rộng lớn cũng khiến Malaysia, Indonesia và Singapore lo lắng

Theo Shirk, một chính sách cứng rắn dường như càng gia tăng bởi cuộc đua quyền lực trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012, khi Chủ tịch nước, Thủ tướng và nhiều thành viên Bộ Chính trị sẽ là những người mới

Gần đây, đã xuất hiện những dấu hiệu cân nhắc lại ở Bắc Kinh. Tháng trước, Trung Quốc lặng lẽ nối lại việc vận chuyển đất hiếm sang Nhật. Quan chức nước này cũng nối lại hội đàm với giới quân sự Mỹ - hoạt động bị đình trệ trong gần như cả năm nay khi Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Sự thay đổi này đã được các quan chức Lầu Năm Góc đưa ra những bình luận tích cực

LOBBY.VN
01-06-2011, 10:51 PM
Lobby: Đừng biến công khai, minh bạch thành "móc ngoặc"

- Để đạt được các mục tiêu của mình, doanh nghiệp không chỉ ngồi chờ các cơ quan quản lý tạo ra "sân chơi, luật chơi" mà chính doanh nghiệp phải tạo dựng cho mình thế chủ động. Lobby, còn gọi là vận động hành lang, là một hoạt động quan trọng để phục vụ mục đích đó

Vận động hành lang (lobby) được lấy theo tên địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh quốc, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp hoặc với bất kỳ người nào để bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại Nghị viện

Lobby: điều kiện tiên quyết là công khai minh bạch

Nghĩa đen gốc tiếng Anh của Lobby là hành lang rộng của nhà Quốc hội, nhưng còn có nghĩa bóng rất thông dụng, đó là "vận động người có chức, có quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội..."

Tại một số quốc gia, vận động hành lang được luật pháp thừa nhận như một hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của lobby là phải diễn ra một cách công khai, minh bạch. Nếu không, đó sẽ chỉ là sự "móc ngoặc" để trục lợi giữa chính quyền và các nhóm lợi ích có liên quan

Các nước công nhận hoạt động lobby đều có luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tinh thần chung của các đạo luật là buộc những cá nhân/tổ chức lobby chuyên nghiệp phải đăng ký hành nghề và có báo cáo định kỳ, thường xuyên.

Pháp luật Mỹ công nhận lobby là một hoạt động hợp pháp, công khai và được điều chỉnh bởi ba bộ Luật: Luật Công khai Vận động hành lang (Lobbying Disclosure Code), Bộ Luật về Ngân sách Liên bang (Internal Revenue Code) và Luật Đăng ký Đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act)

Tại thủ đô Washington.D.C, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề: viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch

Các nước đồng minh của Mỹ như: Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật, Hàn Quốc... cũng có một đội ngũ lobby hùng hậu ở Mỹ

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho các hoạt động lobby ở Mỹ, do vậy đã có được mối quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc luôn đặc biệt phức tạp

Nhu cầu thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp

Trong quá trình hình thành và hoạt động, để đạt được các mục tiêu của mình, doanh nghiệp kinh tế không chỉ ngồi chờ các cơ quan quản lý tạo ra "sân chơi, luật chơi" mà phải thấy, chính doanh nghiệp, đại diện doanh nghiệp (hiệp hội) phải chủ động tạo dựng cho mình thế chủ động

Thế chủ động nói đến ở đây là "vận động hành lang". Vận động để nhằm sớm hình thành chính sách, đưa chính sách đó nhanh đi vào thực tế. Chính sách đó có lợi cho doanh nghiệp và thuận lợi cho quản lý, mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng

Có thể nói, đây chính là một nhu cầu thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp nói chung

Để làm được điều này thì trước hết, vấn đề đang quan tâm cần được nêu ra, cần được công khai tranh luận về các ý kiến của các bên khi tham gia và mỗi khi chuẩn bị đi đến kết luận cũng cần công bố cho xã hội biết để mọi người dân, với quyền giám sát của mình, thấy được sự cân nhắc đó là hệ quả tối ưu nhất, có lợi cho các bên

Vai trò của các hiệp hội là cần sớm chuyên nghiệp hoá hoạt động đóng góp xây dựng chính sách có liên quan tới lợi ích của doanh nghiệp kinh tế với tư cách như người phản biện, thể hiện sự công tâm và hướng tới phát triển

Đặc biệt là chủ động đề xuất, kiến nghị việc hình thành chính sách pháp luật cho doanh nghiệp thuộc hiệp hội của mình

Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, những hoạt động vận động hành lang của các doanh nghiệp để Chính phủ ra các quyết sách có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình diễn ra một cách công khai và có có tỉ lệ hoa hồng rõ ràng

Nhưng để thúc đẩy mọi hoạt động phát triển theo chiều hướng tốt, nhanh chóng đem lại lợi ích cho cộng đồng thì các doanh nghiệp phải dựa trên một nền tảng pháp lý rõ ràng. Chính những điều này đang đòi hỏi cần phải xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động vận động chính sách đối với doanh nghiệp

XUÂN THÀNH (http://vef.vn/2011-01-04-lobby-dung-bien-cong-khai-minh-bach-thanh-moc-ngoac-)

LOBBY.VN
01-07-2011, 10:12 PM
Em gái Thaksin chạy đua chức thủ tướng Thái Lan

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/tk11.jpg
Yingluck Shinawatra, em gái cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra

Em gái của cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra có thể là ứng viên của phe đối lập nước này cho chức thủ tướng trong cuộc bầu cử sắp tới

"Một số thành viên đảng Puea Thai đang ủng hộ Yingluck Shinawatra làm ứng viên ra tranh chức thủ tướng nhưng chúng tôi phải tham vấn và bỏ phiếu trong cuộc họp sắp tới của đảng", AFP dẫn lời Pormpong Nopparit, phát ngôn viên của Puea Thai, cho hay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/thaiksinjpg-041341.jpg
http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/yingluck.jpg

Yingluck, 43 tuổi, là em gái út của Thaksin. Nếu đắc cử, bà sẽ là nữ thủ tướng đầu tiên của Thái Lan. Bà hiện là chủ tịch tập đoàn bất động sản SC

Trước đó, báo chí địa phương cho biết Thaksin ủng hộ chọn cựu Bộ trưởng Thương mại Mingkwan Saengsuwan làm người đứng đầu Puea Thai

Ông cho biết đảng này có thể chọn ứng viên sau khi Thủ tướng Abhisit Vejjajiva, lãnh đạo đảng Dân chủ cầm quyền, giải tán quốc hội. Theo luật, việc này sẽ được thực hiện trước cuối năm nay

Thaksin nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân nghèo Thái Lan nhưng bị lật đổ trong cuộc đảo chính không đổ máu năm 2006

Chính trị gia tỷ phú Thái Lan Thaksin hiện sống lưu vong để tránh án tù vì tội tham nhũng. Ông còn bị truy nã vì tội danh khủng bố vì bị cho là kích động làn sóng biểu tình chống chính phủ ở Bangkok hồi năm ngoái

LOBBY.VN
01-11-2011, 01:23 PM
Lobby & Ngoại giao bán máy bay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/Boeing_787.jpg
Boeing 787 Dreamliner

Các nhà ngoại giao đã và đang kiêm luôn vai trò “tiếp thị” trong các thương vụ máy bay khổng lồ trên thị trường thế giới

Theo hàng trăm thư tín do WikiLeaks tiết lộ, các nhà ngoại giao Mỹ là một phần lực lượng bán hàng ở mức độ lớn hơn những gì người ta biết đến trước đây. Chuyện nước Mỹ giúp các công ty của họ làm ăn ở nước ngoài không phải là điều đáng ngạc nhiên, vì mỗi thương vụ tạo ra hàng ngàn việc làm, và rằng các đối thủ nước ngoài cũng làm như thế. Nhưng những tiết lộ của WikiLeaks cho thấy thực sự có một cuộc “chiến tranh bán hàng” giữa các nhà ngoại giao Mỹ và các đồng sự châu Âu

Những thỏa thuận cao cấp

Thỏa thuận mua máy bay Mỹ của Ả Rập Xê Út là một ví dụ rõ ràng nhất của “ngoại giao bán hàng”. Quốc gia này hồi tháng 11.2010 tuyên bố mua 12 máy bay Boeing 777 trị giá 3,3 tỉ USD

Theo WikiLeaks, cuối năm 2006, Israel Hernandez, một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, tự tay mang một lá thư của Tổng thống George W. Bush đến văn phòng của Quốc vương Abdullah, thúc giục ông này mua đến 43 máy bay Boeing để hiện đại hóa hãng hàng không Ả Rập Xê Út và 13 máy bay cho đội bay của hoàng gia nước này. Ông Abdullah đọc thư của ông Bush và tuyên bố máy bay Boeing là sự chọn lựa của ông. Quốc vương Ả Rập Xê Út cũng cho biết vừa từ chối mua 2 máy bay Airbus mới mà mua 1 chiếc Boeing đã qua sử dụng một thời gian

Nhưng trước khi cam kết trang bị một đội bay gồm chủ yếu là máy bay Boeing, vị vua xứ dầu mỏ có một yêu cầu. “Tôi yêu cầu ông về nói với ngài tổng thống và tất cả giới chức liên quan rằng tôi muốn có tất cả những công nghệ mà Tổng thống Bush có trên Air Force One”. Báo The New York Times dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận hồi tháng trước rằng Mỹ đã cho phép “nâng cấp” máy bay của Quốc vương Abdullah nhưng không cho biết chi tiết cụ thể “vì những lý do an ninh”

Yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ có một chỗ trên một chuyến bay trong tương lai của Cơ quan Hàng không và Không gian Mỹ được đưa ra đầu năm 2010, khi hãng Turkish Airlines đang xem xét mua đến 20 máy bay Boeing. Chính phủ Thổ nắm giữ chưa đầy phân nửa số cổ phần tại hãng, nhưng Bộ trưởng Giao thông vận tải Binali Yildirim nói rõ với Đại sứ Mỹ tại Thổ James F.Jeffrey rằng tổng thống nước này muốn có sự hỗ trợ cho chương trình không gian “mới ra ràng” cùng sự trợ giúp của Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) nhằm cải thiện an toàn hàng không. Trong thư gửi về Washington, ông Jeffrey viết rằng việc cho phép FAA giúp Thổ cải thiện an toàn hàng không và các chương trình thám hiểm không gian có thể làm lợi cho cả 2 nước. Thỏa thuận được công bố 1 tháng sau đó, khi Turkish Airlines đặt mua 20 chiếc Boeing

Sự thừa nhận

Theo The New York Times, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ và hãng Boeing, trong những cuộc phỏng vấn hồi tháng trước, thừa nhận vai trò quan trọng của Chính phủ Mỹ trong việc giúp họ bán máy bay, bất chấp một thỏa thuận thương mại được các lãnh đạo Mỹ và châu Âu ký kết cách đây 3 thập niên nhằm loại trừ sự can dự chính trị vào quá trình này

Ông Robert D.Hormats, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề kinh tế, cho biết nền kinh tế nước này ngày càng dựa nhiều vào việc xuất khẩu sang các nước đang phát triển ở châu Á, Mỹ La-tinh và Trung Đông. Vì thế, hoạt động thúc đẩy việc bán các hàng hóa cao cấp như máy bay đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của chính quyền Obama nhằm giúp nước này hồi phục từ tình trạng suy thoái. Boeing là đơn vị xuất khẩu số 1 của Mỹ. Mỗi tỉ USD doanh thu của hãng đồng nghĩa với việc tạo ra 11.000 việc làm ở Mỹ

Airbus thì thường không tiết lộ chi tiết các thương vụ của họ, nhưng một quan chức giấu tên của hãng thừa nhận ngoài các thỏa thuận quốc tế, việc mua bán “không hoàn toàn tách khỏi việc tạo lập quan hệ chính trị”. Theo WikiLeaks, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy hồi năm 2008 đã hủy chuyến thăm Bahrain nhằm bảo vệ thương vụ bán máy bay Airbus cho hãng hàng không Gulf Air sau khi biết nó đã bị Boeing “nẫng tay trên”

LOBBY.VN
01-16-2011, 02:41 PM
Bill Clinton vận động hành lang để đưa World Cup trở lại Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/clinton-mick-jagger.jpg
Bill Clinton

Cựu Tổng thống Bill Clinton sẽ trực tiếp tham gia vận động hành lang trước thời điểm FIFA bỏ phiếu kín chọn nước chủ nhà World Cup 2018 và 2022 đầu tháng 12 tới

"Tôi rất hân hạnh đại diện cho đất nước trong cuộc vận động tranh quyền đăng cai một sự kiện có tầm quan trọng, ý nghĩa lớn lao với người Mỹ và các công dân khác trên toàn cầu như World Cup", thông cáo của Clinton hôm qua có đoạn

Cựu tổng thống 64 tuổi trước đó đã đồng ý làm Chủ tịch danh dự của Ủy ban vận động đăng cai World Cup 2022 của Mỹ. Ở World Cup 2010, Clinton đã cùng một số nhân vật khác trong ban vận động của Mỹ sang Nam Phi dự khán một số trận. Tại đây ông đã tranh thủ tiếp xúc để thuyết phục các Ủy viên ban chấp hành FIFA về việc đưa World Cup trở lại Mỹ lần đầu tiên kể từ năm 1994

Theo thông cáo của Clinton, ông sẽ có mặt tại trụ sở FIFA tại Zurich ngày 1/12 tới để tiến hành vận động hành lang lần chót. Ông cũng sẽ tham gia vào phần thuyết trình cuối cùng của đoàn Mỹ với các Ủy viên ban chấp hành trước khi FIFA tiến hành bỏ phiếu kín chọn chủ nhà World Cup 2018 và 2002 vào ngày 2/12

"Tôi rất tâm huyết với cuộc vận động này, bởi qua đó tôi nhận thấy động lực đoàn kết mạnh mẽ của World Cup, giải đấu đưa mọi người không phân biệt tuổi tác, thành phần xã hội hay đức tin tôn giáo lại gần nhau", thông cáo của Bill Clinton nói thêm

Sau khi trở về từ World Cup 2010 ở Nam Phi, Bill Clinton đã dành rất nhiều thời gian làm việc với Ủy ban vận động Mỹ về các sáng kiến để ghi điểm cho kế hoạch đăng cai World Cup 2022. Theo ông, Mỹ có một lợi thế lớn trong cuộc đua khốc liệt này là sự sẵn có nhiều sân vận động hiện đại cùng hạ tầng giao thông phục vụ sự kiện ở các thành phố dự kiến đăng cai World Cup

Ngoài Mỹ, có 4 ứng viên khác có mặt trong vòng cuối cùng cuộc đua tranh quyền làm chủ nhà World Cup 2022 là Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Qatar. Trong khi đó, World Cup 2018 là cuộc đua giữa Anh, Nga, liên minh Bỉ - Hà Lan và liên minh Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha

LOBBY.VN
01-20-2011, 10:17 PM
Kinh nghiệm vận dụng lobby trong kinh doanh


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/image_gallery.jpg



Tại Hội thảo “Doanh nghiệp và hoạt động vận động hành lang” vừa diễn ra tại TP.HCM, các chuyên gia đã thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến vận động hành lang (lobby)

Theo GS. Stephen Walt (Mỹ), trong bối cảnh hiện nay của Mỹ, lobby là một hoạt động hoàn toàn hợp pháp. “Chúng tôi có một thể chế rất công khai về lobby. Một trong những yếu tố quan trọng của hoạt động này là hỗ trợ soạn thảo xây dựng luật”, GS. Stephen Walt nói

Tại Australia, lobby cũng được xem là hoạt động hợp pháp. Ông Alex Malley, Tổng giám đốc điều hành toàn cầu của Hiệp hội Kế toán - Công chứng CPA cho biết, ở Australia, lobby đem lại những tố chất tích cực cho hoạt động chính trị, thúc đẩy sự lành mạnh trong hệ thống chính trị

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó chủ nhiện Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cũng cho rằng, lobby là bộ phận của dân chủ hóa trong việc làm ra chính sách. Mặt khác, lobby giúp DN có thể nói ra những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình

Như vậy, lobby có khả thi ở Việt Nam không? Cần những điều kiện gì cho hoạt động này? Ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO (người có nhiều năm làm việc liên quan đến hoạt động lobby tại Mỹ) cho rằng, lobby là cần thiết trong cả chính trường lẫn thương trường

Kinh nghiệm qua vụ kiện chống bán phá giá cá tra tại Mỹ cho thấy, nếu không hiểu rõ hoạt động lobby của Mỹ, thì khi làm ăn với họ, DN Việt Nam sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Cụ thể, trong năm 2010, khi cá tra được vào danh sách 10 mặt hàng thuỷ sản ưa chuộng nhất nước Mỹ, lập tức, Hiệp hội Cá da trơn Mỹ (CFA) đã tung nhiều thông tin bôi xấu cá tra Việt Nam, cũng như lobby Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Chính phủ Mỹ. Vài tháng sau, DOC công bố quyết định sơ bộ tăng thuế chống bán phá giá từ 0% lên 130% với cá tra Việt Nam

Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng, trong vụ cá tra, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã khôn khéo lobby dựa vào đồng minh chính trong lòng nước Mỹ (những nhóm lợi ích có mâu thuẫn với nhau tại Mỹ). VASEP đã vận động Hiệp hội Cá da trơn Mỹ để đấu tranh cho việc này, nhờ đó đã đạt được những thắng lợi nhất định…

Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng, lobby là vấn đề cần thí điểm, chứ chưa thể đưa vào luật. “Cho phép lobby mà chưa có luật thì rất nguy hiểm. Hoạt động này cần phải làm thí điểm. Đó phải là kết quả hội ý của rất nhiều bên có lợi ích liên quan, như đại diện của các cơ quan nhà nước, các DN, hiệp hội DN, đại diện các tổ chức quần chúng…”, bà Ninh nói

LOBBY.VN
01-21-2011, 07:16 AM
Không ngại chuyện Mỹ bị nhóm lợi ích Trung Quốc “lobby”

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/LAD0938.jpg

GS Stephen Walt nhận định trong buổi trực tuyến với VietNamNet rằng chắc chắn sẽ có một số nhóm lợi ích liên quan đến doanh nghiệp, muốn chính sách dễ dàng và thỏa hiệp với Trung Quốc, tuy nhiên còn có nhóm lợi ích lớn hơn rất nhiều, họ sẽ biết nước Mỹ phải làm gì

Việt Nam có thể trở thành nhà hòa giải hiệu quả

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Ông nói phải đến Việt Nam để nhìn Việt Nam tận mắt xem thế nào. Vậy trong vòng mấy ngày ngắn ngủi thôi, ông thấy Việt Nam như thế nào ?

GS Stephen Walt: Tôi nhìn thấy rất nhiều điều ở đất nước các bạn. Điều đầu tiên tôi cảm nhận được đó là một nguồn năng lượng cực kỳ dồi dào và những tiềm năng vô cùng lớn để Việt Nam có thể đạt được những thành công nhiều hơn những gì các bạn đã đạt được. Tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy rất nhiều nơi ở Tp.HCM và ở Hà Nội có một mức độ phát triển cực kỳ đáng kể

Một điều tôi cũng cảm thấy bất ngờ và ấn tượng không kém đó là rất nhiều người dân Việt Nam có kiến thức và hiểu biết rất đáng kể về các vấn đề quốc tế, các vấn đề chính trị, kinh tế cũng như ngoại giao

Tôi nghĩ đó là một dấu hiệu rất tốt. Còn 2 điều nhỏ nữa mà tôi đã trải nghiệm được. Thứ nhất là các món ăn ở Việt Nam cực kỳ ngon. Vấn đề thức ăn ngon cũng không ngạc nhiên lắm vì ở Mỹ tôi cũng đã từng ăn món ăn Việt Nam rồi nhưng một vấn đề không hay lắm đó là vấn đề giao thông. Tôi thấy giao thông ở các thành phố Việt Nam còn tệ hơn giao thông ở Boston - thành phố mà tôi đang sống

Ở Boston thì ngày nào tôi cũng đạp xe đi lại thế nhưng nếu tôi thử đạp xe ở Việt Nam có lẽ tôi chỉ đi được khoảng 5 phút là cùng

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Việt Nam rõ ràng muốn làm bạn với các nước và muốn đóng góp vào thế giới, có trách nhiệm với thế giới để thế giới có trách nhiệm với mình. Nhưng về kinh tế và quân sự, Việt Nam không có nhiều khả năng. Vậy theo ông, Việt Nam sẽ làm gì để thể hiện vai trò trách nhiệm của mình với thế giới. Một nước không thể chỉ có nhận mà phải cho, vậy Việt Nam có thể cho thế giới điều gì trong tương lai ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất hay. Một việc mà Việt Nam có thể làm được một cách rõ ràng đó là chủ động và tích cực tham gia một cách có trách nhiệm vào các thể chế hợp tác trong khu vực

Ví dụ như ASEAN, Việt Nam phải chứng tỏ mình là một thành viên có khả năng lãnh đạo cũng như có những đóng góp mang tính xây dựng đối với những thể chế khu vực này. Việt Nam cũng cần phải cố gắng cải thiện uy tín và hình ảnh của mình trước thế giới, làm sao để thế giới luôn nhìn nhận Việt Nam là một đối tác trung thực, thẳng thắn, minh bạch trong bất cứ cuộc thương thảo nào

Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ rất nhiều nước đã chứng minh được rằng họ có thể trở thành những đối tác tốt đối với thế giới, bất chấp họ không phải là nước mạnh hay có quá nhiều những tiềm lực trong thế so sánh với các nước khác, ví dụ như Canada, NaUy, Thụy Điển ... Họ đều là những đối tác cực kỳ tin cậy trên thế giới cho dù họ không phải những nước lớn, không phải những siêu cường

Việt Nam có thể nhìn vào những nước đó để học tập và tìm được cảm hứng để có thể trở thành một nước tương tự như thế. Chắc chắn không ai mong muốn Việt Nam trở thành người lãnh đạo thế giới, ít nhất là trong tương lai gần thế nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành bạn của tất cả các nước trên thế giới bằng cách hành xử trung thực, có trách nhiệm và minh bạch với tất cả các quốc gia khác

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Ngoài ra, Việt Nam có thể đóng vai trò là trung gian hòa giải giữa các quốc gia, giữa các dân tộc trên thế giới trong các cuộc xung đột hay không, khi Việt Nam là một nước cũng đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ rằng điều này hoàn toàn có thể xảy ra và Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành người kiến tạo hòa bình cho thế giới bởi lý do như ông đã nêu ra. Việt Nam biết rõ hơn ai hết cái giá của chiến tranh, vì thế họ có thể giúp cho các nước trên thế giới hiểu được về cái giá của những cuộc chiến đó

Việt Nam có thể trở thành người trung gian hòa giải hiệu quả trong một số cuộc xung đột nhất định, đặc biệt là những cuộc xung đột mà Việt Nam không có liên hệ trực tiếp gì về lợi ích. Nếu Việt Nam tăng cường năng lực của các cán bộ ngoại giao và cán bộ chính quyền, tôi nghĩ rằng việc này hoàn toàn có thể thực hiện được

Mỹ không thể bị lobby bởi nhóm lợi ích Trung Quốc

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Bây giờ quay trở lại chuyện lobby. Ông là một chuyên gia nổi tiếng về lobby, có cuốn sách rất nổi tiếng về lobby. Vậy liệu nước Mỹ có bị thay đổi chính sách chiến lược của mình như ông đã nói bởi những nhóm lobby hay không ?

GS Stephen Walt: Ở Mỹ, các nhóm lợi ích là một hiện tượng cực kỳ phổ biến, sự tác động và ảnh hưởng của họ đến chính quyền cực kỳ lớn. Trong xã hội Mỹ có rất nhiều loại nhóm lợi ích và mỗi nhóm đều có phương cách riêng của họ để tác động đến các chính trị gia theo hướng có những chính sách lợi cho họ

Có thể lấy ví dụ như thế này, một số nhóm lợi ích quyền lợi của họ liên kết chặt chẽ với các chính sách quân sự như các công ty sản xuất vũ khí, hay các công ty buôn bán vũ khí. Các nhóm lợi ích về kinh doanh cũng có sự ảnh hưởng lớn ở Mỹ, họ sẽ không từ biện pháp nào để có thể tác động sao cho các chính sách và bộ luật đưa ra sẽ đứng về phía họ trong việc giúp họ làm ăn có lãi và kiếm thêm nhiều tiền hơn

Một ví dụ mà chính người Việt Nam cũng có thể nhìn thấy đó là hiệp hội các nhà chăn nuôi cá Da Trơn ở Mỹ, các bạn có thể nhìn thấy ngay tác động của họ như thế nào thể hiện qua vụ bán phá giá cá Basa Việt Nam. Ngoài ra còn có thể kể đến các nhóm lợi ích liên quan đến các sắc tộc, các dân tộc, tức là các nhóm người từ các nơi khác đến nước Mỹ nhưng họ vẫn có những lợi ích gắn chặt với đất nước quê hương của họ. Họ cũng là những nguồn tác động rất lớn tới chính quyền Mỹ

Cũng không thể không nhắc đến những nhóm các nhà hoạt động chính trị với những mục tiêu cụ thể, ví dụ như những người hoạt động về nhân quyền, những người hoạt động về môi trường. Chắc chắn cũng phải kể đến vai trò của những học giả và trí thức lớn ở Mỹ. Họ cũng là những nguồn có thể lobby với chính quyền

Tất cả những nhóm lợi ích này dù là cá nhân hay tập thể, họ đều có thể tham gia các hoạt động chính trị của Mỹ và có thể gây áp lực đến chính quyền phải thay đổi những chính sách. Để xác định nhóm lợi ích nào có tác động lớn nhất lại không phải một vấn đề phổ biến, nó phụ thuộc vào từng vấn đề được đề ra

Ví dụ vấn đề kinh doanh hay kinh tế thì các nhóm lợi ích liên quan đến các doanh nghiệp sẽ có tiếng nói lớn. Hoặc các vấn đề liên quan đến chính trị hoặc nhân quyền thì các nhóm hoạt động về nhân quyền cũng sẽ có tiếng nói lớn và cũng tương tự như các vấn đề khác

Nếu như bối cảnh hoặc vấn đề trở nên nguy hiểm, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia thì vai trò của những nhóm lợi ích này sẽ giảm xuống. Khi đó chính trị gia sẽ chủ động và quyết định điều gì là có lợi cho đất nước. Họ sẽ quyết định không phụ thuộc vào bất cứ nhóm lợi ích nào

TBT Nguyến Anh Tuấn: Có lẽ như thế người ta sẽ đỡ lo lắng hơn khi các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia của Mỹ có mặt tại Trung Quốc. Sẽ ra sao nếu họ vì lợi ích của Trung Quốc mà sẵn sang lobby ngược lại để các chính sách có lợi cho Trung Quốc ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ không cần quá lo ngại về vấn đề này. Một mặt nước Mỹ rất muốn có mối quan hệ tốt về thương mại với Trung Quốc để hai bên cùng có thể thu được lợi nhuận. Thế nhưng những lợi ích về kinh tế đó cũng không thể ngăn cản được nước Mỹ hành động để bảo vệ lợi ích chiến lược của mình trong trường hợp Trung Quốc có thể đe dọa đến Mỹ

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Đúng như thế nhưng nhiều người vẫn lo ngại rằng, những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp, các ông chủ các doanh nghiệp họ quan tâm đến lợi ích rất nhiều. Như vậy, với lợi ích đó, lợi nhuận đó, họ bỏ tiền ra lobby, vận động tranh cử cho vị tổng thống nào đó. Vị tổng thống đó sau này lại phải trả lại hoặc có những hỗ trợ về chính sách chọ họ hay không ?

GS Stephen Walt: ...Cũng nên lo lắng nhưng cũng vừa phải thôi. Có một điều chắc chắn là bất cứ ứng cử viên nào muốn trở thành Tổng thống Mỹ đều không muốn đưa vị trí của nước Mỹ trở thành số 2 trên thế giới. Tất cả các nước đều muốn giàu nhưng các nước cũng muốn an toàn, an ninh

Chắc chắn sẽ có một số nhóm lợi ích liên quan đến doanh nghiệp, muốn chính sách dễ dàng và thỏa hiệp với Trung Quốc, tuy nhiên còn có nhóm lợi ích lớn hơn rất nhiều, họ sẽ biết nước Mỹ phải làm gì. Mặc dù Trung Quốc là một nước lớn nhưng họ cũng chỉ là một quốc gia, Mỹ làm ăn và giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới

LOBBY.VN
01-21-2011, 02:36 PM
Muốn vận động hành lang phải có tiền ?


Ở Mỹ phí vận động hành lang thường rất cao. Phòng Thương mại Mỹ chỉ tiêu tốn khoảng 20,8 triệu đô-la cho hoạt động vận động hành lang năm 2001 và đã tăng lên thành 72,7 triệu đô-la cho năm 2006. Khi "Lobby" đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ, thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay gây ảnh hưởng tới việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này, đặc biệt là quốc gia có quan hệ thương mại với Mỹ

Vận động hành lang là một bộ phận chính đáng, hợp pháp của thiết chế dân chủ, giúp cho các ý nguyện của cử tri, nhóm lợi ích đến được với chính quyền một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất; giúp mang những vấn đề quan trọng đến với bàn họp của nghị viện...

Ở Việt Nam vận động hành lang không có hàng rào pháp lý nên vẫn có nhiều hành vi của các thương nhân, doanh nghiệp tác động đến chính quyền tỉnh, trung ương như kiến nghị giảm thuế, thuyết phục chính phủ hỗ trợ đầu tư, cho thuê đất v.v... ở ở góc độ nào đó là lobby. Đối với những hoạt động hiện nay như thế này, khó khăn về tài chính khiến trên 70% các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam không đủ, thậm chí không có ngân sách, hơn nữa kỹ năng vận động hành lang không chuyên nghiệp, đa số bị biến thái thành hình thức hối lộ, "đi cửa sau"

Chúng ta đã chứng kiến những thất bại của mình khi bị các doanh nghiệp Mỹ kiện bán phá giá nhiều sản phẩm. Trong cuộc chơi này, rõ ràng chúng ta cần biết luật chơi vận động hành lang của Mỹ để doanh nghiệp Việt Nam không bị thất bại hay lép vế trước các chính sách Mỹ đưa ra

Nhưng như tựa đề bài viết luật sư Thân đã nói, để lobby cho hiệp hội các nhà xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ chúng ta phải chi khá nhiều tiền cho những điều đáng ra không phải chi này. Vậy chúng ta nên làm gì ?

Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần cân đối hai thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu để giảm thiểu rủi ro với các giao dịch thương mại có thể bị kiện tục bởi những chính sách của chính phủ nước nhập khẩu

Mặt khác các doanh nghiệp cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa đối với chính sách và sự thay đổi chính sách thuế quan và phi thuế quan để có biện pháp giao thương phù hợp

Chúng ta đã có quan hệ thương mại với Mỹ thì cần thiết và nhất quyết nên sử dụng dịch vụ pháp lý của các luật sư, ít nhất là hạn chế rủi ro, nhiều hơn là tránh được bị kiện tụng, không bỏ lỡ cơ hội thị trường tiềm năng và rộng lớn như Mỹ. Các luật sư thương mại công ty luật MTon và nhiều luật sư thương mại khác của Việt Nam cần phải tích cực hơn nữa giúp doanh nghiệp Việt Nam thấy rõ nhu cầu này

Chúng ta trả thù lao tư vấn cho luật sư tính ra chỉ bằng 5-10% thậm chí ít hơn so với việc khi chúng ta bị thiệt hại do bị áp thuế cao hoặc phải bỏ tiền ra thuê luật sư kiện ngược lại ra WTO. Thay vì dụng dịch vụ tư vấn pháp lý, nếu phí đó dùng vào việc lobby sản phẩm thì lợi nhuận thu lại có khi còn gấp rất nhiều lần

Rõ ràng tiền bỏ ra để lobby ở Mỹ không hề đắt chút nào, còn tiền trả thù lao cho luật sư tạo ra động lực cho các chính sách đó được ban hành nhanh hơn bởi doanh nghiệp và chính phủ Mỹ thường đánh giá cao và “kiêng nể” các doanh nghiệp đưa luật sư vào cuộc

Trên thực tế, đối với các tranh chấp thương mại, một luật sư không thể xử lý hết các vấn đề liên quan mà thường phải tổ hợp luật sư. Trong tổ hợp luật sư của công ty luật MTon Việt Nam còn có cả luật sư bản địa tham gia nên cũng có nhiều lợi thế khi “xung trận”. Nhưng phải nói chính doanh nghiệp và luật sư rất mệt mỏi nếu chẳng may phải tham gia tố tụng trọng tài hay tố tụng tòa án đối với các tranh chấp phát sinh. Vì vậy mong rằng các doanh nghiệp Việt Nam sớm thức thời và mời luật sư tham gia từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng

Luật sư Đào Xuân Thân (Công ty luật MTon Việt Nam) (http://www.mtonlawfirm.vn/index.php?option=com_co ntent&view=article&id=78:muon-van-dong-hanh-lang-phai-co-tien&catid=38:vu-viec-phap-ly&Itemid=49&lang=vi)

LOBBY.VN
02-05-2011, 06:39 PM
Chủ tịch HĐQT Alphanam
Xây dựng "Nguồn lực quan hệ" là rất quan trọng

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/mrHai1.jpg
Ông Nguyễn Tuấn Hải - Chủ tịch HĐQT Alphanam Group

Đầu xuân, chúng tôi đã có buổi trò chuyện khá cởi mở với ông Nguyễn Tuấn Hải - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Alphanam, về những trải nghiệm của 1 doanh nhân thành công

Alphanam không phải là 1 cái tên xa lạ, tuy nhiên ông Hải lại rất ít xuất hiện trên truyền thông. Hỏi ông về điều này, ông dí dỏm nói "ăn thì không nói, nói thì không ăn, vừa ăn vừa nói là nghẹn"

Xin chào ông, đầu tiên xin ông cho biết tại sao ông chọn tên doanh nghiệp là Alphanam ? Và cái tên đó liên quan gì tới triết lý điều hành doanh nghiệp của ông ?


Khi xây dựng công ty, lúc đó trong suy nghĩ của tôi đã hình thành ra một số tiêu chí để xây dựng một thương hiệu không phải chỉ cho một đời mình mà còn phải tồn tại hàng trăm năm, giống như các thương hiệu ở Tây

Chẳng hạn như đặt tên cho Công ty là phải không có dấu để bất kỳ nước nào cũng có thể đọc được và dưới 8 chữ cái (Theo một tiêu chí quốc tế)

Tôi đặt chữ A đầu là theo vần Anpha – hàm ý là luôn có tham vọng là người đứng đầu

Bên cạnh đó, triết lý của tôi là xây dựng một chuỗi lợi ích đồng hành. Mối quan hệ là xây dựng theo nguyên tắc công bằng

Tôi có công thức điều hành riêng trong vấn đề quản trị nhân sự 80% - 20%. Điều đó có nghĩa là 80% nhân sự cần ổn định, và 20% nhân sự là cần đào thải, thay thế liên tục

Ông đánh giá thế nào về xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, và Alphanam phải chuẩn bị những gì cho xu thế đó ?

Khi Việt nam gia nhập vào WTO, là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chúng tôi càng thấm thía được thời cơ và thách thức của nó

Thấy được đối thủ của mình giờ cũng đã mang tầm quốc tế, và bắt đầu phải đối mặt thực sự. Tôi luôn suy nghĩ trong mình khi hoạt động trên thương trường khi đối mặt với đối thủ là phải đánh thắng hoặc là cầu hòa chứ không để thua. Nếu đánh thắng được thì phải quyết tâm đánh thắng bằng được, nếu thấy không thể đánh thắng thì nhất định phải cầu hòa

Cụ thể, với sản phẩm thang máy Fuji thì Anphanam hiện nay là đứng số 1 tại Việt Nam về doanh thu, sơn Anphanam thì vượt qua nhiều đối thủ nhưng còn rất nhiều khó khăn trước những đối thủ khác đến từ Nhật, và chúng tôi đang liên doanh với một công ty của Nhật Bản để gia tăng sức mạnh cho mình

Ông có thể chia sẻ những khó khăn nào đáng nhớ nhất của những ngày đầu khởi nghiệp của mình ?

Tôi thì lại cho rằng, ngày đầu khởi nghiệp là quãng thời gian thuận lợi nhất. Lúc đó, tài sản của tôi bắt đầu từ con số 20.000 USD vào năm 1995. Tôi tiến hành thành lập công ty, những khoản chi phí lớn nhất lúc đó là thành lập doanh nghiệp, chi lương cho anh em, và mua tấm biển của Công ty hoành tráng (cười)

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh lại tốt, năm sau cao gấp nhiều lần năm trước. Tôi cho rằng, ngày đầu thành lập nghiệp của tôi rất là tốt, vào thời gian đó đất nước mới mở của nên thế hệ của chúng tôi có rất nhiều thuận lợi

Bây giờ hoạt động kinh doanh mới thấy khó khăn hơn, và mức độ khó thì ngày càng tăng lên theo thời gian

Kỷ niệm ấn tượng nhất là khi tôi định hướng chiến lược phát triển cho Công ty trong 5 năm đầu tiên thành lập, và đó là chiến lược tôi cho rằng rất đúng đắn. Từ bước đột phá đó, tôi mới có được thành công của Anphanam ngày hôm nay

Lúc đó tôi thực hiện chiến lược với 3 tiêu chí:

- Đầu tiên là làm thương mại tốt, xây dựng mối quan hệ, khách hàng và lựa chọn sản phẩm

- Sau đó là đầu tư vào mảng dịch vụ

- Cuối cùng là hoạt động sản xuất

Với chiến lược phát triển công ty 5 năm đầu như vậy, chúng tôi đã gặt hái được rất nhiều thành công, chỉ trong 4 năm Công ty đã lọt vào top 10 doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất Việt Nam

Khi những thuận lợi của cơ chế mở cửa ban đầu nhanh chóng qua đi, ông tiếp tục vận dụng những gì để xây dựng Alphanam thành công ?

Mỗi một giai đoạn, Anphanam trải qua những khoảnh khắc khó khăn khác nhau, vượt qua cái “Nguy” rồi tiến tới cái “Cơ”. Những điều mà Alphanam có được như ngày hôm nay đều là quyết tâm xây dựng được đội ngũ trí thức trẻ ngay từ ngày đầu tiên của Ban lãnh đạo Công ty

Trong hai nguồn lực mà bất kỳ CEO nào cũng quan tâm và chú trọng đó là tài chính và nhân lực. Thì còn một nguồn lực khác cũng rất quan trọng mà các sách lý thuyết bắt đầu phải nhắc đến đó là “nguồn lực quan hệ”

Anphanam cũng không nằm ngoài mối quan tâm đó, và xây dựng "nguồn lực quan hệ" trên 3 tiêu chí:

- Tin cậy: Quan hệ bằng chữ “Tín”

- Hợp tác cùng có lợi – Chuỗi lợi ích đồng hành

- Vận dụng chính sách, cơ chế, thời cơ,…đây là mối quan hệ đặc thù của Việt Nam

Mỗi một cá nhân, tổ chức có những cách xây dựng các mối quan hệ bằng cách khác nhau, mục tiêu khác nhau. Alphanam có cách xây dựng riêng của mình, và trong tương lai việc xây dựng những mối quan hệ này ngày càng quan trọng hơn

Quay trở lại với câu chuyện của Alphanam năm 2010, thương vụ phát hành cho đối tác chiến lược GEM và trái phiếu không chuyển đổi lợi tức 15% cho MB (NH Quân đội) đều có vẻ khá trục trặc, ông có thể nói rõ hơn ?

GEM là trường hợp đáng tiếc khi cả hai bên đã đi đến thống nhất được rất nhiều việc, nhưng quả thực là khâu thủ tục hành chính tại Việt Nam đã làm cho đối tác Mỹ rất bức xúc

Phía đối tác GEM của Mỹ cho rằng họ rất khó khăn khi vào thị trường Việt Nam. Phải mất 6 tháng họ mới có thể mở được tài khoản tại Việt Nam sau khi đã qua rất nhiều thủ tục. Và trong khoảng thời gian lập tài khoản đó, diễn biến thị trường đã có nhiều thay đổi, khi đó giá mua của GEM là giá 90% giá thị trường. Với 90% giá thị trường bây giờ thì HĐQT của Công ty không muốn bán cho GEM với mức giá đó nữa

Về phía GEM thì họ đã ký một hợp đồng tổng thể 3 năm, trong bất kỳ thời điểm nào mà mình muốn bán thì chỉ cấn phát hành thư. Gói hợp đồng đó có giá trị 579 tỷ đồng (tương đương 30 triệu USD) trong vòng 3 năm

Thương vụ này không phải là chấm dứt hẳn mà chỉ tạm thời dừng lại do giá cổ phiếu rẻ, nên chúng tôi chưa quyết định bán trong thời điểm này.

Về phát hành trái phiếu cho MB, câu chuyện này lại cũng bắt nguồn từ nguyên nhân thủ tục chính sách. Lúc mà làm thủ tục thì MB đồng ý mức 15%. Nhưng qua các lần đại hội, các thủ tục cần xin thì lại mất 3-4 tháng

Tại thời điểm đó lãi suất 12-13% thì 15% có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay lãi suất là 19-20% là quá cao cho nên vụ phát hành đã không thành công

Hiện nay, cả Alphanam và MB đang có những bước tiến quan trọng trong đàm phán lại lãi suất. Có thể thời điểm ra Tết Nguyên đán thì sẽ phát hành lại

Năm 2010, Alphanam đã thực hiện 1 thương vụ M&A khá "lặng lẽ" với Công ty viễn thông Thăng long (TLC), ông đánh giá thương vụ này thế nào? và nhận xét của ông về xu hướng này trên thị trường trong thời gian tới ?

Về TLC, nói thật đây là 1 sai lầm trong lĩnh vực đầu tư tài chính của tôi trong năm nay. Chúng tôi đã đánh giá sai về TLC, hiện nay công ty này không còn gì đáng giá. Lỗ lũy kế lên đến 100 tỷ, dây chuyền máy móc lạc hậu không đáng giá, đất cát thì đi thuê và giấy tờ pháp lý vẫn chưa hoàn thiện. Có thể nói là chúng tôi sẽ phải vực lại DN này từ con số âm

Tuy nhiên, cái còn lại của TLC là có sự thuận lợi về ngành nghề mà chúng tôi có thế mạnh như cáp, sản xuất điện,…

Chúng tôi phải thay máu cho doanh nghiệp này, thay đổi lại nhân sự chủ chốt , đẩy doanh nghiệp hoạt động lành mạnh hơn, minh bạch hơn. Sau khoảng 3 năm thì TLC mới có thể hoạt động kinh doanh có hiệu quả lại được. Nhưng tôi tin là chỉ 3 năm TLC sẽ trở thành 1 công ty tốt

Làn sóng M&A trên thị trường trong thời gian tới sẽ hết sức hấp dẫn. Thị trường chứng khoán chính niềm tin và sự sợ hãi, niềm tin của người này thì cũng là sợ hãi của người khác và ngược lại

Khi niềm tin đầu tư lướt sóng trên thị trường chứng khoán không còn hấp dẫn, không thu lại được lợi ích gì như mong muốn. Người ta sẽ chú trọng đến việc đầu tư giá trị hơn. Lúc đó, M&A, thôn tính, sáp nhập sẽ diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, sẽ xảy ra hai loại sáp nhập và thôn tính.

Ông có thể cho biết thêm về kế hoạch tái cấu trúc Alphanam và tăng vốn điều lệ từ 438 tỷ lên 1979 tỷ ? tại sao phải tái cấu trúc và việc đó sẽ gây ra ảnh hưởng gì tới công ty ?

Thực chất Alphanam Group đang hoạt động trên 3 lĩnh vực chính là sản xuất công nghiệp, bất động sản và đầu tư tài chính (chủ yếu là M&A). Trong đó, khối sản xuất công nghiệp (hiện đang có 2 công ty niêm yết với mã chứng khoán là ALP và AME) của Alphanam được biết đến nhiều nhất với thương hiệu như thang máy Fuji, sơn Alphanam, còn hai khối không nằm trong khối niêm yết là lĩnh vực về đầu tư và bất động sản của Alphanam thì còn chưa được nhiều người biết đến

Chính vì thế, năm 2011 là năm chúng tôi tái cấu trúc lại hệ thống của Alphanam, có thể sẽ có hai hoặc ba khối sáp nhập lại với nhau. Hiện chúng tôi đang thuê đơn vị tư vấn để thực hiện nhiệm vụ này

Với việc tái cấu trúc này, thứ nhất là các mô hình công ty sẽ mang tính chuyên môn hóa cao. Các đơn vị sẽ chuyên biệt về các mảng của mình như đầu tư tài chính, bất động sản, sản xuất công nghiệp,…

Thứ hai là, trong quá trình mua bán công ty trong 4 năm vừa qua thì nhiều công ty có hai, ba chức năng trong cùng một công ty, bây giờ phải tái cơ cấu lại để những công ty này trở thành công ty chuyên môn hóa

Các công ty con sẽ hoạt động chuyên môn hóa và sẽ niêm yết dần trên thị trường chứng khoán. Hệ thống Alphanam sẽ có thế mạnh hơn khi được tạo dựng với thế kiềng ba chân vững chắc

Mong muốn của ông trong những năm tới với Alphanam ?

Tôi cho rằng, cái được của Alphanam ngày hôm nay chưa nhiều nhưng cũng đã lớn hơn nhiều bản thân mình mơ ước

Tham vọng của cá nhân tôi không quá lớn, chỉ cần Công ty phát triển ổn định và bền vững, tồn tại lâu dài là nguyện vọng số 1. Ước mơ chi tiết hơn là cái gì mà Alphanam đã làm là phải trở thành số 1 ở Việt Nam

Chẳng hạn như thang máy Fuji là số 1, sơn thì đang còn nhiều khó khăn trước đối thủ từ nước ngoài. Còn đối với bất động sản thì để trở thành số một là hơi khó, tuy nhiên, tôi cũng đang đi những bước đi đầu tiên để lọt vào Top đầu ở Việt Nam

Xin hỏi ông 1 câu nữa, ngoài công việc ông có sở thích cá nhân gì? Ông thường làm gì khi không làm việc ?

Khi tôi không làm việc, tôi thường dành thời gian cho gia đình, tôi có hai sở thích đó là Shoping (mua sắm cho mình và cho gia đình) và nâng cao chất lượng cuộc sống cho gia đình. Hiện nay tôi đã bắt đầu dọn sang nơi ở mới sau 3 năm xây dựng, tòa nhà biệt thự có phong cách khá độc đáo, nổi bật tại phố Mai Hắc Đế

Trường Giang - Kiều Thuật (http://cafef.vn/2011020512329232CA36/chu-tich-hdqt-alphanam-xay-dung-nguon-luc-quan-he-la-rat-quan-trong.chn)

LOBBY.VN
02-08-2011, 11:27 PM
AOL bỏ ra 315 triệu đô mua blog Huffington Post

Từ một trang blog cá nhân của Arianna Huffington, nhà báo Mỹ gốc Hy Lạp, Huffington Post trở thành tâm điểm của các tranh luận chính trị Hoa Kỳ, và nay được tập đoàn AOL mua lại với giá 315 triệu đô la

Dự kiến việc chuyển giao quyền sở hữu sẽ hoàn tất vào tháng 3 hoặc 4/2011, tùy theo quyết định của giới chức Mỹ quản lý về các vụ mua bán trong ngành truyền thông

Tuy thế, theo bà Arianna và người cùng sáng lập, Kenneth Lerer, blog Bấm Huffington Post sẽ vẫn tiếp tục việc đưa tin, từ tin đồn thổi trong giới danh nhân, văn nghệ sĩ, đến tin chính trị hành lang Washington.

Bà Arianna Huffington sẽ nắm luôn chức tổng biên tập của Huffington Post Media Group được lập ra với vốn của AOL.

Quan điểm nghiêng về phía tả của trang blog này cũng sẽ không đổi, theo lời các nhân vật chủ trương.

Các mục ẩm thực, nấu bếp, văn học cũng sẽ vẫn được tiếp tục.

Ra đời năm 2005, trang này đã có những khách mời 'thứ dữ' viết cho như Barack Obama, Hillary Clinton, Madonna.

Đây hiển nhiên là một trong các lý do vì sao trang blog, thường được người Mỹ gọi là HuffPo, trở nên thành công đáng ngạc nhiên.

Nhưng điều khiến blog này ăn khách còn là vì nó tạo dựng được một lượng đông đảo thân hữu trên mạng, kết nối và đóng góp ý kiến, quan điểm, bình luận.

Ước tính mỗi tháng HuffPo đăng tới 4 triệu lời bình luận khác nhau, trở thành 'mỏ vàng' cho ai muốn tìm hiểu không khí chính trị Mỹ.

Hiện trang này đã thu hút nhiều người đóng góp ở dạng blog kết nối, hoặc bài bằng video (vlog).

Ước tính trong vòng sáu năm qua, HuffPo đã có 25 triệu bạn đọc thường xuyên hàng tháng trên toàn cầu

Nay, tập đoàn truyền thông AOL có tham vọng dùng HuffPo làm căn cứ để xây dựng dịch vụ 'khổng lồ' với số khách hàng họ muốn đạt được là 270 triệu người dùng một tháng

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/110207104045_sp_huffing ton_getty_226x170_getty.jpg
The Observer tặng cho bà Arianna Huffington danh hiệu 'blogger nhiều quyền lực nhất thế giới'

'Đầy quyền lực'

Nhưng thành công của HuffPo không thể có nếu nó không phải là con đẻ của bà Arianna Huffington.

Được báo Anh, tờ The Observer tặng cho danh hiệu 'blogger nhiều quyền lực nhất thế giới', bà ra đời ở Hy Lạp, có tên là Arianna Stassinopoulos trong một gia đình bố là chủ báo.

Tốt nghiệp đại học Cambridge, bà sang Mỹ làm báo và lấy chồng là một chính trị gia.

Trang blog bà lập ra ban đầu chỉ mang tính cá nhân nhưng dần nổi tiếng từ dịp ông Barack Obama ra tranh cử tổng thống năm 2008.

Cách đưa tin và quan trọng hơn là cách tạo ra một mạng liên kết cho người cùng thế hệ, chia sẻ sở thích và quan tâm chính trị Mỹ khiến trang Huffington Post trở thành điểm đến không thể thiếu của chính giới Washington.

Nay, trang này đã phát triển thành một mạng lưới, với cú làm ăn mới nhất là chuyên trang về Brazil.

Đây là lần đầu tiên Huffington Post vươn ra nước ngoài dù rằng trang chính ở Mỹ đã có nhiều chuyên mục về các nước.

Chẳng hạn ngoài chủ đề Cuộc chiến Việt Nam thường xuyên được nhắc lại thì Huffington Post cũng có Bấm chuyên trang về Việt Nam.

Bài về vụ ông Bấm Christian Marchant bị xô đẩy ở Huế cho đến hôm 7/1 đã thu hút 468 bình luận.

Nhưng cách phát triển của trang blog này cũng không chỉ dựa vào chính trị

Năm ngoái, Huffington Post liên kết với cây bút Nora Ephron ở Hollywood để ra chuyên mục tập trung vào chủ đề ly hôn

Hiện cũng có những ý kiến e ngại về khả năng thành công của thương vụ mới này do AOL chủ trương

Ông Steve Case, người đồng sáng lập AOL, nói trên trang Twitter của mình rằng vụ liên kết không thành với Time-Warner là điều cần chú ý

Hồi 2000, tập đoàn AOL đã kết hợp với Time-Warner nhưng không đạt kết quả mong muốn và hai bên lại phải chia tay năm 2009

LOBBY.VN
02-09-2011, 12:58 PM
Có còn tình bạn phía sau chính trị ?

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/congress-chuan.jpg

Không có gì ngạc nhiên khi thấy các thành viên lão làng trong Quốc hội Mỹ giờ đây thường hoài nhớ về “những ngày xưa tươi đẹp”, khi mà mối giao hảo giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa còn là điều phổ biến

Họ kể về chuyện Dan Rostenkowski, một thành viên đảng Dân chủ trong Quốc hội khi đó, thường lái xe về nhà ở Chicago vào mỗi cuối tuần cùng với hai "ông bạn" trong đảng Cộng hòa là Bob Michel và Harold Collier. Họ rời nhiệm sở từ tối thứ Năm và thay nhau lái xe suốt đêm - một người cầm lái, một người khác có nhiệm vụ trông chừng người lái khỏi ngủ gật, người còn lại ngủ trong thùng xe

Tối Chủ nhật, cả ba lại cứ thế lái xe đi. Đó là thời điểm những năm 1960; khi ấy, trong mỗi kỳ làm việc của Quốc hội, các nghị sĩ chỉ được thanh toán tiền đi về một vài lần. Ba thành viên của hai đảng đối lập này đã tạo dựng được một tình bạn đẹp, vượt qua mọi mâu thuẫn về tư tưởng bởi họ, nhất là Rostenkowski và Michel, đều vươn lên nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội

Rồi tới đầu những năm 1970, khi George McGovern đứng trước Thượng viện lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam và chỉ trích rằng Thượng viện đã "tanh mùi máu"; còn Bob Dole, một cựu chiến binh thương tật trong Chiến tranh Thế giới II, đáp lời lại bằng thái độ cũng không kém phần gay gắt. Tuy nhiên, sau đó mọi người lại thấy hai người này cùng nhau tay trong tay đi dạo và cười nói vui vẻ như những người bạn thân thiết

Tới thập niên 1980, giữa hai nhà tư tưởng người Ai-len Ronald Reagan và Tip O'Neill - một người bảo thủ gay gắt, còn một người theo đường lối tự do lạc hậu, nổ ra cuộc tranh cãi về "linh hồn dân tộc". Khi các đề xuất cắt giảm thuế của tổng thống Reagan được đưa ra bàn luận tại Quốc hội, O'Neil chỉ trích: "Ông ta không lo lắng, quan tâm gì tới người dân cả. Tôi hiểu điều đó chứ, bởi vì với cách sống của mình, ông ta chẳng đời nào đi gặp gỡ, tiếp xúc với họ cả". Đáp lại, tổng thống cho rằng O'Neil đã có những lời lẽ nhằm "mụ mị dân chúng"

Ngày hôm sau, khi tổng thống gọi cho Tip để xoa dịu bầu không khí căng thẳng, Tip nói: "Ông bạn già ơi, đó là chuyện chính trị mà. Sau 6 giờ chúng ta có thể là bạn, nhưng trước 6 giờ, giữa chúng ta chỉ có chính trị mà thôi"

Sau khi Reagan qua đời, trên tạp chí US News & World Report số ra năm 2004, Gloria Borger trích lời Rostenkowski kể về những lần ngài tổng thống mời các thành viên đảng Dân chủ tới Nhà Trắng "sau 6 giờ"

Rostenkowski nhớ lại: "Reagan thường mời 6-7 người trong số chúng tôi tới Nhà Trắng chỉ để tán chuyện gẫu. Một lần, Reagan mặc áo khoác kẻ sọc và mời tôi uống rượu Campari; tôi bèn nói với ông ấy là nếu ông không có rượu gin thì tôi sẽ ra ngoài mua một ít ". Về chuyện công việc, vị chủ tịch ủy ban xây dựng chính sách thuế này kể: "Tôi bảo với tổng thống rằng: ông và tôi có thể làm nên lịch sử đấy". Đó là giai đoạn đầu của thời kỳ cải cách thuế. Rosty nói: "Thật đáng buồn là giờ đây những người này (tại Washington) giận dữ tới mức họ còn không thèm nói chuyện với nhau nữa", cho dù là sau 6 giờ

Nhưng đó là chuyện của những ngày xưa. Đã qua lâu rồi cái thời người ta hoạt động chính trị hăng say vào ban ngày và tối về lại trở thành bạn hữu. Cái nhận thức rằng mục tiêu chung đôi khi có thể lớn hơn những khác biệt đảng phái dường như đã trở thành một quá khứ quá đỗi xa xôi

Mới đây, cùng vào một buổi tối nhưng trong những cuộc mạn đàm khác nhau tại Washington, Joe Califano - nhân vật không thể thiếu trong chính quyền của cả hai tổng thống Johnson và Carter - và Bill Frist - lãnh đạo khối đa số của đảng Cộng hòa trong Thượng viện - cùng có những quan điểm giống nhau khi đưa ra nhận xét về bầu không khí hiện nay trên nghị trường. Cả hai cùng nói: "Washington là một thành phố đổ vỡ"

Hai người chỉ ra những mâu thuẫn giữa hai đảng đang tồn tại phổ biến ở đồi Capitol. Họ và những chính khách lâu năm khác ở Washington đều nhất trí rằng sự mâu thuẫn này không phải là điều gì mới mẻ trong chính phủ Mỹ - nó tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước này

Tuy nhiên, hiện nay có một số yếu tố, xét cả về mặt xã hội và cơ cấu, càng làm sâu sắc hơn sự mâu thuẫn truyền thống này, không những gây ảnh hưởng tới mối quan hệ hợp tác chính trị và tinh thần nhân nhượng lẫn nhau mà còn xâm phạm đến bầu không khí hòa thuận, và thậm chí là cách hành xử lịch thiệp cơ bản giữa hai đảng

Kết quả của những mâu thuẫn chính trị sâu sắc này là, các thành viên của Quốc hội và Thượng viện giờ đây đã đi tới chỗ đặt vị trí chính trị gia của mình lên trên vai trò nhà lập pháp

Charles Gibson là người dẫn chương trình nổi tiếng của kênh ABC, ông là nhà nghiên cứu năm 2010 tại Trung tâm báo chí, chính trị và chính sách công Shoreinstein thuộc Đại học Harvard


THỦY NGUYỆT - SHOREINSTEIN, ĐH HARVARD (http://vef.vn/2011-02-08-nuoc-my-co-con-tinh-ban-phia-sau-chinh-tri-)

LOBBY.VN
02-15-2011, 04:27 PM
Vận động hành lang phát triển máy bay ném bom mới


- Theo Defense News, không quân Mỹ đã quyết định giảm yêu cầu đối với dòng máy bay ném bom tầm xa mới, dự án sẽ được Lầu Năm góc cung cấp nguồn tài chính phát triển từ năm 2012. Khi đề cập tới chương trình phát triển “Gia đình các hệ thống hàng không”, bao gồm cả việc phát triển máy bay ném bom tầm xa mới, Tư lệnh lực lượng không quân Mỹ Norton Schwartz tuyên bố: “Chúng tôi không cần những cỗ máy hàng không tương tự như trước đây”

Theo ông N. Schwartz, việc giảm thiểu các yêu cầu đối với máy bay ném bom tầm xa tương lai sẽ giúp không quân Mỹ quản lý hiệu quả hơn quá trình phát triển loại vũ khí này. Trong khi đó, các công ty tham gia vào quá trình phát triển máy bay ném bom mới sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí. “Chúng ta sẽ quản lý chương trình này dễ dàng hơn”, ông N. Schwartz nhấn mạnh. Cũng cần nhấn mạnh rằng, một trong những yêu cầu đối với dự án phát triển máy bay ném bom tầm xa mới là dòng vũ khí này được thiết kế theo kết cấu modune

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/11022011son10180316840. jpg
B-52H Stratofortress

Nhờ kết cấu modune, không quân Mỹ sẽ dễ dàng bổ sung các loại vũ khí, trang bị mới cho máy bay ném bom tương lai với chi phí tối thiểu. Ngoài ra, kết cấu modune cũng giúp đơn giản hóa quá trình bảo trì, bảo dưỡng và nâng cấp

Tháng 4-2009, Lầu Năm góc đã tuyên bố, quân đội Mỹ cần phải từ bỏ những yêu cầu truyền thống đối với máy bay ném bom tầm xa. Theo đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đã quyết định dừng kế hoạch phát triển máy bay ném bom thế hệ mới. Tới tháng 9-2010, ông N. Schwartz lại tuyên bố, trong vài năm tới, quân đội Mỹ sẽ được tiếp nhận máy bay ném bom tầm xa mới với vai trò là một phần của “Gia đình các hệ thống hàng không”

Cuối năm 2010, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu Bộ Quốc phòng Mỹ giảm chi phí quốc phòng khoảng 100 tỉ USD trong vòng 5 năm tới. Tuy nhiên, đầu tháng 1-2011, sau việc Trung Quốc thử nghiệm chiến đấu cơ thế hệ 5 J-20 và triển khai các tổ hợp tên lửa đạn đạo đối hạm DF-21D, Lầu Năm góc đã “mạnh tay” chi tiền cho dự án máy bay ném bom tầm xa thế hệ mới

Hiện tại, thông tin cụ thể về việc phân chia nguồn tài chính cho các dự án thuộc chương trình “Gia đình các hệ thống hàng không” vẫn chưa được công bố. Được biết, lực lượng ném bom tầm xa của không quân Mỹ hiện là 65 máy bay ném bom B-1B Lancer, 20 B-2A Spirit và 77 B-52H Stratofortress

LOBBY.VN
02-19-2011, 06:36 PM
Bàn về thực chất của Vận động hành lang


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/26.png

Để hiểu vận động hành lang ngày nay, tôi thiết nghĩ cần xem xét quá trình hình thành và phát triển của nó, đặt trong bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn của quá trình

Việc xem xét này chỉ đặt ra trước tiên “Ai cần đến vận động hành lang ?”. Người cần đến vận động hành lang lúc ban đầu phải chăng là những người dân bình thường, hoặc đại diện của họ, cần trình bày trực tiếp cho các vị nghị viện rõ những bức xúc của mình để các vị này bảo vệ quyền lợi của lớp người “dân đen”. Còn hiện nay, khi mà vận động hành lang đã trở thành một nghề nghiệp, những người cần đến vận động hành lang là ai ? Và những ai là người có phương tiện để thuê vận động hành lang ?

Cùng với các câu hỏi trên, phải chăng mục đích của vận động hành lang cũng đã thay đổi cơ bản, từ nguyện vọng của “dân đen” sang lợi ích của những “người có của” nhằm bảo vệ và giúp họ “có của” và “có quyền” hơn ?

Việc xem xét quá trình hình thành và phát triển còn giúp chúng ta nhận diện các tổ chức, cá nhân vận động hành lang. Họ là ai ?

Theo tôi, họ là những người trung gian. Bản chất trung gian là một hằng số của vận động hành lang. Thay đổi chăng là lúc ban sơ của vận động hành lang, họ làm không vụ lợi, giúp cho người dân, còn ngày nay, họ sống với “nghề vận động hành lang”

Họ kinh doanh gì? Thực tế cho thấy, họ kinh doanh mối quan hệ mà họ đã thiết lập được, những hiểu biết luật pháp mà họ có, và sự nhạy bén của họ trong đón bắt tình hình. Dĩ nhiên, các tổ chức, cá nhân vận động hành lang từ đó cũng xây dựng cho mình một “thương hiệu” như có thể thấy ỏ Hoa Kỳ chẳng hạn

Một đặc trưng khác là do tính chất trung gian và kinh doanh các mối quan hệ, nghề vận động hành lang làm phát sinh vận động dây chuyền.
Đối tượng vận động hành lang của họ là ai ? Dĩ nhiên là các tổ chức, cá nhân vận động hành lang nhằm vào là những người có quyền thế, có thể làm thay đổi tình thế bằng lá phiếu của mình hay bằng quyết định của mình

Mặt tiêu cực của vận dộng hành lang: Có những điều cấm và có hình phạt quy định trong các luật của các nước ở đó vận động hành lang được luật pháp công nhận. Điều này tự nó đã gián tiếp thừa nhận là có mặt trái, có tiêu cực trong vận động hành lang nhưng liệu những điều luật cấm và các chế tài có triệt tiêu được các tiêu cực, thay đổi được mặt trái hay không ? thiết nghĩ cần đi vào bản chất của hoạt động vận động hành lang

Với việc vận động hành lang, hình thành một lớp người trung gian giữa thiết chế nhà nước và công dân. Lớp người này chịu trách nhiệm trước ai ? Trách nhiệm của họ phải chăng dừng lại ở các bản kê khai theo quy định của pháp luật ?

Chính tầng lớp trung gian xen vào giữa thiết chế nhà nước và công dân, và trách nhiệm không rõ ràng của tầng lớp trung gian này làm giảm tính minh bạch và công khai của bộ máy nhà nước

Vận động có thù lao, nghề kinh doanh vận động hành lang rất gần với hối lộ và nhận hối lộ. có thể nói hay không rằng kinh doanh vận động hành lang về thực chất là hành vi hối lộ và nhận hối lộ được pháp luật công nhận

Vì tính dây chuyền của nó, thực trạng này sẽ phổ biến trong xã hội mà người thừa hưởng là ai ? nạn nhân là ai ? Với tính toàn cầu hoá, liệu nghề kinh doanh vận động hành lang và các tiêu cực của nó mang theo có xuyên biên giới hay không ?

Không phải không có lý khi có người nói rằng luật pháp càng rắc rối, nghề vận động hành lang càng khó có đất màu mỡ để hoạt động. Cùng luồng suy nghĩ này, một câu hỏi có thể được đặt ra: có mối tương quan giữa việc một quốc gia có hệ thống pháp luật án lệ với việc quốc gia đó công nhận nghề vận động hành lang hay không? Tương tự, có mối tương quan nào giừa việc các quốc gia có hệ thống pháp luật la-tinh (thành văn) với việc không công nhận nghề vận động hành lang hay không ?

Khi những nhà tài phiệt thông qua vận động hành lang để đạt được những lợi ích của mình, đó có phải là “sự lũng đoạn Nhà nước” hay không ? nhất là khi, hiểu theo nghĩa rộng rất thông dụng, “vận động hành lang là vận động người có chức có quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội”...

Với tiến bộ của công nghệ thông tin, “Chính phủ điện tử”, “Nhà nước điện tử” được triển khai ngày càng rộng khắp trên thế giới nhằm tăng cường tính trực tiếp, minh bạch và công khai giữa Nhà nước và công dân, theo yêu cầu của dân. Ngay cả các đại biểu dân cử, nếu không nâng cao năng lực của mình, tăng cường tiếp xúc cử tri để nắm bắt nguyện vọng và các vấn đề bức xúc mà họ đang gặp, thì vai trò của họ cũng sẽ giảm. Trong bối cảnh này, nghề vận động hành lang có nên tồn tại hay không ?

Đối với Việt Nam, nghề này chưa được luật pháp công nhận, trong bối cảnh như vậy và trong lúc chúng ta triển khai Luật phòng, chống tham nhũng theo ý tôi, luật pháp không nên công nhận nghề vận động hành lang

GS - TSKH Nguyễn Ngọc Trân
Phó chủ nhiệm UB đối ngoại Quốc hội Đại biểu Quốc hội khóa XI (http://speri.org/index.php?act=newsdetail&pid=5&nid=296&id=749)

LOBBY.VN
03-03-2011, 10:58 AM
Mubarak chi 2 triệu USD/năm vận động hành lang ở Mỹ


- Hệ thống ABC News tiết lộ chính quyền Ai Cập chi hàng năm ước lượng 2 triệu USD để vận động hành lang tại thủ đô Hoa Kỳ và nay các nhân vật đứng đầu kỹ nghệ này đang lặng lẽ ứng phó với tình thế mới khi biến động hưá hẹn kết thúc quyền lãnh đạo gần 30 năm của tổng thống Mubarak

Chính quyền Cairo mướn những người có giao thiệp rộng rãi với chính giới Washington, chính thức ghi danh với Bộ tư pháp Hoa Kỳ như là nhân viên ngoại quốc, để đại diện vai trò ít đuợc biết đến nhưng nhiều quyền lợi

Trong số những người nhận đuợc giao kèo lớn với Cairo có nhà vận động Tony Podesta của đảng DC và cựu thủ lãnh CH Hạ Viện Bob Livingston.
Hôm Thứ Ba, cựu dân biểu DC của Connecticut, ông Toby Moffett được 2 Bộ ngoại giao và quốc phòng Ai Cập muớn năm 2007, đã kể ra với phóng viên những việc thông lệ công ty làm nhân danh chính quyền Cairo, nay phải chuyển hướng bất ngờ

Ông Moffet nhận rằng khi biến động nổ ra ở Tunisia, các nhà vận động hành lang chưa nhận thấy tính khẩn cấp, và trong tuần qua còn tính toán bắt đầu các giao tiếp với các nhà lập pháp mới

Nhóm bận rộn nhất là PLM đã có 147 cuộc tiếp xúc tại Capitol Hill

Ngoài ra, theo hồ sơ của Foreign Lobbying Influence Tracker, tính từ năm 2007, các công ty khác nhau đại diện Cairo đã tiếp xúc với các viên chức Hoa Kỳ 1783 lần

LOBBY.VN
03-22-2011, 09:50 AM
Vận động hành lang ảnh hưởng lớn đến chính sách nguyên tử Nhật Bản

Cùng với thảm họa Fukushima, nhiều vấn đề đã nổi lên về chính sách hạt nhân của Nhật. Tuy vậy, đã một tuần lễ trôi qua kể từ khi thảm họa xảy ra, hiện tại giới truyền thông của nước này vẫn còn tỏ ra dè dặt một cách đáng ngạc nhiên. Le Monde giải thích uẩn khúc trên với bài viết . Sức mạnh của việc vận động hành lang ủng hộ hạt nhân làm tiêu tan mọi ý định tranh luận về chủ đề này

Theo Le Monde, nguyên nhân cốt lõi nằm trong lòng Bộ Công Thương Nhật Bản, bộ được giao trách nhiệm phát triển lĩnh vực hạt nhân để đảm bảo sự độc lập về năng lượng của đất nước. Ồng Taro Kono, nghị sĩ đảng Tự do Dân chủ đối lập, đã nhấn mạnh về « mối liên hệ mật thiết giữa bộ này và các công ty năng lượng ». Những mối liên hệ này nhằm mục đích để cho những quan chức thuộc Cơ quan Năng lượng Nhật Bản có được chỗ làm ở các công ty năng lượng sau khi về hưu

Lĩnh vực hạt nhân vốn đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Chín tập đoàn điện lực, đứng đầu là Tập đoàn Điện lực Tokyo (TEPCO), dĩ nhiên kiếm được rất nhiều tiền. Từ đó, họ dùng tiền để bôi trơn cho các dự án hạt nhân mới. Le Monde cho biết, hiện tượng này đã có từ lâu. Năm 1982, chính quyền một thành phố ở miền trung Nhật Bản đã được đề nghị nhận 1 triệu yên (8,8 triệu euro) để chấp nhận việc xây dựng một nhà máy hạt nhân

Các công ty điện lực cũng đầu tư nhiều cho chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông. Bởi thế, nên khi có vấn đề xảy ra, thì truyền hình cũng ít đề cập đến. Trong khi đó, đa số các nhà báo phụ trách vấn đề hạt nhân đều thuộc Câu lạc bộ Báo chí của Bộ Công Thương. Vì thế, họ phải nể mặt nhau, và khi có xì-căn-đan, thì họ cũng có đề cập tới nhưng không hề đặt vấn đề về chính sách hạt nhân của nhà nước

Tình hình hiện tại không thuận lợi cho việc thảo luận về đề tài hạt nhân. Có lẽ chính sách hạt nhân hiện tại vẫn tiếp tục và không người nào dám làm điều ngược lại

Tháng 8/2009, đảng Dân chủ của ông Naoto Kan đã kết thúc hơn 50 năm cầm quyền của Đảng Dân chủ Tự do, để chiếm đa số trong Quốc hội. Thế nhưng việc này cũng không làm thay đổi được những chính sách có từ trước, do đảng Dân chủ cầm quyền phần lớn phải dựa vào các nghiệp đoàn. Trong khi đó, ở Nhật Bản, nghiệp đoàn năng lượng rất có ảnh hưởng

Trong bối cảnh đó, thật khó có thể khơi dậy được những vấn đề về mật độ dày đặc của các nhà máy hạt nhân trên một đất nước có nguy cơ động đất cao, về hiện tượng tồn đọng rác thải phóng xạ ở các nhà máy hạt nhân, hay việc thảo luận xem Nhật có phải từ bỏ năng lượng hạt nhân hay không

Điều này khó thể xảy ra, trừ khi kịch bản xấu nhất ở Fukushima trở thành hiện thực. Thế nhưng, một chuyên gia cho rằng, nếu có đặt vấn đề về chính sách hạt nhân, thì việc đó cũng đến từ sức ép của của dân, chứ không phải từ nhà nước

LOBBY.VN
04-04-2011, 01:14 PM
Lobby không phải dùng tiền mua luật

Nhà lobby có đạo đức là người đảm bảo hai phẩm chất: trung thực và liêm khiết. Bốn thành viên Nghị viện châu Âu (EP) vừa bị nêu đích danh trong một vụ bê bối “trả tiền lấy luật” đang được đăng tải trên trang nhất nhiều tờ báo ở khắp các nước EU

Mặt trái của lobby ?

Cơ quan báo chí đầu tiên đưa tin về sự việc là Sunday Times - tờ báo thuộc sở hữu của ông vua truyền thông Rupert Murdoch. Giữa lúc tâm lý hoài nghi về EU đang dâng lên ở châu Âu, Sunday Times nêu rõ tên cả bốn vị nghị sĩ dính vào bê bối: Pablo Zalba (Tây Ban Nha), Zoran Thaler (cựu Bộ trưởng Ngoại giao Slovenia), Ernst Strasser (cựu Bộ trưởng Nội vụ Áo) và Adrian Severin (cựu Phó Thủ tướng Romania)

Các phóng viên điều tra của Sunday Times đã đóng giả làm người của một công ty lobby “ma” lấy tên là “Taylor Jones Public Affairs” và tìm cách gặp riêng 60 trên tổng số 736 thành viên Nghị viện châu Âu. 14 trong 60 nghị sĩ đã đồng ý gặp họ. Trong 14 người đó, bốn người (tương đương 6%) đã chấp nhận đề nghị của các nhà lobby giả trang là đề nghị thay đổi một vài điều luật về ngân hàng của EU, theo hướng không bảo vệ cho người tiêu dùng. Đổi lại, bốn nghị sĩ được hưởng một khoản gọi là phí tư vấn

Ông Ernst Strasser, dù tuyên bố rằng mình không làm gì sai, đã từ chức để không làm tổn hại uy tín chính phủ Áo như lời ông nói. Ông cũng cho biết phải từ chức bởi vì “ở Áo đã nổi lên một chiến dịch chống lại tôi”. Lãnh đạo đảng của ông yêu cầu ông rút lui ngay lập tức khỏi mọi cương vị chính trị: “Mọi lời biện minh của Ernst Strasser cho đến lúc này hoàn toàn là vô nghĩa”

Vụ bê bối khiến bộ phận dư luận sẵn có tâm lý ngờ vực đối với EU càng thêm ngờ vực. Sự phẫn nộ trút vào giới lobby (vận động chính sách). Có ý kiến cho rằng “Nghị viện EU toàn là những nhà lobby”. Ngày 21-3, tổ chức Spin Watch trực thuộc Liên minh Minh bạch Chính sách và Đạo đức Lobby (ALTER-EU) công bố một báo cáo nhằm vào Goldman Sachs. Tập đoàn tài chính hùng mạnh này bị lên án vì nhiều lãnh đạo của họ có quan hệ rất thân thiết với giới hoạch định chính sách ở Âu châu. Ví dụ cựu Chủ tịch Richard Sharp là người thân cận với Thủ tướng Anh George Osborne và là một trong những nhà cố vấn cho đảng bảo thủ về vấn đề cắt giảm chi tiêu ngân sách. Bên cạnh đó, Golman Sachs còn thân thiết cả với những think tank (*) nào có quan hệ gần gũi với chính phủ của đảng bảo thủ ở Anh. Ông Richard Sharp là thành viên quản trị của một think tank có tên là Trung tâm Nghiên cứu Chính sách


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/12-chot.jpg
Chân dung nghị sĩ Ernst Strasser (cựu Bộ trưởng Nội vụ Áo) và Adrian Severin (cựu Phó Thủ tướng Romania)

Goldman Sachs từng thuê nhiều công ty lobby để giúp họ gây ảnh hưởng chính sách cả ở Anh lẫn EU. Tháng 10 năm ngoái, họ ký hợp đồng làm ăn với Công ty PR Hanover của một người từng là thư ký báo chí của cựu Thủ tướng John Major

Nhiều người bắt đầu đặt vấn đề thắt chặt hơn hoạt động lobby. ALTER-EU kêu gọi bổ sung thêm nhiều điều luật mới, thậm chí ban hành cả luật cấm những hành vi lobby nào có thể dẫn đến xung đột về lợi ích giữa các nghị sĩ. Liên minh nhấn mạnh vụ bê bối “trả tiền lấy luật” càng làm rõ sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực của giới doanh nghiệp tham gia lobby vì giới này đã và đang thường xuyên ngăn cản những cải cách cần thiết trong các lĩnh vực chính sách xã hội, luật môi trường, luật bảo vệ người tiêu dùng: “Việc đầu tiên là nghị viện phải đảm bảo được rằng tất cả những người muốn tiến hành lobby để gây ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định của EU đều phải đăng ký và công bố thông tin đầy đủ chi tiết về việc họ lobby cho ai, lấy kinh phí từ đâu và tên tuổi các nhà lobby. Hiện tại, bản đăng ký nghề nghiệp không cung cấp những thông tin này và cũng không bắt buộc các nhà lobby phải tiết lộ thông tin”

Minh bạch để chống tham nhũng chính sách

Mặc dù có những bê bối, xu hướng chung vẫn là đề nghị điều chỉnh để tăng cường sự minh bạch của hoạt động lobby hay nói cách khác là thắt chặt hơn chứ không phải bác bỏ nó. Nghề lobby được phương Tây thừa nhận đã có từ thế kỷ 19. Lobby tức là vận động nhằm gây ảnh hưởng lên các quyết định của cơ quan lập pháp hoặc quan chức chính phủ. Việc lobby trực tiếp hoặc gián tiếp đối với những nhà làm chính sách là việc phổ biến và được coi là “biểu hiện của một nền dân chủ đa nguyên lành mạnh”, như một học giả tên là Philip Parvin từng viết trong một nghiên cứu năm 2007 của ông về lobby và dân chủ

Hiện tại, EU phân loại và xác nhận giới lobby bao gồm những thành phần sau: công ty tư vấn, công ty luật, hội nghề nghiệp, hiệp hội ngành hàng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức thiện nguyện, think tank và các nhà vận động hành lang

Minh bạch thông tin và đạo đức của nghề lobby là hai vấn đề mấu chốt và gây tranh cãi nhất xoay quanh tính hợp lệ, hợp pháp của nghề này. Về căn bản, nhà lobby có đạo đức là người đảm bảo hai phẩm chất: trung thực và liêm khiết. Tại một quốc gia mà hoạt động lobby rất phát triển là nước Mỹ, năm 2006, Thượng viện đã thông qua một đạo luật kiểm soát nghề lobby. Luật này cấm những người lobby không được biếu, tặng quà cho các nghị sĩ, thậm chí không được mời họ đi ăn; buộc người lobby phải thường xuyên giải trình chi tiết hoạt động của họ, đăng trên công báo

Tại Việt Nam, bàn về các vấn đề liên quan tới lobby và chính sách, chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh, thành viên Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc ĐH Quốc gia, cho rằng: “Quá trình hoạch định vĩ mô là một quá trình chịu ảnh hưởng từ rất nhiều các tổ chức khác nhau thông qua hoạt động lobby - đó là điều bình thường trong mọi xã hội dân chủ”. Để hạn chế mặt tiêu cực của nó (gây chia rẽ, xung đột lợi ích hoặc lạm dụng lobby để đạt mục đích có hại cho cộng đồng) thì lại càng cần… lobby, truyền thông chính trị, thảo luận chính sách nhiều hơn, miễn là phải minh bạch - ông Minh nhận định

Căn cứ vào những định nghĩa chung của một số nước trên thế giới thì các kiến nghị, tác động của nhiều hiệp hội, tổ chức đến các bộ, ngành, quan chức nhà nước nhằm tạo sự thay đổi về chính sách thời gian qua ở Việt Nam đều có thể được gọi là lobby. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế hay bất cứ một luật nào đối với hoạt động này. Cho đến nay, lobby ở Việt Nam thuần túy là sử dụng quan hệ cá nhân một cách không minh bạch. Một số chuyên gia cho rằng nếu không sớm luật hóa hoạt động lobby, rất có thể khái niệm “lobby” rồi sẽ bị công luận đánh đồng với những việc làm khuất tất, tiêu cực, “đi cửa sau”, mà như vậy thì oan cho lobby quá

Hoàng Thư (http://phapluattp.vn/20110402121138107p1017c1079/ lobby-khong-phai-dung-tien-mua-luat.htm)

LOBBY.VN
05-26-2011, 07:22 AM
Lợi ích từ... các nhóm lợi ích

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/ResizedImage600182-14653-Lobbying-banner-2_1306295320.jpg

Vấn đề bây giờ, đối với những nhà cách mạng thời 60's, không còn là thay đổi xã hội nữa, mà là thay đổi chính mình để được gia nhập vào các nhóm lợi ích

Trong sự bất ổn của tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay, nhiều mũi dùi đang nhắm về những "nhóm lợi ích". Các mạng truyền thông trên khắp thế giới thường mang khuynh hướng "xã hội" và "dân nghèo" nên mục tiêu đả kích của họ tới những nhóm lợi ích mà họ cho rằng đang đại diện của các tầng lớp giàu có, quyền lực là chuyện dễ hiểu. Các xã hội Âu Mỹ cũng vậy. Khi giá xăng dầu lên cao chút đỉnh, là lợi nhuận của các công ty như Exxon, Chevron... bị đem ra mổ xẻ, phê bình

Mọi xã hội mỗi đều thích đem những người thương gia giàu có ra để làm vật tế thần (tội tích trữ đầu cơ) mỗi khi giá thực phẩm lên vì lạm phát. Những chuyên gia kinh tế thì hiểu rất rõ lý do thực sự của nạn lạm phát, nhưng không mấy người muốn nói ra. Sự ganh tị và hèn nhát thường biến các vị trí thức này thành những cổ động viên cho các phong trào hời hợt của xã hội

Danh từ "Nhóm lợi ích"

Theo định nghĩa, nhóm lợi ích (interest group) là những nhóm vận động hành lang hay cửa hậu (lobby) để tạo ra hay thay đổi những luật lệ và cách thực thi có lợi cho phe nhóm mình, nhằm tạo dựng một vài đặc quyền, đặc lợi để thụ hưởng

Nếu lòng tham là một căn tính của con người, thì sự vận động để gia tăng lợi nhuận, tài sản hay quyền hành là một điều không sao tránh khỏi. Ngay cả trong lĩnh vực tôn giáo, nơi Đức Phật hay Chúa Jesus hay Giáo Chủ Muhammad luôn cảnh giác con người về vấn nạn của lòng tham, nhiều vị lãnh tụ tôn giáo cũng không ngừng tranh chấp về quyền lực và lợi lộc, qua các vận động lobby. Có thể nói là tại các nơi tôn nghiêm thiêng liêng này, các nhóm lợi ích vẫn đầy rẫy

Các nhóm lợi ích trong lịch sử

Trong thời đại phong kiến, một triều đình có nhiều nhóm lợi ích, nhưng họ cùng chia sẻ một mục tiêu: ảnh hưởng tối đa vào vị vua đang trị vì. Từ tên hoạn quan đến những gia đình quý tộc, tất cả mọi người đều chạy theo quyền lực để có bổng lộc từ hoàng cung. Những âm mưu sau ngôi vàng là những câu chuyện hấp dẫn nhất của thời này

Ngay cả Khổng Tử cũng phải dựa triết lý của mình trên căn bản Quân Sư Phụ (dân phải tuyệt đối trung thành và vâng lệnh Hoàng Đế vì ông ta "thế thiên hành đạo" = thay trời để cai trị)); và do đó, đạo Khổng đã được các thể chế phong kiến ở Á Đông ca tụng và phổ biến

Vào thời Trung Cổ ở Âu Châu, Vatican là trung tâm quyền lực của giáo hội Thiên Chúa. Các vị tu sĩ đã thao túng chi phối rất nhiều triều đình, từ Pháp, Áo đến Anh, Tây Ban Nha. Họ tạo nên những cuộc thánh chiến với đạo quân Thập Tự Giá nổi tiếng; rồi cũng chính họ đập tan nhóm quân này (the Templar knights) khi nghi ngờ về lòng trung thành của các tướng lĩnh

Các nhóm lợi ích trong xã hội ngày nay

Trong khi không ai chối cãi là các nước tư bản Tây Phương đã bị chi phối và có lẽ bị điều khiển bởi những nhóm lợi ích của tầng lớp doanh nhân giàu có, các quốc gia như Liên Xô, Trung Quốc vào thời chủ nghĩa xã hội cũng đối diện không ngừng với những đòi hỏi đằng sau hậu trường của những nhóm lợi ích từ đảng cầm quyền và các bè phái, gia đình có quan hệ

Các nhóm lợi ích hoạt động rất công khai ở các quốc gia Tây Phương và tuân thủ mọi luật lệ về vận động hành lang. Nổi đình đám và gây nhiều tranh cãi là những nhóm lợi ích vận động cho các doanh nghiệp, ngành nghề... và ngay cả các nhóm lợi ích cho các quốc gia khác, bạn và thù. Nhưng cũng không thiếu những nhóm lợi ích của các nhóm bảo vệ môi trường, tranh đấu cho lao động (do các nghiệp đoàn bảo trợ), hay những nhóm lợi ích xã hội như bảo vệ trẻ em, phụ nữ hay chống các tệ nạn mại dâm, ma túy, rượu chè... Khuynh hướng thân tả của các giới truyền thông tạo thêm một sức mạnh khá lớn cho phe nhóm này

Tại Mỹ, trong thập niên vừa qua, các nhóm lợi ích của người thiểu số (da đen, Á Đông, Hồi Giáo...), các nghiệp đoàn lao động, các nhóm môi trường, các cơ quan thiện nguyện cho người nghèo, các sinh viên, các cơ quan truyền thông phe tả... đã liên kết và đánh bại phe tư bản nòng cốt để đưa Tổng thống Obama lên nắm quyền cùng đa số thành viên đảng Dân Chủ tại quốc hội. Do đó, nếu nói chỉ có các nhóm lợi ích của người giàu có chi phối quyền lực ở Âu Mỹ thì đây là một định kiến sai lầm

Ở góc nhìn khác, ra khỏi Âu Mỹ, phần lớn các nhóm lợi ích từ các quốc gia mới nổi hay nghèo khó thường giới hạn vào những công ty lớn, những người giàu có muốn khuếch trương quyền lực và gia đình bạn bè phe nhóm của những người cầm quyền. Tuy nhiên, khi xã hội tiến bộ và con em của các nhóm lợi ích này thu nhập thêm kiến thức về thế giới bên ngoài, những thay đổi sẽ biến thể thành phần và mục tiệu của các nhóm lợi ích. Chỉ cần một Đặng Tiểu Bình và ít người trong nhóm lợi ích của ông đã xoay chiều hẳn nền kinh tế của Trung Quốc để bắt kịp theo đà tiến bộ của thế giới. Mặt khác, một Suharto hay Mubarak và phe nhóm đã làm trì trệ xã hội Indonesia và Ai Cập trong nhiều thập niên

Sự hiện diện của các nhóm lợi ích trong mọi xã hội

Nếu chúng ta nghĩ sâu xa về mọi hiện tượng, chúng ta sẽ nhận chân ra một sự thực khá phũ phàng: xã hội nào rồi cũng bị các nhóm lợi ích chi phối

Lịch sử 5000 năm từ thời ăn lông ở lỗ qua thời phong kiến khắc nghiệt đến xã hội Internet bây giờ, không lúc nào mà các nhóm lợi ích không ngừng chi phối và kiểm soát quyền lực. Trong 192 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, tôi chắc chắn là 192 chính phủ đều chịu ít nhiều sự kiểm soát của nhóm lợi ích

Nhận thức này có thể làm nhiều người kêu ca về sự thao túng luật lệ và quyền lợi quốc gia của các nhóm lợi ích, nhưng thực tế có tệ hại đến như vậy? Họ có gây ra những nguy hiểm và biến thái cho nền kinh tế tài chính hay làm suy đồi văn hóa quốc gia? Hay là vô tình, họ có thể đã tạo nên nhiều lợi ích cho xã hội ?

Vận hành cơ chế chính trị xã hội

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/s-LOBBYISTS-large_1306295314.jpg

Nếu lòng tham là động lực tạo năng động cho con người và từ đó, phát sinh ra những nhóm lợi ích, thì xã hội sẽ không thể vận hành nếu không có những lòng tham tập thể biểu hiện qua các nhóm lợi ích

Một quốc gia không có tham vọng cá nhân hay tập thể (vô vi như triết thuyết Lão Phật hay lè phè như đa số các người dân bản xứ Nam Mỹ), hay không có tham vọng về định mệnh dân tộc (cứ so sánh Mỹ và Trung Quốc với Đông Âu và Bắc Phi) sẽ là những xã hội không có nhiều phát triển về văn hóa, chính trị hay kinh tế. Các nhóm lợi ích trong xã hội thúc đẩy những tiến bộ về cơ chế, luật lệ và bộ máy hành chính... để tăng lợi nhuận cho phe nhóm họ, nhưng cũng vô tình, chúng làm cho xã hội năng động, cạnh tranh hơn

Tạo nên sự đa dạng của văn hóa

Thành phần chính của các nhóm lợi ích thường là những nhân vật được coi là "thành công" bởi đa số quần chúng. Sự say mê các tin tức, phóng sự về các siêu sao trên sân khấu, trên trường kinh doanh, trên sân vận động... là biểu hiện của sự ngưỡng mộ, và tạo dựng những tư duy mới, những thói quen mới, những trào lưu mới trên rất nhiều khía cạnh

Dĩ nhiên, những cái "mới" này, xấu hay tốt, còn tùy định kiến của mỗi người

Đóng góp vào phát triển kinh tế

Các nhóm lợi ích còn để những dấu ấn của mình qua các công trình có thể coi là lãng phí và quá độ với mức sống của người dân trung bình; nhưng qua trôi nổi của thời gian, những kiến trúc như Taj Mahal của New Delhi (ông vua xây tặng người vợ yêu vừa mất), hay tháp Eiffel của Paris (xây để làm biểu tượng cho một Hội Chợ trong vài tuần)... lại trở thành những điểm đến tượng trưng cho cả văn hóa xứ sở

Khi tôi nhìn các quảng cáo trên tạp chí Heritage của Vietnam Airlines về các biệt thự nghỉ dưỡng vài triệu dollars đang mọc lên tại Đà Nẵng hay Nha Trang, hay các tòa nhà cao ốc văn phòng tranh nhau thành điểm cao nhất của thành phố, tôi có thể nhận ra một phô trương sĩ diện vô cùng "phi kinh tế". Nhưng về lâu về dài, đây cũng là những tài sản đáng hãnh diện của một quốc gia

Thay đổi vì xung đột quyền lợi

Một đặc tính khác là vì lòng tham vô đáy, các nhóm lợi ích này không biết liên kết với nhau trên căn bản lâu dài; do đó, những trận chiến âm thầm sau bức màn nhưng luôn diễn ra không ngừng, và xã hội sẽ biến đổi theo những thắng thế của phe nhóm mạnh nhất. Nếu mục tiêu của nhóm lợi ích này phù hợp với sự đổi mới và tiến bộ của quốc gia, thì dân chúng vô cùng may mắn. Ngược lại, vấn nạn của xứ sở sẽ kéo dài, vì trên thực tế, đại đa số người dân không bao giờ đủ quyền lực và kiến thức để thay đổi một cơ chế, kể cả những nước dân chủ Tây Phương

Dù mục tiêu và động lực của họ hoàn toàn phục vụ cho quyền lợi cá nhân, nhưng biến động và thay đổi trong xã hội thường do các nhóm lợi ích khởi xướng

Một chấp nhận rất chủ quan

Tôi lớn lên và vào đại học trong thập niên 60's khi phong trào cách mạng đòi hỏi công bằng xã hội tràn lan khắp các nước Tây Phương. Sinh viên ở Pháp đóng cửa Paris trong suốt tháng 5, 1968. Phong trào phản chiến bộc phát khắp các đại học Mỹ tạo nên những cuộc chiếm giữ (sit-in) thường trực và khởi đầu cho trào lưu của thế hệ phóng đãng (hippie va free love). Các sinh viên từ Đức, Anh đến Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp... cũng năng động không kém trong bối cảnh hỗn loạn toàn cầu

Nhiệt huyết của thanh niên và những biểu tượng cách mạng như Che Guevara, Mao Trạch Đông.. là những hình ảnh thơ mộng của thế hệ này. Phần lớn tri thức Tây Phương ca ngợi không dứt những cuộc thí nghiệm rộng lớn về chủ nghĩa xã hội tại Liên bang Xô Viết và Trung Quốc

20 năm sau, những tưng bừng của giấc mơ cách mạng xã hội đã gặp phải thực tế và cái bong bóng lý tưởng bắt đầu xì hơi. Trung Quốc quay đầu thi hành những phương thức kinh tế của tư bản mà chỉ 10 năm trước đó, chỉ mở miệng ra bàn thảo là có thể bị đi cải tạo triền miên. Rồi Đông Âu sụp đổ, xóa đi mọi nghi ngờ về cái khả thi của cuộc cách mạng này

Với cá nhân tôi, nhiệt huyết về công bằng xã hội chỉ chìm lắng vào năm 1990 khi tôi ngồi ở Monaco trong tiền sảnh của Hotel để Paris nhìn người qua lại. Sau bao nhiêu biển dâu thay đổi khắp thế giới, tôi nhận ra rằng những người giàu có và quý tộc ở Âu Mỹ đã có tiếng cười sau cùng (the last laugh). Với vài thay đổi phiến diện về hình thức, thế giới quyền lực và của cải vẫn nằm vững vàng trong tay các tầng lớp giàu có. Như cái Câu Lạc Bộ Bel Air ngày nào tôi bước vào, cái khác biệt duy nhất sau 125 năm, là những người mới giàu đang thi nhau đăng ký và xin gia nhập hội

Vấn đề bây giờ, đối với những nhà cách mạng thời 60's, không còn là thay đổi xã hội nữa, mà là thay đổi chính mình để được gia nhập vào các nhóm lợi ích. Người Pháp thật thông minh khi biết điều này hơn 1,000 năm trước, "Plus ça change, plus c'est la même chose" (Mọi việc càng thay đổi thì mọi thứ càng giữ nguyên trạng)

T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com

Alan Phan (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-05-24-loi-ich-tu-cac-nhom-loi-ich)

LOBBY.VN
06-13-2011, 09:05 AM
Nghị sĩ Mỹ phản đối Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/jim-4.jpg
Thượng nghị sĩ Jim Webb

Văn phòng của ông Jim Webb, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Thượng viện Mỹ, hôm qua ra thông cáo bày tỏ “mối lo ngại sâu sắc” về việc Trung Quốc liên tục dùng vũ lực tại Biển Đông và gây ra hai vụ cắt cáp tàu Việt Nam

Thượng nghị sĩ Jim Webb cho biết hôm nay ông sẽ đệ trình lên Thượng viện Mỹ một nghị quyết lên án Trung Quốc dùng vũ lực tại Biển Đông và kêu gọi một giải pháp đa phương và hòa bình cho các tranh chấp trên biển tại khu vực Đông Nam Á

“Các quan chức Bộ Ngoại giao và Sở chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, có 3 tàu an ninh hàng hải của Trung Quốc đã xông vào cắt cáp một tàu thăm dò của Việt Nam là Viking 2 hôm 9/6, tại khu vực nằm bên trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam”, thông cáo đưa trên trang web chính thức của văn phòng thượng nghị sĩ Webb nêu rõ

Thông cáo cho biết thêm: “Sự kiện trên tiếp nối vụ việc tương tự xảy ra hôm 26/5 gần Việt Nam, vụ tháng 3 gần Philippines và các vụ gây rối trên biển năm ngoái tại quần đảo Senkaku do Nhật quản lý. Kiểu hăm dọa của Trung Quốc gây ra mối lo ngại sâu sắc. Mỹ có lợi ích chiến lược rõ ràng trong việc thúc đẩy cách tiếp cận đa phương và hòa bình trong việc giải quyết những bất đồng này và đảm bảo sự tiếp cận cởi mở cho thương mại và thực thi luật pháp quốc tế”

Ông Jim Webb từng liên tục bày tỏ mối quan tâm tới vấn đề chủ quyền trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương từ hơn 15 năm qua. Phiên điều trần đầu tiên của ông khi bắt đầu nhậm chức Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ, diễn ra tháng 7/2009, cũng xoay quanh những tranh chấp trên biển và vấn đề chủ quyền tại châu Á

Mỹ lo ngại căng thẳng tại Biển Đông

Trước đó hôm 10/6, chỉ một ngày sau vụ tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam lần thứ hai, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Mark Toner đã lên tiếng bày tỏ lo ngại vì những căng thẳng trên Biển Đông và kêu gọi một giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng tại khu vực này

Ông Toner nhấn mạnh rằng Mỹ và cộng đồng quốc tế chia sẻ lợi ích trong việc duy trì an ninh hàng hải trong khu vực Biển Đông, ủng hộ tự do đi lại, phát triển kinh tế và tuân thủ luật pháp quốc tế. "Chúng tôi không ủng hộ bất cứ điều gì làm gia tăng căng thẳng và chúng tôi không nghĩ điều đó là có ích", AFP dẫn lời phát ngôn viên Mỹ nói thêm

Washington cũng nêu rõ những điều cần cho Biển Đông hiện nay là một tiến trình ngoại giao chung, một tiến trình hoà bình để giải quyết hàng loạt bất đồng về chủ quyền biển và hải đảo. Mỹ cũng cho rằng việc phô trương lực lượng hay những hành động tương tự sẽ chỉ làm tình hình căng thẳng tăng lên

Hồi tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cảnh báo xung đột có thể xảy ra tại Biển Đông nếu các nước cùng tuyên bố chủ quyền không lập ra được một cơ chế để dàn xếp bất đồng một cách hoà bình. Cảnh báo này được đưa ra trong bối cảnh có nhận định Washington đang chuyển trọng tâm chiến lược sang Đông Nam Á vì tầm quan trọng về quân sự, ngoại giao và thương mại của khu vực này

Trong một diễn biến khác, Mỹ và Philippines sẽ tổ chức tập trận hải quân chung vào cuối tháng này trên vùng biển phía tây Philippines. Sự kiện diễn ra vào thời điểm nhạy cảm khi đang có căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước trên Biển Đông. Tuy nhiên Manila khẳng định cuộc tập trận đã được lên kế hoạch từ năm ngoái, nằm trong khuôn khổ các hoạt động thuộc Hiệp ước phòng thủ chung giữa Mỹ và Philippines

Tình hình Biển Đông hơn nửa tháng qua đột ngột căng thẳng do Trung Quốc liên tục gây hấn với Việt Nam và Philippines bằng những vụ xâm phạm chủ quyền và phá hoại, bất chấp việc Bắc Kinh luôn nói rằng họ cam kết duy trì hoà bình ở Biển Đông. Gây chú ý nhất là hai vụ Trung Quốc cho tàu thâm nhập sâu vào vùng biển của Việt Nam để tấn công hai tàu thăm dò dầu khí là Bình Minh 02 ngày 26/5 và Viking II ngày 9/6

Ngay sau mỗi vụ phá hoại, Bắc Kinh lại vu cáo Việt Nam đã hoạt động trong vùng biển chủ quyền của họ, nhằm đánh lừa dư luận bên ngoài hiểu nhầm về một khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp trên biển. Giới phân tích nhận định tất cả các hành động xâm phạm chủ quyền rõ ràng của phía Trung Quốc đã được tính toán kỹ lưỡng, nhằm dọn đường cho Bắc Kinh nhảy vào khai thác dầu khí tại Biển Đông

LOBBY.VN
07-09-2011, 05:31 PM
Peru 'chết dở' với xe tăng chủ lực Trung Quốc

Do cắt giảm kinh phí, Quân đội Peru đang ở tình thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc là đóng thuế tốn 8,5 triệu USD, hoặc trả lại Trung Quốc số tăng này với chi phí vận chuyển 10 triệu USD

Số xe tăng MBT-2000 trên gồm 5 chiếc mà Peru thuê Trung Quốc từ cuối năm 2010

Số xe tăng Trung Quốc này ở trạng thái mất khả năng chiến đấu đang được cất giữ tại kho của Lữ đoàn tăng 18. Việc mua sắm xe tăng Trung Quốc đã bị loại khỏi nghị trình do giá cao (19 triệu USD) và không thiết thực.

Tháng 12/2009, Bộ trưởng Quốc phòng Peru khi đó là Rafael Rey đã công bố ý định mua ít nhất 120 chiếc MBT-2000 trị giá 560 triệu USD

Tháng 4/2010, nhà sản xuất Trung Quốc Norinco không có giấy phép tái xuất động cơ Ukraine lắp cho tăng MBT-2000 nên Peru đã hủy bỏ kế hoạch mua sắm. Kinh phí mua sắm xe tăng đã được chuyển sang cho các chương trình ưu tiên hơn như mua 2 trực thăng Mi-35 và 6 Mi-171

Bộ Tài chính Peru là cơ quan khoái chí nhất trong câu chuyện này vì họ đã từ chối ngay từ đầu tài trợ cho màn chào hàng quảng cáo mà các nhóm lobby trong giới lãnh đạo quân đội vận động cho các xe tăng đối địch trong cuộc thầu của quân đội Peru là MBT-2000 của Trung Quốc và Tifon-2 (Т-55 cải tiến với sự tham gia của Peru) do Ukraine tổ chức

Trước đó có tin, “người Trung Quốc đã cung cấp một số thông tin “về vấn đề Ukraine” cho tư lệnh Lục quân Guibovich và thuyết phục ông ta mua 3 xe tăng với giá 4 triệu USD/chiếc”

Guibovich khăng khăng chối cãi không có thiên vị riêng với xe tăng Trung Quốc, song thực tế cho thấy, các xe tăng Trung Quốc đã làm tốn cho ngân sách Peru gần gấp 5 lần so với tướng Guibovich chỉ để chúng tham gia diễu binh

Việc chuyển giao xe tăng Trung Quốc ngay từ đầu đã có nhiều ngoắt ngoéo, ví dụ, trong thời gian dài vấn đề với động cơ Ukraine dự kiến lắp cho MBT-2000 rất tù mù. Chẳng bao lâu sau, Pakistan khẳng định động cơ Trung Quốc quá tồi và hiện không có động cơ nào khác thay được động cơ Ukraine

Trung Quốc đổ lỗi những vấn đề nảy sinh ở Peru là do "quỷ kế" của Nga vì họ cho rằng, Nga đã giúp ông Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine thân Nga Ezhel loại các nhân vật thuộc phe ông Kuzmuk ở công ty Ukrspetsexport và hứa hẹn "ăn chia" thị trường vũ khí Mỹ Latinh khiến Ukraine cấm tái xuất các động cơ dành cho MBT- 2000

Thực tế, ở Peru lâu nay vẫn xảy ra tình trạng Bộ Quốc phòng và giới lãnh đạo quân đội có thói quen gây khó dễ cho nhau khi lựa chọn các sản phẩm quân dụng nên chẳng cần trò "ngáng chân" của Nga và Ukraine thì tình hình vẫn rối beng như thế

Cũng có nghi ngờ là Trung Quốc với các xe tăng này đã đi theo con đường sai lầm của tập đoàn Rafael (Israel) vốn may mắn lắm mới không bán cho Peru các hệ thống tên lửa chống tăng Spike với giá cao gấp đôi các hệ thống tên lửa chống tăng Kornet của Nga

LOBBY.VN
07-24-2011, 07:11 PM
Google và Facebook chạy đua “lobby” ở mức kỷ lục

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/facebook-money-1.jpg

Cả Google và Facebook đang bỏ ra những khoản tiền kỷ lục trong lịch sử của các công ty này cho các hoạt động “lobby” (vận động hành lang)

Đã một quý trôi qua kể từ khi Facebook đưa ra lời thanh minh với Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) về nỗ lực đảm bảo tính riêng tư, và một tháng kể từ khi Google xác nhận họ là mục tiêu trong một cuộc điều tra chống độc quyền của FTC. Giờ đây, dường như 2 "đại gia" công nghệ này đang vung tiền ra nhiều hơn để gây tác động với Washington

Một tài liệu được tiết lộ hôm 21/7/2011 cho biết, Google đã tăng ngân sách cho hoạt động lobby từ 1,48 triệu USD trong quý 1 lên đến 2,06 triệu USD trong quý 2. Đây là lần đầu tiên công ty này chịu chi cho lobby với số tiền nhiều hơn cả Microsoft

Trong khi đó, Facebook cũng tăng khoản chi này từ 230.000 USD (quý 1), lên thành 320.000 USD (quý 2). Trước đó, ngân sách cao nhất mà mạng xã hội này dành cho hoạt động lobby chưa bao giờ vượt quá con số 130.000

Thực ra, đó không phải là điều bất thường với một công ty lớn khi chấp nhận chi ra hàng trăm ngàn USD cho các hoạt động lobby mỗi quý. Gần đây nhất, các công ty như Sony, Tyson và cả Walmart cũng bỏ ra không ít tiền cho mục đích này (Sony dành ra 490.000 USD, Tyson dành ra 600.170, và Walmart là 1,49 triệu USD). Thậm chí, hãng General Electric còn chi ra số tiền lên đến 6,8 triệu USD

Tuy nhiên, trong lịch sử của mình, cả Google và Facebook hiếm khi chấp nhận bỏ ra khoản chi được mô tả tăng theo một biểu đồ dựng đứng như thế này

Hai công ty khổng lồ đang cố gắng giải quyết những rắc rối gặp phải

Google đang phải đối mặt với các quy định về quảng cáo trực tuyến, các vấn đề về riêng tư, nhập cư, tính cạnh tranh và tính mở của dịch vụ trực tuyến, điện toán đám mây

Còn Facebook, ít vấn đề hơn, cũng phải giải quyết rắc rối với các quy định quốc tế của các công ty phần mềm, vấn đề bị một số chính phủ hạn chế truy cập, các luật về quyền riêng tư và các nhóm hành động bảo vệ sự riêng tư của trẻ em trên mạng

LOBBY.VN
08-27-2011, 02:24 PM
Tình báo Pakistan đã lobby chính trường Mỹ như thế nào ?

- Trong nhiều năm liền, Cơ quan tình báo Pakistan đã rót hàng triệu USD cho một tổ chức phi lợi nhuận ở Washington nhằm bí mật gây ảnh hưởng ở cả Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ

Hãng Fox News ngày 19/7 dẫn tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết Cơ quan tình báo Pakistan, Inter-Services Intelligence (ISI) trong nhiều năm liền đã chi hàng triệu đô la cho Hội đồng Kashmir - Mỹ, một tổ chứ phi lợi nhuận ở Washington trong một nỗ lực bí mật gây ảnh hưởng ở cả Nhà trắng và Quốc hội Mỹ

Điệp viên dưới vỏ bọc từ thiện

Các đặc vụ Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI) ngày 19/7 đã bắt giữ Syed Ghulam Nabi Fai, Giám đốc điều hành Hội đồng Kashmir - Mỹ (Kashmiri American Council) và buộc tội ông này làm tình báo bất hợp pháp cho một chính phủ nước ngoài. Dưới sự giám sát của một nhân viên cấp cao Cơ quan tình báo Pakistan, Fai đã quyên góp tiền cho nhiều chiến dịch chính trị, viết các bài bình luận trên báo, tổ chức các chuyến công cán cho nghị sỹ quốc hội và gặp gỡ các quan chức Nhà trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/images738497_Pakistan_I SI_Rally.jpg
Một cuộc biểu tình ủng hộ Cơ quan tình báo Pakistan (ISI) tại Islamabad ngày 11/5/2011


“Tôi tin là Fai đã nhận được khoảng từ 500.000 đến 700.000 USD mỗi năm từ chính phủ Pakistan”, đặc vụ FBI Sarah Webb Linden nói trong các báo cáo gửi Tòa án liên bang ở Alexandria, Vaginia

Theo các tài liệu của Cục thuế nội địa Mỹ, về mặt chính thống thì Hội đồng Kashmir- Mỹ có một ngân sách ít hơn và đã báo cáo với chính phủ Mỹ Hội đồng này không nhận bất cứ khoản tiền tài trợ nào từ nước ngoài. Bộ tư pháp Mỹ còn cho biết, Pakistan cũng đang tài trợ cho các chiến dịch tương tự tại Anh và Bỉ

Tuy nhiên, Đại sứ quán Pakistan đã lập tức ra một tuyên bố nói Chính phủ nước này không biết gì về hoạt động như vậy

Trong nhiều năm, Fai đã quyên góp cho các chiến dịch tranh cử quốc hội cho cả hai đảng ở Mỹ. Có thể điểm qua một số vụ điển hình như: số tiền 250 USD cho Tổng thống Obama năm 2008, 4.500 USD cho Ủy ban tranh cử Thượng Viện của đảng Dân chủ năm 2009. Các công tố viên cho biết không ai trong số những người nhận tiền biết được rằng tổ chức của Fai là bình phong của tình báo Pakisstan

Người thứ hai bị buộc tội hoạt động gián điệp là Zaheer Ahmad. Theo các công tố viên, nhân vật này đã tuyển mộ nhiều người đóng giả làm các nhà tài trợ cung cấp tiền cho Hội đồng Kashmir - Mỹ nhưng trong thực tế nguồn tiền là của Chính phủ Pakistan

Ahmad không bị bắt và đang ở Pakistan. Còn Fai, năm nay 62 tuổi, đã bị bắt giam cho tới phiên luận tội vào chiều ngày 21/7. Theo công tố viên Gordon Kromberg, nếu bị kết án, Fai có thể phải chịu án 5 năm tù giam. Cả Ahmad và Fai đều là công dân Mỹ

Điều hành bí mật từ Pakistan

Các công tố viên cho biết, Hội đồng Kashmir - Mỹ được điều hành bí mật bởi Chính phủ Pakistan. Fai đã phối hợp hoạt động cùng với các chỉ huy ISI của mình và thường liên lạc qua các email mã hóa. Các quan chức Pakistan kiểm soát tài chính của Fai và chỉ đạo anh này gặp ai và làm gì

“Ông biết rằng chúng ta đã làm việc với nhau vì sự nghiệp chung hàng thập kỷ nay”. Fai viết trong một email gửi cho quan chức cao cấp ISI năm 1995. “Trong những năm này, tôi đã cộng tác chặt chẽ với ông và những chỉ huy khác trước ông. Chúng ta đã phải tốn rất nhiều thời gian, công sức, nhiệt huyết để hoàn thành sự nghiệp chung”

Ở Washington, Fai nổi danh với việc tổ chức Hội nghị hòa bình Kashmir hàng năm tại Quốc hội Mỹ. Sự kiện này được coi là một diễn đàn độc lập cho các học giả Ấn Độ và Pakistan nhưng Bộ tư pháp Mỹ nói Chính phủ Pakistan đã kiểm duyệt danh sách báo cáo viên và chỉ thị cho Fai phải nhấn mạnh những chủ đề cần quan tâm

Israr Mirza, nguyên chủ tịch Hội sinh viên Pakistan của trường đại học George Mason nhớ lại bài phát biểu của Fai trong một sự kiện hồi tháng Hai do Hội của anh tổ chức bàn về quan hệ Ấn Độ - Pakistan. “Tôi không thấy anh ta giống như một điệp viên hay đại loại như thế. Anh ấy là người lịch thiệp”. Mirza nói, “Anh ấy tỏ ra là một người điềm tĩnh. Anh chỉ nói về việc thúc đẩy hòa bình”

ISI vốn có một quan hệ phức tạp với tình báo Mỹ. Cơ quan này đã từng là đồng minh quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ nhưng cũng đã nhiều lần chống lại Mỹ như việc điều hành các điệp viên hai mang đối phó với CIA. Vụ việc được phanh phui này chắc chắn sẽ làm phức tạp thêm mối quan hệ vốn đã căng thẳng giữa Mỹ và Pakistan trong thời gian gần đây, nhất là sau vụ tiêu diệt trùm khủng bố bin Laden hồi tháng Năm vừa qua

Minh Phạm - Fox News (http://bee.net.vn/channel/1983/201107/Tinh-bao-Pakistan-da-lobby-chinh-truong-My-nhu-the-nao-1805963/)

LOBBY.VN
10-02-2011, 12:22 PM
Mỹ sẽ “vận động hành lang” cho F-35 tham gia MMRCA

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/24072011son1161521656.j pg

- Nhiều khả năng Ấn Độ sẽ phải một lần nữa đưa ra lời giải thích cho phía Mỹ về việc tại sao loại hai sản phẩm chiến đấu cơ F-16 của Lockheed Martin và F-18 của Boeing ra khỏi gói thầu tìm mua 126 máy bay tiêm kích đa nhiệm hạng trung mới (MMRCA) cho không quân nước này

Cùng với đó, trong chuyến thăm chính thức Ấn Độ sắp tới, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton sẽ một lần nữa đưa ra đề nghị bán máy bay thế hệ 5 F-35 Lightning II cho quốc gia Nam Á này

Tuần trước, không quân Ấn Độ đã “chiều lòng” phía Mỹ khi chủ động cung cấp cho 2 nhà thầu Mỹ Lockheed Martin và Boeing nguyên nhân tại sao họ bị loại ra khỏi MMRCA, mặc dù các nhà thầu này không hề có yêu cầu. Trong khi đó, đại diện của Lockheed Martin tuyên bố với báo giới rằng, hải quân Ấn Độ rất quan tâm tới chiến đấu cơ F-35. Ngoài ra, đại diện của hải quân và không quân quốc gia Nam Á đã được chứng kiến mẫu mô phỏng của dòng chiến đấu cơ thế hệ 5 này

Cựu đô đốc không quân Ấn Độ PS Ahluwalia cho biết: “F-35 JSF là công nghệ của tương lai, là dòng chiến đấu cơ thế hệ 5 thực sự không hơn, không kém. Vấn đề hiện chỉ ở việc chúng ta có được tiếp nhận công nghệ của tương lai này không, để đảm bảo khả năng giành chiến thắng trong các cuộc chiến trong tương lai”

Đại diện của Lockheed Martin khẳng định, phiên bản F-35 tiêu chuẩn chỉ có giá thành khoảng 65 triệu USD, rẻ hơn nhiều so với giá thành của máy bay thế hệ 4+ là Rafale (85 triệu USD) và Eurofighter Typhoon (125 triệu USD) – các ứng cử viên chiến thắng của MMRC

Tuy nhiên, ông PS Ahluwalia nghi ngờ giá thành của F-35 do phía Lockheed Martin đưa ra. “Thật khó có thể hiểu, tại sao chiến đấu cơ thế hệ 5 lại có giá thành rẻ hơn chiến đấu cơ thế hệ 4 như: F-16, F-18 tới 10-15 triệu USD”, ông Ahluwalia cho biết

Hiện tại, còn quá sớm để nói về cơ hội của F-35 tại MMRCA. Việc này phần nhiều sẽ phụ thuộc vào phản ứng của Nga trong dự án hợp tác phát triển máy bay thế hệ 5 FGFA cho phía Ấn Độ và chiến lược mua sản phẩm phải kèm chuyển giao công nghệ của quốc gia Nam Á này

LOBBY.VN
10-02-2011, 12:24 PM
Giáo dục Úc đang vận động hành lang để cải tổ hệ thống thị thực

Các nhà lãnh đạo của ngành công nhiệp giáo dục quốc tế Úc đang tích cực kiến nghị trong các hội nghị bộ trưởng với hy vọng sẽ phần nào tác động về việc cải cách thị thực sinh viên trong thời gian tới

Con số thống kê chính thức đưa ra trong tuần qua cho thấy lợi nhuận thu lại từ nguồn sinh viên quốc tế giảm 9.2% năm 2010 - 2011và đã làm tổng giá trị doanh thu của ngành này giảm từ 18 xuống 16.4 tỉ đô la Úc

Bản đệ trình của cựu chính trị gia Michael Knight đã tổng hợp những kiến nghị nới lỏng quy định và yêu cầu tài chính khắt khe đối với thị thực sinh viên

Ông Stephen Connelly, chủ tịch hội đồng giáo dục quốc tế Úc phát biểu rằng những sụt giảm kim ngạnh xuất khẩu của ngành giáo dục sẽ gây nên sự tranh cãi và điều này có thể tác động đến việc xem xét cải cách. Như vậy sẽ có thêm lý do chính đáng buộc chính phủ phải cân nhắc lại và đưa ra các biện pháp mới để đưa ngành này tiếp tục phát triển đi lên

Các nhà lãnh đạo của ngành cũng đã kiến nghị tổ chức cuộc họp với bộ trưởng bộ di trú Chris Bowen và bộ trưởng bộ giáo dục đại học Chris Evans nhưng vẫn chưa nhận được bất cứ sự phản hồi nào. Ông Chris Bowen, người đứng đầu chịu trách nhiệm chính cho việc cải cách này cũng không có động thái gì rõ ràng

Đại diện phát ngôn viên cũng không đưa ra lời xác nhận nào về những phản hồi của chính phủ

Để có bản đệ trình này, Mr Kight đã tham khảo ý kiến tư vấn rất rộng rãi, tổ chức các buổi nói chuyện với gần 300 các bên liên quan tại Australia và nước ngoài đồng thời nhận hơn 200 đơn kiến nghị trong và ngoài ngành giáo dục

Việc xem xét lại sẽ được thể hiện trong nội dung phản hồi của chính phủ về bản đệ trình của ông Knight. Mọi người đang hy vọng chính phủ sẽ có câu trả lời sớm trong tuần này

LOBBY.VN
10-02-2011, 12:45 PM
Nghị viện châu Âu và scandal “đổi tiền lấy luật”

Những ngày cuối tháng 4, nghị viện châu Âu (EP) đang trở nên “nóng” vì vụ scandal “đổi tiền lấy luật” của các ông nghị. Nhiều nghị sĩ đã dính vào đường dây vận động hành lang được cho là lớn nhất từ trước tới nay tại EP

Có phạm luật ?

Vụ bê bối được báo Sunday Times (Anh) phanh phui từ đầu tháng 4-2011 khiến dư luận ở châu Âu bất bình. Nhằm xác minh tin đồn các nghị sĩ EP sẵn sàng “cung cấp dịch vụ tư vấn” trong các quyết định chính trị của EP, Sunday Times đã bí mật mở cuộc điều tra kéo dài trong 8 tháng. Dưới danh xưng là những tay vận động hành lang chuyên nghiệp, các phóng viên của Sunday Times đã tiếp cận với hơn 700 nghị sĩ và đề nghị sẽ chi cho mỗi người 100.000 EUR nếu gây tác động lớn để sửa một số điều luật liên quan tới hoạt động của các ngân hàng châu Âu

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/images376135_a.jpg
Từ trái sang: Zoran Thaler; Adrian Severin; Pablo Zalba; Ernst Strasser

Trong số đó có 4 người bắt tay vào thực hiện đề án, và 4 người đã sắp xếp một cuộc hẹn để nhận tiền của nhóm vận động hành lang giả. Họ là Pablo Zalba Bidegain nghị sĩ người Tây Ban Nha, nghị sĩ Romania Adrian Severin, nghị sĩ Slovenia Zoran Thaler và nghị sĩ người Áo Ernst Strasser. Nghị sĩ Severin đã gửi thư điện tử tới các phóng viên với nội dung: “Xin thông báo những điều thay đổi theo quý vị muốn đã được đặt lên bàn đúng thời hạn” và gửi kèm hóa đơn 12.000 EUR “dịch vụ tư vấn”

Sự việc vỡ lở sau khi Sunday Times cho công bố các email, đoạn ghi âm, video ghi lại quá trình trao đổi giữa các phóng viên Sunday Times với các nghị sĩ dính vào đường dây “đổi tiền làm luật”. EP cũng bị sốc trước các chứng cứ trên và không thể ngăn chặn làn sóng bất bình ngay trong nghị viện châu Âu cũng như xoa dịu dư luận. Trong quá trình thẩm vấn điều tra, ông Pablo Zalba cho rằng mình không làm gì sai trái. Ông tuyên bố đã bị các phóng viên “lừa đảo”

Ông Zalba khai mình ủng hộ một đề xuất do các phóng viên Sunday Times đưa ra vì nghĩ điều này sẽ bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ. Ông tuyên bố lương tâm mình trong sạch khi bỏ phiếu vì tin rằng giúp cho luật tốt hơn, chứ không phải vì tiền. Ông khẳng định không nhận đồng xu nào. Theo luật, yêu cầu duy nhất các nghị sĩ EP không được phép làm là cung cấp tin mật, nhưng họ có quyền làm cố vấn chính trị

Trong đó, nghị sĩ người Áo Ernst Strasser, một trong 3 người được cho là có ý định nhận tiền của các phóng viên The Sunday Times, còn thẳng thắn khẳng định rằng mình muốn làm một nhà vận động hành lang thứ thiệt và nhiệt tình mô tả tỉ mỉ tham vọng xây dựng cả một hệ thống vận động hành lang với tư cách là một nghị sĩ châu Âu. Tuy phủ nhận hành vi “đổi tiền lấy luật” nhưng số điều thay đổi luật mà phóng viên Sunday Times yêu cầu đã xuất hiện trên các văn kiện chính thức của EP. Nhân viên an ninh EP đã niêm phong văn phòng của các nghị sĩ liên quan để đảm bảo các bằng chứng sẽ vẫn còn nguyên

4 nghị sĩ dính líu vào đường dây “đổi tiền lấy luật”: Pablo Zalba, Ernst Strasser, Zoran Thaler, Ernst Strasser đã bị buộc phải từ chức trước thời hạn để phục vụ cho công tác điều tra. Những người này đang có nguy cơ bị tước quyền miễn tố nếu phát hiện phạm luật của EP

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cho nghị sĩ EP

Chưa có kết luận chính thức về việc các ông nghị châu Âu có vi phạm luật hay không nhưng vụ việc cũng đã nhuốm màu bê bối đáng xấu hổ và khiến cho Chủ tịch EP Jerzy Buzek bực bội vì những hình ảnh về vụ việc không còn giới hạn ở châu Âu mà đã được phát tán trên Internet, lan đi khắp thế giới, làm cho hình ảnh của EP bị ảnh hưởng. Ông Buzek tuyên bố EP sẽ không dung túng cho những hành vi tương tự như vụ việc vừa xảy ra

Trên thực tế, có nhiều ông nghị, ngoài nhiệm vụ chính thức ra còn kiêm nhiệm một lúc hàng loạt chức vụ, công việc “ngoài luồng” khác nữa nhưng luật pháp châu Âu không có quy định nào ràng buộc họ phải đặt lợi ích chung lên trên. Khoản lương của các nghị sĩ EP hiện được cho là khá cao, khoảng 7.600 EUR/tháng và trợ cấp 304 EUR/ngày. Nhưng điều này có vẻ chưa làm hài lòng các ông nghị, họ vẫn tranh thủ tìm thêm những công việc bên ngoài để kiếm thêm các khoản ngoài lương tháng

Một ví dụ điển hình về làm thêm ngoài giờ là nghị sĩ người Bỉ Jean-Luc Dahaene. Ông đang kiêm nhiệm nhiều chức vụ, ngoài nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Ngân sách của EP, ông Dahaene còn đảm nhiệm thêm các chức vụ thành viên Hội đồng quản trị và Hội đồng điều hành của ít nhất 6 tổ chức, công ty và trường học

Vấn đề “xung đột lợi ích” giữa việc chung và việc riêng của các ông nghị được đặt ra một cách khá nghiêm túc, nhưng cho đến nay mọi bàn cãi cũng chỉ dừng lại ở việc các nghị sĩ phải khai báo nếu xuất hiện những xung đột lợi ích trong hoạt động “kiếm thêm” của các ông nghị. Và dư luận không tán thành với đề xuất này

Liên minh vì Minh bạch trong Vận động hành lang và Quy định về đạo đức chức nghiệp châu Âu (ALTER-EU) cho rằng, chỉ “yêu cầu khai báo” là chưa đủ mà phải ngăn chặn ngay khi có mầm mống “xung đột lợi ích” để tránh xảy ra các vụ việc bê bối đáng tiếc, như vụ “đổi tiền lấy luật”

Dư luận báo chí châu Âu cũng cho rằng, việc trói buộc các ông nghị từ bỏ các khoản thu nhập khác ngoài lương chính thức là điều không dễ dàng. Trên các mặt báo đã nổ ra nhiều cuộc tranh luận về việc nghị viện châu Âu có nên thay đổi một số quy định và xây dựng hoàn chỉnh một chuẩn mực đạo đức cho các nghị sĩ ?

Báo European Voice số ra ngày 14-4 đặt câu hỏi về việc liệu có nên hợp pháp hóa các hoạt động vận động bên lề để tránh tái diễn vụ việc tương tự trường hợp vừa bị phanh phui. Phần lớn ý kiến của các độc giả cho rằng điều này nên cân nhắc kỹ do việc vận động hành lang ở châu Âu khác xa ở Mỹ

Ở châu Âu, giới vận động hành lang cũng không có thói quen chiêu đãi các ông nghị “ăn nhậu” để gia cố các mối quan hệ hoặc để trả ơn cho một ân huệ nào đó, như vẫn thường xảy ra ở Mỹ. Luật chống tham nhũng ở châu Âu rất nghiêm khắc, quy định chặt chẽ những hành vi nhận tiền như thế nào sẽ bị coi là “tham nhũng” hoặc “ăn hối lộ”

Một số khác cho rằng, hợp thức hóa vận động hành lang không có gì sai trái nhưng vấn đề là thiếu tính minh bạch. Không có quy định bắt buộc nào liên quan đến báo cáo và đăng ký hoạt động vận động hành lang. Điều cần thiết nhất là xây dựng tính minh bạch trong các hoạt động vận động hành lang để tránh các hệ quả xấu sẽ tiếp diễn sau đó

LOBBY.VN
10-02-2011, 12:50 PM
Lockheed Martin vận động bán F-16 mới cho Đài Loan

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/maybay72204998.jpg
Đài Loan mong muốn được sở hữu máy bay chiến đấu F-16 C/D

Tập đoàn khí tài quân sự Lockheed Martin được cho là đang ra sức vận động để Mỹ đồng ý bán máy bay chiến đấu hiện đại F-16 C/D cho Đài Loan

Hồi giữa tháng này, Mỹ công bố chỉ nâng cấp các máy bay chiến đấu F-16 A/B mà Đài Loan đang sở hữu chứ không bán loại F-16 C/D mới, hiện đại hơn. Tuy nhiên, tờ The Wall Street Journal khi ấy dẫn lời một số chuyên gia cho rằng cơ hội sở hữu F-16 C/D của Đài Loan vẫn chưa khép lại. Có vẻ như đây là một nhận định chính xác theo những thông tin mới nhất

Nỗ lực mới của Lockheed Martin

Theo Reuters ngày 29.9, Lockheed Martin đang thực hiện chiến dịch vận động hành lang các nghị sĩ Mỹ về chuyện bán máy bay chiến đấu F-16 C/D cho Đài Loan. Việc này sẽ tách bạch với chương trình nâng cấp máy bay F-16 A/B trị giá hơn 5 tỉ USD mà Nhà Trắng đã thông qua hồi tuần trước. Reuters dẫn lời hai viên chức tại Quốc hội Mỹ cho hay Lockheed Martin đã gửi cho Điện Capitol một bản ghi nhớ mang tên: “Đài Loan - Lợi ích của F-16 C/D mới”

Theo Lockheed Martin, bán máy bay F-16 C/D cho Đài Loan không chỉ đem lại nguồn lợi cho tập đoàn này mà còn tạo ra 16.000 việc làm cho Mỹ trong 5 - 6 năm. Reuters tuyên bố đã có được bản sao của tài liệu trên, vốn được gửi đi một ngày sau khi Tổng thống Barack Obama thông báo quyết định nâng cấp máy bay F-16 A/B cho Đài Bắc. Trả lời giới truyền thông, Lockheed Martin không xác nhận hay chối bỏ thông tin này

Trước những chỉ trích về việc không bán mới F-16 C/D cho Đài Loan, chính quyền Mỹ dẫn kết luận khảo sát của Bộ Quốc phòng cho rằng tên lửa của đối phương có thể dễ dàng phá hủy hệ thống đường băng của Đài Loan nên đảo này cần các loại máy bay chiến đấu lên thẳng hơn là F-16

Tuy nhiên, Reuters ngày 29.9 dẫn nội dung bản ghi nhớ của Lockheed Martin bác bỏ nhận định nói trên. Theo các chuyên gia của tập đoàn này, Đài Loan có nhiều hầm trú máy bay chống chịu được tên lửa và thừa kỹ thuật để nhanh chóng phục hồi đường băng

Một số chuyên gia nhận định nỗ lực của Lockheed Martin có thể đạt kết quả vì nhận được sự ủng hộ của giới lập pháp. Hồi tháng 5, Tổng thống Obama đã nhận được một lá thư với chữ ký của 47/100 thượng nghị sĩ và 181/435 hạ nghị sĩ đôn đốc bán máy bay F-16 mới cho Đài Loan

Đài Loan nâng cấp khí tài

Những khó khăn khi lệ thuộc vào nước ngoài khiến Đài Loan đang tự lực hơn trong việc tăng cường sức mạnh không quân, theo AFP. Ngày 28.9, đảo này loan báo kế hoạch nâng cấp 56 máy bay chiến đấu tự chế tạo và mua thêm 50 chiếc dùng cho huấn luyện. Người đứng đầu Lực lượng phòng vệ Đài Loan Cao Hoa Trụ nói việc nâng cấp sẽ kéo dài từ 2013 - 2017 và tốn khoảng 530 triệu USD. Kế hoạch mua 50 máy bay huấn luyện mất hơn 2,5 tỉ USD

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục phản đối gay gắt kế hoạch nâng cấp máy bay F-16 A/B cho Đài Loan, theo AP. Ngày 28.9, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cảnh báo các cuộc trao đổi cấp cao và hợp tác quân sự của nước này với Mỹ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mới đây, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi cũng lên tiếng kêu gọi Mỹ hủy kế hoạch nâng cấp nói trên

Ngô Minh Trí (http://news.go.vn/tin/270388/Lockheed-Martin-van-dong-ban-F-16-moi-cho-Dai-Loan.htm)

LOBBY.VN
10-16-2011, 11:36 PM
Mỹ mạnh tay “vận động hành lang” cho F-35 tại Nhật Bản

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/08102011son1204216187.j pg

- Theo hãng tin Reuters, hãng chế tạo hàng không Mỹ Lockheed Martin đã đề nghị cho phép Nhật Bản được lắp ráp máy bay và trang bị kỹ thuật của dòng chiến đấu cơ thế hệ 5 F-35 Lightning II ở trong nước. Đề nghị này sẽ được hiện thực hóa nếu Bộ Quốc phòng Nhật Bản chọn F-35 là người thắng cuộc trong gói thầu F-X tìm mua 42 chiến đấu cơ mới cho lực lượng không quân trị giá 8 tỉ USD

Ngoài ra, các công ty Nhật Bản cũng được tham gia sản xuất một số linh kiện cho dòng máy bay thế hệ 5 này

Tháng 4-2011, Bộ Quốc phòng đã chính thức mở thầu gói thầu F-X. Tham gia vào gói thầu này là hãng Boeing, Lockheed Martin và Tổ hợp Eurofighter với các dòng sản phẩm F/A-18 Super Hornet, F-35 và Typhoon. Nhiều chuyên gia quân sự nhận định, người thắng cuộc gói thầu F-X sẽ là một công ty Mỹ vì từ trước tới nay, quân đội Nhật Bản mua chủ yếu vũ khí-trang bị quân sự do Mỹ sản xuất

Các chiến đấu cơ mới thuộc gói thầu F-X sẽ thay thế vị trí các đơn vị F-4EJ Kai Phantom của không quân Nhật. Tuy hợp đồng ban đầu chỉ có 42 máy bay, nhưng trong tương lai các chiến đấu cơ mới thuộc gói thầu F-X có thể sẽ thay thế cả dòng máy bay F-15J Kai và số lượng máy đặt mua có thể lên tới 150 máy bay

Trước đây, Nhật Bản đã nhiều lần ngỏ ý muốn mua máy bay F-22 Raptor của Mỹ, nhưng Quốc hội Mỹ đã từ chối vì lo ngại rò rỉ công nghệ chế tạo máy bay thế hệ 5

Cuối tháng 9-2011, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa tuyên bố bắt đầu đàm phán với đối tác Eurofighter để gây sự ép lên phía Mỹ. Dự kiến, kết quả của gói thầu F-X sẽ được công bố trong cuối năm 2011

LOBBY.VN
10-21-2011, 08:54 PM
Trung Quốc vận động hành lang tại Quốc hội Mỹ

- Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động vận động hành lang tại Washington, để ngăn chặn đạo luật trừng phạt hệ thống tiền tệ Trung Quốc được Hạ viện nước này thông qua. Đây được xem nỗ lực mới nhất của Bắc Kinh nhằm đặt chân vào nền chính trị nước Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/c0e984dd7bcc31c34c010f8 f40c68149.jpg
Trung Quốc đang tìm cách từng bước can thiệp nền chính trị nước Mỹ


“Đội liên lạc Quốc hội” của Trung Quốc gồm 12 thành viên đã có cuộc họp với các trợ lý bên trong Đại sứ quán nước này, để chỉ đạo thực hiện cuộc điện thoại với văn phòng Quốc hội Mỹ và nói chuyện với Nhà Trắng, theo quan chức Trung Quốc và Mỹ

Một quan chức Trung Quốc giấu tên nói nhân viên Đại sứ quán đã tổ chức một cuộc họp ở Capitol Hill với các trợ lý chủ chốt và không cung cấp thêm thông tin. Ông cho biết: "Chúng tôi đã giải thích cho họ vị trí của chúng tôi và hy vọng họ có thể thuyết phục phần lớn các Thượng nghị sĩ và các đại diện để thực hiện những bước đi hợp lý, bằng cách không chính trị hóa vấn đề đồng NDT”

Thượng nghị sĩ đảng Cộng hoà Orrin Hatch, người bỏ phiếu chống dự luật trừng phạt Trung Quốc, nhận định: lắng nghe Trung Quốc là điều quan trọng và ông cho rằng kế hoạch vận động hành lang lần này của Trung Quốc chắc chắn sẽ được Mỹ xem xét và cân nhắc

Các quan chức Trung Quốc trước đó đã cứng rắn đưa ra lời cảnh báo Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng về một cuộc chiến tranh thương mại nếu như nước này thông qua dự luât trừng phạt tiền tệ Trung Quốc

Đại sứ quán Trung Quốc cũng đã chi tiền cho một công ty luật uy tín ở Washington số tiền 35.000 USD/tháng để thay mặt Trung Quốc vận động hành lang Quốc hội Mỹ, cũng như giúp cho nước này am hiểu sâu rộng hơn về chính trị nước Mỹ

Nỗ lực này phản ánh trình độ vận động hành lang tinh vi của Trung Quốc tại Washington đang dần được cải thiện trong những năm gần đây. Chỉ cách đây một thập niên, Trung Quốc thường xuyên không quan tâm đến Quốc hội Mỹ. Một số cán bộ của Trung Quốc còn tin rằng Thượng viện và Hạ viện Mỹ chỉ đơn thuần là “cái loa” của ngành hành pháp

LOBBY.VN
10-24-2011, 08:31 PM
Facebook và Google bỏ "núi tiền" để có tiếng nói trong Quốc hội Mỹ

Trong vận động hành lang Quý 3, số tiền Google tiêu tốn đạt mức cao nhất với 2,38 triệu USD, gấp đôi thời điểm này năm ngoái. Facebook là 360.000 USD cho Quý 3, nhiều hơn cả năm 2010

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/facebookgooglelobby1ce1 8.jpg
Theo dữ liệu của Thượng viện Mĩ thì Facebook và Google ngày càng tiêu nhiều tiền hơn trong các cuộc vận động hành lang ở Nghị viện

Số tiền Google tiêu tốn trong vận động hành lang Quý này đạt mức cao nhất với 2,38 triệu USD – gần gấp đôi số tiền bỏ ra tại thời điểm này năm ngoái. Quý trước Google đã tốn 2,08 triệu USD cho các nhà lập pháp

Tổng cộng năm ngoái Google tiêu tốn 5,2 triệu USD để vận động hành lang và chỉ trong 3 quý đầu năm nay số tiền 5,8 triệu USD Google chi ra đã vượt qua cả năm ngoái. Chủ tịch Eric Schmidt của Google đã từng giúp đỡ chính phủ với các vụ chống độc quyền và đã từng làm chứng trước Quốc hội hồi tháng 9

Bằng sáng chế là 1 vấn đề rất quan trọng với Google và đây cũng là lý do nhà khổng lồ này cần vận động hành lang để vụ mua lại Motorola trị giá 12,5 tỉ USD được thông qua. Nói về số tiền lớn dành cho vận động hanh lang, Google cho biết: “Chúng tôi muốn giúp các nhà chính sách hiểu thêm về công việc mà chúng tôi làm để giữ Internet mở, để khuyến kích sáng tạo và tạo ra nhiều cơ hội kinh tế. Vận động hành lang là 1 phần của quá trình ấy”

Về phần Facebook, mạng xã hội này tiêu tốn ít hơn so với Google: chỉ 360.000 USD cho Quý 3 vừa qua – nhiều hơn cả số tiền vận động hành lang của năm 2010. Dự kiến trong năm 2011 Facebook sẽ tiêu hơn 1 triệu USD vào việc vận động hành lang này

Mục tiêu cuộc vận động hành lang của Facebook là để tăng cường toàn cầu hóa mạng xã hội này khi mà hiện nay rất nhiều chính phủ đã chặn Facebook, đưa mạng xã hội hòa nhập và phổ biến hơn, vận động cho trung tâm năng lượng Oregon của hãng có thêm điều kiện phát triển

Facebook ngày càng muốn củng cố thêm mối quan hệ của mình với Quốc hội, thuê thêm nhiều nhà vận động có ảnh hưởng và thậm chí liên kết với chính phủ về các vấn đề chính trị. Hồi tháng 9 Facebook đã đệ đơn nhằm được phép ủng hộ trực tiếp cho các ứng cử viên và đảng phái chính trị trong Chính phủ Mĩ

Với việc số tiền vận động hành lang ngày càng tăng thế này thì rõ ràng Facebook và Google đang có tiếng nói khá lớn trong Quốc hội Hoa Kỳ

LOBBY.VN
11-16-2011, 12:26 PM
Vận động hành lang ủng hộ Palextin gia nhập Liên hợp quốc

Theo hãng thông tấn Ma'an của Palextin ngày 9/11, các ngoại trưởng Arập có kế hoạch vận động năm nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) ủng hộ nỗ lực của Palextin trở thành thành viên LHQ

Trưởng đoàn đàm phán Palextin, ông Xaép Êrêcát (Saeb Erekat) cho biết, một phái đoàn ngoại trưởng Arập do Ngoại trưởng Cata dẫn đầu sẽ đi thăm năm nước ủy viên thường trực HĐBA vào cuối tuần tới để thuyết phục họ chấp thuận kết nạp Palextin làm thành viên LHQ. Phái Phata (Fatah) của Tổng thống Palextin Mamút Ápbát (Mahmoud Abbas) dự kiến nhóm họp vào ngày 17/11 hoặc 18/11 để hoàn tất lịch trình đề nghị LHQ kết nạp Palextin

Liên quan vấn đề trên, Ngoại trưởng Anh Uyliam Hagơ (William Hague) ngày 10/11 cho biết Anh sẽ bỏ phiếu trắng trong cuộc bỏ phiếu tại HĐBA về việc kết nạp Palextin làm thành viên LHQ. Phát biểu trước quốc hội Anh, ông Hagơ cho biết Anh đưa ra quyết định trên sau khi tham vấn các đối tác châu Âu. Theo ông Hagơ, Anh vẫn tiếp tục là một trong những nước ủng hộ hàng đầu đối với các nỗ lực xây dựng nhà nước Palextin, tuy nhiên Anh "bảo lưu quyền công nhận một nhà nước Palextin trong khuôn khổ song phương vào một thời điểm mà nước này cho là phù hợp nhất giúp đem lại hòa bình"

Vài ngày trước đó, Pháp cũng tuyên bố sẽ bỏ phiếu trắng về việc kết nạp Palextin. Như vậy, hiện HĐBA đang bế tắc trong vấn đề này. Theo ủy ban xét kết nạp thành viên mới của LHQ, đến nay ủy ban này chưa thể đưa ra một khuyến nghị chung cho HĐBA. Mỹ ngay từ đầu đã khẳng định sẽ phủ quyết trong bất cứ cuộc bỏ phiếu nào tại HĐBA gồm 15 thành viên về việc này. Trong khi đó, Braxin, Trung Quốc, Ấn Độ, Libăng, Nga và Nam Phi đã công khai ủng hộ nỗ lực của Palextin. Anh, Pháp và Côlômbia đã tuyên bố sẽ bỏ phiếu trắng; Bồ Đào Nha và Bôxnia cũng có thể bỏ phiếu trắng; còn Đức, Nigiêria và Gabông chưa có ý kiến. Dự kiến ủy ban trên sẽ họp trong ngày 11/11 tới và đưa ra quyết định cuối cùng đối với đề nghị của Palextin

Trong phiên họp của Đại hội đồng LHQ tháng Chín vừa qua, Chính quyền Palextin đã đề nghị LHQ kết nạp Palextin làm thành viên chính thức, trong nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế đối với một Nhà nước Palextin độc lập dựa trên các đường ranh giới trước năm 1967, bao gồm Dải Gada (Gaza), Giuđêa (Judea), Xamaria (Samaria) và Đông Giêruxalem (Jerusalem)

Để được chấp thuận, Palextin cần hội đủ ít nhất 9 phiếu ủng hộ trong số 15 ủy viên HĐBA và không có bất cứ ủy viên thường trực nào phủ quyết. Hiện các thành viên HĐBA đang chờ xem Palextin có đề nghị tiến hành bỏ phiếu tại HĐBA về việc này hay không. Tuy nhiên, Palextin cũng có thể đề nghị một cuộc bỏ phiếu tại Đại hội đồng LHQ công nhận tư cách quan sát viên. Ngày 31/10, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của LHQ (UNESCO) đã công nhận Palextin là thành viên đầy đủ của tổ chức này. Theo ông Êrêcát, ban lãnh đạo Palextin sẽ đưa ra quyết định về các bước tiếp theo sau khi tham vấn các đồng minh Arập

TTXVN (http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDe tail.aspx?co_id=30127&cn_id=489606)

LOBBY.VN
11-22-2011, 06:13 PM
Chính khách + doanh nhân = quyền lực vô hạn

Chủ nghĩa ngoại lệ (exeptionism) đã xe một sợi tơ hồng ngũ sắc cho giới trùm doanh nhân với giới chính trị gia trong xã hội Mỹ. Một bên vốn đã có quá nhiều tiền, nhưng vẫn chưa thỏa mãn; còn một bên lại cần nhiều tiền hơn nữa để tranh cử

Thế là không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được cuộc hôn nhân vô tiền khoáng hậu của họ. "Con cái" của họ là những "bọc tiền" để mua phiếu bầu cùng những món hời lại quả. Còn đại đa số dân chúng thì... hãy đợi đấy

Buôn chính trị

Ở phương Đông, Lã Bất Vi thời Chiến Quốc nổi tiếng với thuật "buôn vua"

Khi trông thấy Tử Sở đang làm con tin của nước Tần ở nước Triệu, Lã Bất Vi thốt lên: "Món hàng này lạ, có thể buôn được đây"

Nhờ vào mưu lược "rải vàng lót ổ" của ông, sau này Tử Sở đã trở thành vua nước Tần (Trang Tương Vương), còn Lã Bất Vi được trả ơn bằng chức Thừa tướng và được sắc phong là Văn Tín Hầu, được ăn thuế mười vạn hộ ở Hà Nam, Lạc Dương. Trang Tương Vương làm vua được ba năm thì mất. Thái tử là Chính lên ngôi, gọi là Tần vương Chính - tức Tần Thủy Hoàng sau này, đã tôn Lã Bất Vi làm tướng quốc, gọi là trọng phụ

Còn ở phương Tây, đầu tư vào các cuộc tranh cử cũng không phải là chuyện lạ. Thuận mua vừa bán vốn là lẽ thường tình của các nền kinh tế thị trường. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, nên trên sân khấu chính trị cũng khó có thể khoanh ra một vùng "cấm mua, không bán", nhất là ở xã hội tự do Hoa Kỳ - nơi mà tranh cử Tổng thống phải cần rất nhiều tiền, còn trên thương trường lại cũng không thiếu những tỉ phú, triệu phú đang muốn đầu tư chính trị để thu nhiều tiền hơn, đặc biệt là giới dầu lửa và công nghiệp quốc phòng

Trong chiến dịch tranh cử năm 2000, các công ty dầu lửa và khí đốt đã đóng góp 34 triệu USD. 79% số này được rót cho đảng Cộng hòa, 20% cho đảng Dân chủ. Các công ty của Tobacco ủng hộ 8 triệu USD, trong đó 84% - đảng Công hòa, phần còn lại - đảng Dân chủ…

Còn trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2004, tính tới 31/01/2004, gần một nửa những nhà tài trợ nhiều nhất cho ứng cử viên đảng Dân chủ John Kerry đã chuyển hướng đầu tư sang chi cho đương kim Tổng thống G.W.Bush nhiều hơn cho J.Kerry

Chẳng hạn, Kerry chỉ nhận được 79.000 USD từ Citigroup, nhưng công ty này lại “cống nạp” cho G.W.Bush tới 187.000 USD. Goldman Sachs chỉ chi cho Kerry 65.000 USD so với 283.000 USD tài trợ cho G.W.Bush

Massachusetts Mutual - nhà tài trợ lớn nhất của Kerry trong 15 năm qua cũng thay đổi tỉ lệ đầu tư: Kerry - 50.000 USD, G.W.Bush - 69.000 USD

Ở chặng nước rút trong cuộc đua tranh vào ghế Tổng thống năm 2008, B.Obama là ứng viên Tổng thống đầu tiên trong suốt 16 năm qua đã chi 30 triệu USD để mua lại 30 phút trong giờ phát sóng vàng của 4 kênh truyền hình lớn nhất nước Mỹ là NBC, CBS, FOX và Univision để đưa ra lời "tuyên chiến cuối cùng"

Riêng CNN đã từ chối vì không muốn thay đổi lịch phát sóng, chứ không thì con số sẽ còn lớn hơn nhiều. "Top ten" trong các nhà tài trợ là Đại học Tổng hợp California -1.648.685 USD, Goldman Sachs - 1.013.091 USD, Đại học Tổng hợp Harvard - 878.164 USD, Microsft Corp - 852.167 USD, Google Inc - 814.540 USD, JPMorgan Chase & Co - 808.799 USD, Citigroup Inc -736.771 USD, Time Warner - 624.618 USD, Sidley Austin LLP - 600.298 USD, Đại học Tổng hợp Stanford - 595.716 USD...

Về hình thức, hệ thống chính trị Mỹ có chủ nghĩa nghiệp đoàn hai đảng. Nhưng trên thực tế, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa dường như cũng chỉ là hai cánh tả và hữu của "đảng người giàu" ở Mỹ. Thực tế cho thấy các nhà đầu tư "khủng long", chứ không phải là các cử tri quyết định các chiến dịch vận động tranh cử và các cuộc bầu cử

Đầu tư vào các đảng chính trị và các ứng cử viên của họ có thể làm thay đổi chương trình nghị sự của đảng và hình thành chính sách công theo hướng mang lại lợi riêng cho chủ đầu tư. Các ứng cử viên đua tranh với nhau trước hết không phải vì các lá phiếu mà vì tiền của các nhà tài trợ, vì càng có nhiều tiền thì sẽ càng mua được nhiều phiếu. Trong cuộc tranh cử năm 2008, B.Obama đã thắng vì đã tăng gần như gấp đôi số tiền so với đối thủ John McCain

Xã hội Mỹ là xã hội của những nhóm lợi ích. Một mô hình nhóm lợi ích đặc biệt hiện đang phát triển cả về số lượng và ảnh hưởng trong những năm gần đây là loại hình ủy ban hành động chính trị (political action committee - PAC)

Đó là những nhóm độc lập, được tổ chức nhằm phục vụ một hoặc nhiều mục tiêu như đóng góp tài chính cho các chiến dịch bầu cử Quốc hội hoặc Tổng thống. Luật pháp hạn chế số tiền đóng góp trực tiếp cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử liên bang, nhưng không hạn chế số tiền các ủy ban hoạt động chính trị chi tiêu cho việc cổ xuý một quan điểm chính trị hoặc vận động bầu các ứng cử viên vào các chức vụ dân cử

Hiện nay, con số các uỷ ban này ở Mỹ lên đến hàng ngàn. Chúng trở thành những "ông tơ", "bà nguyệt" rất mát tay cả cho giới doanh nhân và các chính trị gia

Lãi bất ngờ

Trong "Đông Chu Liệt Quốc", có một cuộc đàm đạo của Lã Bất Vi với cha - vốn cũng là một nhà buôn lớn, về lợi nhuận

- Cày ruộng lợi gấp mấy ? - Lợi gấp mười

- Buôn châu ngọc lợi gấp mấy ? - Lợi gấp trăm

- Nếu giúp cho một người được lên làm vua, thống trị sơn hà, thì lợi gấp mấy ?

Có thể coi đây là một câu chuyện kinh điển trong đầu tư chính trị. Cũng như các loại hình đầu tư khác trong thương trường, đầu tư chính trị cũng có rủi ro, đặc biệt là đầu tư trong bầu cử Tổng thống ở Mỹ vì ứng cử viên có hai nhưng chỉ được chọn một Tổng thống. Thành ra là chiến cuộc đầu tư này cũng gần giống như trò trơi "zero sum game" (được ăn cả ngã về không). Nhưng đã được là thắng rất đậm

Để đền đáp các nhà tài trợ trong giới công nghiệp quốc phòng, ngay trong tháng đầu nắm quyền, Tổng thống G.W.Bush đã đề bạt 32 giám đốc điều hành và những cổ đông chính của các chủ hợp đồng vũ khí vào các vị trí hàng đầu trong hoạch định chính sách của Bộ Quốc phòng, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Năng lượng và Phủ Tổng thống. Đồng thời, Tổng thống G.W.Bush còn chỉ định Phó Tổng thống Dick Cheney lãnh đạo nhóm hoạch định chính sách năng lượng

Nhóm này dựa vào các kiến nghị của các "khủng long" dầu lửa như Exxon Mobil, Conoco, Shell Oil, BP America và Chevron để bí mật bàn các diệu kế "trả nợ" các nhà tài trợ dầu lửa. Từ 1998 tới 2005, riêng Exxon Mobil đã chi gần 67 triệu USD cho vận động bầu cử của G.W.Bush và loby các hợp đồng. Dưới thời G.W.Bush & Dick Cheney, riêng ngành công nghiệp dầu lửa và khí đốt đã chi 393,2 triệu USD để lobby Chính phủ Liên bang, đó là chưa kể các khoản ủng hộ vận động tranh cử

Năm 2005, Tổng thống G.W.Bush đã ký một đạo luật dầu lửa cho phép giãn 14,5 tỉ USD tiền thuế cho các công ty dầu lửa, khí đốt, điện hạt nhân và than. Ngoài ra, còn có những chính sách hỗ trợ hậu hĩnh khác. Nhờ vậy, lợi nhuận năm 2006 của Exxon Mobil đã đạt đỉnh cao nhất nước Mỹ là 39,5 tỉ USD

Trong 4 năm từ 2000 đến 2003, Lockheed Martin - một "ông trùm" trong ngành công nghiệp quốc phòng đã nhận được từ Lầu năm góc những hợp đồng với tổng trị giá 78,7 tỉ USD so với tổng các khoản tiền tài trợ tranh cử và lobby hợp đồng chỉ mất khoảng 7 triệu USD. Con số tương tự của Boeng Company là 59,2 tỉ USD so với khoảng 5 triệu USD chi phí; Northrop Grumman - 28,1 tỉ USD so với khoảng 3 triệu USD cống nạp; Raytheon Company - 26,8 tỉ USD so với khoảng 2,5 triệu USD tài trợ

Điều chưa may cho các nhà tài trợ ruột của B.Obama khi ông bước lên ngai vàng là nước Mỹ bắt đầu lâm vào khủng hoảng tài chính. Nhưng "gái đã có công thì chồng đâu có phụ". Tuy Tổng thống B.Obama chưa có cơ hội để ra một chỉ dụ đền đáp ơn sâu đối với các nhà đầu tư chính trị cánh hẩu như người tiền nhiệm đã làm, nhưng ông cũng đã có cách khác

Trong số các ngân hàng được nhận hàng chục triệu USD từ gói cứu trợ của Chính phủ ngay khi bắt đầu suy thoái kinh tế có 3 "trùm" trong giới tài chính-ngân hàng là Goldman Sachs, JPMorgan Chase và Citigroup. Đây là ba trong 10 nhà tài trợ hàng đầu của B.Obama trong chiến dịch tranh cử năm 2008

…Chờ mỏi mắt

Khẩu hiệu tranh cử của ông B.Obama là thay đổi (change) và thay đổi lớn nhất đã diễn ra ngay trong thời gian vận động tranh cử Tổng thống là tăng số tiền chi tiêu. Con số đó năm 1996 mới là 478 triệu USD, năm 2000 - 649,5 triệu USD, năm 2004 - 1.016,5 triệu USD, còn năm 2008 - khoảng 2.400 triệu USD

Thay đổi lớn thứ hai là nghịch cảnh "một và chín chín" dẫn tới phong trào "Hãy chiếm lấy phố Wall". Tuy nhiên, nghịch cảnh này là căn bệnh hệ thống và ngày càng trầm kha do hệ quả từ những bất cập trong chính sách cả về đối ngoại và đối nội trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống G.W.Bush

Những cuộc "đi đêm" giữa giới doanh nhân với giới chính trị Mỹ đã làm cho kẻ đã giàu thì lại càng giàu thêm và người nghèo thì lại càng bần cùng hơn. Khủng khiếp hơn nữa là còn đẩy đất nước phải dính líu vào chiến tranh. Đằng sau hai cuộc chiến hao người, tốn của mà Chính quyền G.W.Bush tiến hành ở Ápganixtan và Irắc nhân danh lợi ích quốc gia, có thể thấy rõ bàn tay uốn éo đưa đẩy của giới trùm buôn bán vũ khí và dầu lửa ở Mỹ. Lợi ích quốc gia vẫn chỉ là một phạm trù trừu tượng. Cần phải làm rõ hơn: đó là lợi ích của ai và vì ai trên thực tế

Khi G.W.Bush rời Nhà trắng thì những thành quả kinh tế của Chính quyền B.Clinton vun đắp trong hai nhiệm kỳ cũng "cuốn theo chiều gió". Điều gì phải đến thì đã đến. Khủng hoảng tài chính bùng phát và Tổng thống B.Obama đành phải "đổ vỏ"

Tuy nhiên, cái "hộp đen" ma quái của nền kinh tế Mỹ đã không chiều những ý tưởng tốt đẹp của ông B.Obama. Trong khi nạn thất nghiệp tăng tới gần 10% và Chính phủ Mỹ phải tung hàng trăm tỷ USD để cứu các ngân hàng khỏi bờ vực phá sản, thì lương thưởng của các giám đốc điều hành (CEO) trên Phố Wall lại cao ngất ngưởng. Tháng 3-2009, dư luận Mỹ đã sôi lên khi hay tin 165 triệu USD đã được Tập đoàn Bảo hiểm AIG thưởng cho nhân viên làm việc ở bộ phận sản phẩm tài chính

Một báo cáo của Viện Nghiên cứu chính sách (IPS) Mỹ cho biết, chỉ hơn một năm sau sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ, tiền lương của các CEO ở phố Wall đã bắt đầu tăng trở lại mức trước khủng hoảng. Chênh lệch tiền lương giữa một CEO được trả thưởng cao và một công nhân bình thường ở Mỹ đang ở mức gần như cao nhất từ trước đến nay: 319/1 USD

Theo báo cáo này, 100 công nhân bình thường ở Mỹ có thu nhập 18,08 USD/giờ (31.589 USD/năm) sẽ phải lao động quần quật 1.000 năm mới kiếm được hàng tỷ USD như các CEO được thưởng lớn. Hạ nghị sỹ đảng Dân chủ J. Groven tuyên bố: "Việc trả thưởng cho các nhà quản lý ngân hàng đã vượt quá ngưỡng kiểm soát. Họ ngồi trên đống tiền, trong khi nhiều người dân Mỹ vẫn phải vật lộn để có việc làm và không bị mất nhà ở"

Năm 1995, Thomas Feguson đã trình làng cuốn "Nguyên tắc Vàng: Thuyết đầu tư trong cạnh tranh đảng phái và logic của các hệ thống chính trị đua tranh bằng tiền" (Golden Rule: The Investment Theory of Party Competition and the Logic of Money-Driven Political Systems), trong đó tác giả đã phải cay đắng thừa nhận "Nguyên tắc Vàng" của nền chính trị Mỹ đương đại

"Muốn biết ai cai trị đất nước, hãy lần theo dấu vết của vàng" (To discover who rules, follow the gold.) Adam Kranz - một độc giả Mỹ, sau khi đọc cuốn sách này của Thomas Feguson, đã phải ngậm ngùi: "từ trước đến nay cứ tưởng rằng ở Mỹ có nền dân chủ

Trên thực tế, sự bất bình đẳng về kinh tế (hố sâu rộng ngăn cách giàu nghèo) đã chặn đứng ảnh hưởng thực tế của đại đa số dân chúng tới các cuộc bầu cử lớn nhỏ ở Mỹ. Những doanh nghiệp lớn đang kiểm soát nền chính trị Mỹ. Để có nền dân chủ thực sự, cần phải có cuộc cải cách sâu rộng trong bầu cử v.v."

Thế nhưng mới đây, đương kim Tổng thống B.Obama đã chọn Broderick Johnson làm cố vấn cho chiến dịch tranh cử năm 2012. B.Johnson vốn là nhà loby kỳ cựu của phố Wall. Năm 2007, ông vận động cho JP Morgan Chase, còn năm 2008 ông hậu thuẫn cho Bank of America và Fannie Mae. Từ năm 2008 tới 2010, ông chăm sóc cho Comcast. Năm 2011 ông đã lobby giúp Microsoft...

Từ năm 2009 tới nay, B.Johnson đã tới Nhà Trắng 17 lần gồm cả việc tham gia các sự kiện xã hội và ngày mở cửa Nhà Trắng. Từ năm 2008, B.Johnson đã tài trợ hơn 150.000 USD (tiền của cá nhân) cho các ứng cử viên và chương trình của đảng Dân chủ và chưa bao giờ tài trợ cho các đại biểu Cộng hòa hay bảo thủ

Nhân thân như vậy của B.Johnson rất dễ gây phản ứng xã hội không thuận cho Tổng thống B.Obama trong bối cảnh phong trào "Hãy chiếm lấy phố Wall" đang sôi sục và còn chưa có hồi kết. Nhưng B.Obama vẫn chọn B.Johnson làm cố vấn tranh cử năm 2012. Điều này cho thấy sự ủng hộ của giới tài phiệt ở phố Wall rất cần cho tương lai chính trị tiếp theo của B.Obama và ước mong của công dân Adam Kranz là chính đáng nhưng cũng thật là không tưởng

Tài "chọn mặt gửi vàng" của đương kim Tổng thống B.Obama đã bắt đầu ứng nghiệm. Jon Corzine hiện đang làm cho MF Global Holdings vốn từng là cựu Thống đốc bang New Jersey và cựu Giám đốc điều hành của Goldman Sachs, đã tăng mức tài trợ tranh cử cho B.Obama tới 500.000 USD. Bruce Heyman - Giám đốc quản lý của Goldman Sachs, cùng vợ cũng đã tăng số tiền ủng hộ B.Obama lên khoảng từ 200.000 USD tới 500.000 USD. Còn Robert Wolf - Chủ tịch Ngân hàng Đầu tư UBS đã đẩy số tiền hỗ trợ cho B.Obama tranh cử lên tới ít nhất là nửa triệu USD

Tuy nhiên, có thể số phận chưa chắc đã chiều ông B.Obama lần nữa, vì các ông trùm phố Wall đang "phản pháo" bằng cách ưu tiên hẳn cho ứng cử viên của đảng Cộng hòa Mitt Romney. Tỉ lệ tài trợ của Goldman Sachs cho Mitt Romney và Barack Obama tương ứng là: 352.200 USD và 49.124 USD. Con số tương tự của Morgan Stanley là 184.800 USD và 28.225 USD; của Bank of America là 112.500 USD và 46.699 USD; của JPMorgan Chase là 107.250 USD và 38.039 USD; của Citygroup là 56.550 và 36.887 USD v.v. Nếu chiều hướng này được duy trì và chi phối trên diện rộng cho tới hồi kết sang năm, thì không biết "ai sẽ thắng ai"

Có một đêm, âm hưởng của những bước chân rầm rập của phong trào "Hãy chiếm lấy phố Wall" cộng với tiếng tranh cãi phải "mua" bằng được cuộc bầu cử Tổng thống năm 2012 của các ông trùm phố Wall, đã làm cụ Abraham Lincoln giật mình tỉnh giấc. Cụ cứ vân vi không biết có nên hóa giải lời nguyền ngày xưa của cụ về "Nhà nước của dân, do dân và vì dân" hay không

Mỹ có Học viện đào tạo doanh nhân chính trị

“Chúng ta cần nhiều doanh nghiệp tiến bộ, nhiều nhà lãnh đạo có sức ảnh hưởng với tầm nhìn về một thế giới tốt đẹp và biết cách để đưa chúng ta tới đó. Cho dù đó là chính trị, kinh doanh, công nghệ, phương tiện truyền thông, các lĩnh vực xã hội. Hay nói cách khác, chúng ta cần những nhà lãnh đạo cam kết xây dựng một xã hội có nhiều người thành công, và các doanh nhân, những người biết chấp nhận những rủi ro cần thiết để tạo ra một thế giới công bằng, tiến bộ”

Đây là những điều tâm huyết mà Adam Borelli, Giám đốc điều hành của Hội đồng những nhà lãnh đạo mới (NCL), Mỹ đã viết

Mùa hè vừa qua, Hội đồng này, thực chất là một viện đào tạo lãnh đạo quốc gia hàng đầu vì thế hệ mai sau của các doanh nhân tiến bộ ở Mỹ - đã tổ chức lần thứ 3 theo thông lệ hàng năm cuộc trao Giải thưởng 40 Nhà lãnh đạo dưới 40 tuổi. Giải thưởng này ghi nhận thành công của các nhà lãnh đạo trẻ có tiến bộ trong các lĩnh vực kinh doanh, vận động, truyền thông, và chính trị. NLC tôn vinh thế hệ lãnh đạo hiện tại của Mỹ và truyền cảm hứng cho thế hệ kế tiếp

Công việc của NLC là đào tạo doanh nhân chính trị. Theo tôn chỉ đào tạo ở đây, doanh nhân chính trị là một nhà lãnh đạo không bao giờ cho phép mình tự mãn, là người có quyết tâm tìm giải pháp sáng tạo cho những vấn đề cấp bách nhất của xã hội. Và đó là một người được đào tạo các kỹ năng lãnh đạo cần thiết để đương đầu với những thách thức phức tạp hiện tại và tương lai

Có thể, nhiều nhà lãnh đạo ở các lĩnh vực khác nhau đều tin rằng những thay đổi xã hội khởi nguồn từ những cuộc bầu cử, tin tức hay thời gian gây quỹ... Nhưng NLC nhìn những điều này ở góc độ khác. Họ tin rằng thế hệ lãnh đạo mới cần phải được xây dựng một cách dài hạn, với vốn đầu tư bền vững. Bằng cách đó, họ sẽ đào tạo nên thế hệ lãnh đạo kế tiếp nắm lấy ngọn đuốc soi đường, có tư duy đổi mới, làm việc trên tất cả các lĩnh vực, và sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu lớn hơn của một nhà lãnh đạo

Tháng 5 vừa qua, NLC hoàn thành khóa học tại 11 học viện lãnh đạo trong các thành phố trên khắp đất nước. Điều đó có nghĩa là 191 nghiên cứu sinh sẽ tham gia hàng ngũ các cựu sinh viên và trở thành đại sứ NLC trong cả nước. Thông qua các học viện này, NLC xây dựng cơ sở hạ tầng trí tuệ cho thế hệ lãnh đạo chính trị tiến bộ tiếp theo. Và bằng những hoạt động của mình họ đang xây dựng nền tảng lãnh đạo cho phong trào tiến bộ trong nhiều năm tới. Giải thưởng của họ làm nổi bật, thúc đẩy và tôn vinh những người dám làm nên sự khác biệt

Scandal “rúng động” thành Vienna

Một loạt bê bối tham nhũng bị phanh phui, tiết lộ mối quan hệ mật thiết giữa giới chính trị và thương nhân đã rung chuyển nước Áo. Năm cựu bộ trưởng dưới thời chính quyền liên minh của cựu Thủ tướng Wolfgang Schussel của Đảng Nhân dân Áo, bao gồm cựu Phó Thủ tướng Hubert Gorbach, cựu Bộ trưởng hạ tầng Mathias Reichhold, cựu Bộ trưởng quốc phòng Herbert Scheibner đang bị điều tra. Tất cả bị buộc tội đã nhận tiền hối lộ từ một số nhà đầu tư và công ty, trong đó có Tập đoàn Telekom Austria, để thông qua các đạo luật có lợi cho ngành viễn thông, đồng thời nhắm mắt làm ngơ để các doanh nghiệp này vi phạm luật pháp từ năm 2000-2007

Kẻ đóng vai trò liên hệ giữa Telekom Austria cùng các công ty khác với các chính trị gia Áo là hai nhà vận động hành lang Peter Hochegger và Alfons Mensdoff-Pouilly. Trong vài năm qua, Hochegger đã nhận tới 9,06 triệu euro phí “vận động chính phủ” từ Telekom Austria. Hãng tư vấn của Hochegger cũng nhận 10 triệu euro. Điều tra cho thấy một phần tiền này đã rơi vào túi của cựu Phó Thủ tướng Gorbach và cựu Bộ trưởng Reichhold

Bê bối thứ hai là vụ cựu Bộ trưởng Tài chính Karl-Heinz Grasser (2000-2007) bị cáo buộc biển thủ hàng chục triệu euro từ chương trình bán 60.000 căn hộ nhà nước. Một lần nữa Hochegger và Meischberger nhận được 9,6 triệu euro từ phi vụ này

Trong vụ thứ ba, lý do mà cựu Bộ trưởng nội vụ Ernst Strasser (2000-2004) buộc phải từ chức là do bị cáo buộc nhận hối lộ đến hàng triệu euro, để trao hợp đồng trị giá hàng trăm triệu euro, lắp đặt hệ thống radio kỹ thuật số trong lực lượng cảnh sát cho một công ty. Tháng 3/2011, tờ Sunday Times (Anh) đưa tin ba nghị sĩ châu Âu, trong đó có ông Strasser, đã nhận hối lộ 100.000 euro/năm để đưa ra các đề xuất có lợi cho ngành ngân hàng châu Âu lên Nghị viện châu Âu

Vụ bê bối cuối cùng đang khiến uy tín của đương kim Thủ tướng Werner Faymann sa sút thảm hại. Các công tố viên cáo buộc ông Faymann khi còn là bộ trưởng giao thông hồi năm 2007 đã buộc một số công ty đường sắt và cầu đường nhà nước phải đăng quảng cáo trên một số tờ báo lá cải, làm tiêu tốn 1,6 triệu euro tiền thuế chỉ vì ông này muốn lấy lòng báo chí

Các khảo sát mới đây cho thấy số lượng người Áo quan tâm đến chính trị giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2000, chỉ còn 26%. Bởi theo họ, nền chính trị chỉ phục vụ các doanh nghiệp và giới nhà giàu thay vì người dân bình thường

Các trùm tài phiệt càng thân cậy với giới lãnh đạo đất nước bao nhiêu thì doanh nghiệp của họ càng phát triển nhanh chóng bấy nhiêu. Qua “bản đồ tài phiệt” – biểu đồ độc đáo cho thấy mức độ thân cận giữa các công ty lớn của Nga với chính quyền – và thông tin về các chủ doanh nghiệp lớn mà mọi người đều được quyền tiếp cận, chúng chỉ ra được rằng ở Nga hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng không chỉ bởi các nhân tố kinh tế, mà cả các yếu tố chính trị. Daniel Salter và Vladimir Kuznetsov, Hai nhà phân tích của Unicredit Security

Ở Nga có rất nhiều việc phụ thuộc vào chính trị. Vì vậy, nếu đầu tư chỉ dựa vào kết quả phân tích cơ bản thì sẽ không đem lại hiệu quả, nhất định phải chú ý đến quan hệ của các chủ doanh nghiệp với ban lãnh đạo đất nước. Nếu rủi ro ở Nga trở nên cao quá mức, chúng tôi có thể chuyển sang đầu tư vào chứng khoán của các nước khác, chẳng hạn như Brazil, hay Thổ Nhĩ Kì”. Đây cũng là các nước có tiến hành bầu cử Tổng thống. Yulia Bushueva, Quản lý quỹ The New Kremlin Fund

Khu vực nhạy cảm nhất là nơi chính trị gặp giới kinh doanh, đặc biệt là các ngành viễn thông, đường sắt, năng lượng và cầu đường. Cũng như ở hầu hết các quốc gia, vận động hành lang là hợp pháp ở Áo, vì vậy, theo một nghĩa nào đó, tham nhũng chính trị trong các thương vụ được "outsource" cho các nhà vận động hành lang

Bốn vụ bê bối tham nhũng lớn dính líu đến hàng loạt quan chức cao cấp đã bị lật tẩy vừa qua, gây chấn động dư luận đến mức báo Kurier (Áo) phải than thở rằng bất cứ ai muốn thảo luận về chuyện chính trị tại Áo hiện tại thì phải là “chuyên gia luật hình sự”. Walter Geyer, Công tố viên, lãnh đạo Văn phòng công tố chống tham nhũng Áo

Chúng tôi không chống lại Sở cảnh sát New York. Đây là cuộc biểu tình của 99% dân số Mỹ phản đối quyền lực của 1% người giàu nhất nước. Robert Cammiso, Người biểu tình "Chiếm Phố Wall"

Trên thị trường chứng khoán Mỹ tồn tại quy luật cổ phiếu tăng vào thời điểm sắp diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống. Điều này xảy ra là do các biện pháp dân túy nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp, còn sau đó, khi đã bầu ra được tân Tổng thống thì thị trường lại tụt giảm trở lại. Nửa sau nhiệm kì Tổng thống, cổ phiếu tăng 15%, trong khi 2 năm đầu nhiệm kì lại giảm 3%. (Đó là kết quả trong một công trình nghiên cứu năm 2009 của GS. Roman Kroysl phân tích về tỉ suất lợi nhuận của các công ty theo chỉ số S&P 500 trong các nhiệm kì Tổng thống 4 năm.). GS. Roman Kroysl, Đại học Amsterdam

T.S Nguyễn Đình Luân (http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/BAICHU/2011/11/CD2 98895410A6485/)

LOBBY.VN
11-27-2011, 01:04 AM
Điệp viên nhan nhản hành lang Liên Hiệp Quốc

Hoạt động gián điệp nhộn nhịp với những màn nghe trộm và rỉ tai tại các hành lang LHQ thật ra chẳng là chuyện lạ. Từ giữa năm 2011, giới luật sư làm việc cho Bộ Tư pháp Mỹ thậm chí yêu cầu được lắp thiết bị nghe trộm một cách hợp pháp

Trụ sở Liên Hiệp Quốc (LHQ) đâu chỉ chứng kiến các hoạt động ngoại giao mà còn là đấu trường của gián điệp nhiều nước, đặc biệt là Mỹ. Khi đến LHQ, đặc biệt trong các buổi nói chuyện định kỳ hàng năm tại Đại hội đồng, giới nguyên thủ nước ngoài không chỉ đến với các viên chức ngoại giao, an ninh mà cả tình báo

Họ rải người khắp hành lang LHQ, trà trộn và tuyển mộ chớp nhoáng “tay trong” tại các khách sạn, tiệm càphê, nhà hàng… khắp New York. Tất nhiên nước chủ nhà Mỹ phải tăng cường công tác “phản gián”

Nhan nhản bóng dáng điệp viên

Hoạt động gián điệp nhộn nhịp với những màn nghe trộm và rỉ tai tại các hành lang LHQ thật ra chẳng là chuyện lạ. Từ giữa năm 2011, giới luật sư làm việc cho Bộ Tư pháp Mỹ thậm chí yêu cầu được lắp thiết bị nghe trộm một cách hợp pháp

Văn phòng FBI tại Manhattan có một đơn vị phản gián chịu trách nhiệm “giám sát” giới ngoại giao nước ngoài trong thời gian họ ở New York. Trong khi đó, giới chức ngoại giao nước ngoài cũng nâng cấp kỹ thuật đối đầu. Iran chẳng hạn, họ thường thuê nhiều phòng trong khách sạn khắp New York và thỉnh thoảng hủy cuộc hẹn đặt phòng rồi đặt lại vào phút chót để đánh lừa nhân viên FBI và điệp viên CIA. Một cựu viên chức FBI kể, một nhóm gồm 12 “viên chức ngoại giao” Iran chấp nhận tự nhồi nhét trong một phòng

Một số cơ quan tình báo nước ngoài chẳng hạn như MI-6 của Anh thường hợp tác chặt chẽ với Mỹ tại “đấu trường” LHQ, với điều kiện thông tin thu được phải chia sẻ với cộng đồng tình báo Mỹ. Dù bị cấm hoạt động nội gián trong nước nhưng do trụ sở LHQ được xem là thuộc “lãnh thổ nước ngoài” nên CIA lại được phép thực hiện điệp vụ mật tại LHQ, với sự phối hợp của FBI. Xem xét danh sách đối tượng được cấp visa vào Mỹ, họ tập trung vào những người đến từ các quốc gia “nhạy cảm chính trị” như Iran hay Triều Tiên

Theo AP, việc chuẩn bị cho các hoạt động rình mò giới chức ngoại giao nước ngoài của CIA-FBI có khi mất hàng tháng. Trong nhiều trường hợp, CIA được phép chiêu mộ cấp tốc bằng việc mua chuộc. Trước khi thực hiện chiến dịch quân sự tấn công Baghdad năm 2003 chẳng hạn, CIA đặt ống nhòm vào mục tiêu Naji Sabri (Ngoại trưởng Iraq). Nhà Trắng muốn dò xét xem Sabri có chịu “phản thùng” và thật sự bán đứng Saddam Hussein hay không. CIA nghĩ đến việc sử dụng một tay trung gian để móc nối Sabri

Tháng 9/2002, khi Sabri đến New York, CIA dàn dựng sẵn cuộc phỏng vấn giữa Sabri với một cựu phóng viên nước ngoài đến từ Pháp. Trước kia từng cung cấp thông tin cho tình báo Pháp, tay phóng viên, tự nhận mình “rất thân” với Sabri, đồng ý làm trung gian cho CIA với giá ban đầu là 250.000 USD nhưng sau đó đòi đến 1 triệu USD. Thế là, cùng FBI, CIA lắp hệ thống nghe trộm

Khi tay nhà báo gọi cho Sabri ở Phái bộ Iraq tại trụ sở LHQ, FBI nghe tuốt tuồn tuột và biết chắc rằng Sabri đúng là có quen với tay phóng viên. Cuối cùng, qua tay nhà báo, Sabri được trao một danh sách câu hỏi về chương trình vũ khí hạt nhân Iraq. Sabri trả lời từng câu một, khẳng định rằng Saddam chưa bao giờ sở hữu nguyên liệu chế bom nguyên tử; rằng quả là có nhiều kho vũ khí hóa sinh tại Iraq nhưng Saddam hủy sạch… Toàn bộ câu trả lời của Sabri được CIA đệ trình cho Tổng thống George W. Bush và Phó Tổng thống Dick Cheney

Sau màn thử thách trên, CIA muốn biết thêm rằng liệu Sabri có thật sự muốn đào tẩu khỏi Iraq hay không. Câu trả lời đến vào ngày 19/9/2002, khi Sabri xuất hiện đọc bài diễn văn tại Đại hội đồng LHQ, với bộ vest mà CIA bí mật trao cho đương sự - dấu hiệu ngầm cho biết đương sự muốn bỏ Saddam (tuy nhiên, sau cuộc chiến Iraq 2003, Sabri không ở Mỹ mà sang Syria rồi Ai Cập. Ông này từng là giáo sư văn chương Anh, hiện sống và dạy báo chí tại Qatar)

Đấu trường của hoạt động gián điệp

Đúng là khó có thể biết chính xác ai là viên chức ngoại giao thật sự hoặc người nào là “kẻ gian”, tại một nơi luôn mở cửa cho nhiều thành phần như ở LHQ, từ nhà ngoại giao đến giới báo chí. “Theo tôi, ai cũng muốn do thám kẻ khác và khi xảy ra khủng hoảng, các nước lớn thường do thám nhiều nhất” - phát biểu của Inocencio F. Arias, cựu Đại sứ Tây Ban Nha tại LHQ

Trong nhiều trường hợp, hoạt động nghe trộm của Mỹ diễn ra gần như công khai. Một số chuyên gia cho rằng sẽ là rất không bình thường nếu Chính phủ Mỹ không biết việc cựu Tổng thư ký Kofi Annan bị tình báo Anh nghe trộm

Cựu Tổng thư ký LHQ Boutros Boutros-Ghali (nhiệm kỳ 1992-1996, từng bị Chính phủ Bill Clinton gây áp lực rút khỏi đường đua tái tranh cử) cho biết ngay từ ngày đầu tiên nhậm chức, ông được cảnh báo về nguy cơ văn phòng làm việc có thể bị cài máy nghe lén. Cựu chánh thanh tra vũ khí LHQ Richard Butler cũng kể rằng, ông thường giả vờ tản bộ ngoài công viên trung tâm New York để liên lạc điện thoại bởi văn phòng tại trụ sở LHQ bị cài bọ nghe trộm

Trong thực tế, vấn đề nghe trộm tồn tại từ trước khi một mô hình LHQ thật sự ra đời. Học giả nổi tiếng Stephen Schlesinger (Mỹ) - trong quyển Act of Creation-The Founding of The United Nations (phát hành năm 2003) - cho biết, Washington từng nghe lén các phái đoàn tham gia soạn Hiến chương LHQ để có thể “uốn nắn” nội dung hiến chương theo ý họ và bằng cách này (nghe trộm), Washington có thể “viết Hiến chương LHQ gần như từ phác thảo của riêng mình”.

Thời Chiến tranh lạnh, việc nghe trộm trong LHQ xảy ra như cơm bữa. Arkady Shevchenko - viên chức ngoại giao cao cấp nhất của Liên Xô đầu binh cho Mỹ - từng bị buộc tội làm điệp viên nhị trùng cho Mỹ lẫn Liên Xô bên trong đấu trường LHQ vào thập niên 70 của thế kỷ trước (với tư cách là Phó tổng thư ký LHQ)

Giai đoạn Chiến tranh lạnh, giới chức Liên Xô bị Mỹ giới hạn phạm vi tự do đi lại chỉ trong bán kính 25 dặm (40,23km) quanh trụ sở LHQ. Tuy nhiên, Liên Xô mua cả một khu chung cư tại Bronx (New York) cho giới chức ngoại giao nước mình và thêm một nhà nghỉ bãi biển tại Long Island

“Các mái nhà tại Glen Cove, tòa cao ốc chung cư ở Riverdale, được lắp đầy ăngten để nghe trộm người Mỹ” - cựu điệp viên Arkady Shevchenko viết trong quyển Breaking with Moscow. Có lúc, điệp viên Mỹ và Liên Xô rình rập mọi ngóc ngách trụ sở LHQ, từ phòng hội nghị, phòng họp báo, phòng tổng thư ký đến cả thư viện

Năm 1975, CIA bị bắt “quả tó” khi cài vào phòng báo chí nhìn xuống khu họp Hội đồng Bảo an - UNSC một chuyên gia có kỹ năng “đọc môi” hiểu được những gì người khác nói bằng cách quan sát sự nhép miệng từ khoảng cách xa

Tháng 10/1986, Mỹ từng yêu cầu 55 nhà ngoại giao Liên Xô rời khỏi nước họ bởi “những hoạt động nghe trộm”. Và trong chiến dịch ngoại giao quanh vụ Iraq, tháng 6/2002, Mỹ cũng yêu cầu LHQ sa thải “viên chức ngoại giao” Abdul Rahman Saad (Iraq), sau khi phát hiện ông ta lập kế hoạch tuyển một số công dân Mỹ làm tình báo cho Saddam Hussein…

Trong nhiều trường hợp, với lợi thế chủ nhà, Mỹ phối hợp cùng đồng minh thực hiện các vụ nghe trộm để phục vụ lợi ích riêng. Ngày 26/2/2004, gần một năm sau khi Mỹ lật đổ Saddam Hussein, cựu Bộ trưởng Anh Clare Short tiết lộ với Hãng Thông tấn-Truyền hình BBC rằng, tình báo Anh từng cài máy nghe trộm Văn phòng Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan

Vụ việc nhanh chóng leo thang khi cựu chánh thanh tra vũ khí LHQ Richard Butler nói với một đài phát thanh Australia rằng điện thoại của mình “tất nhiên” cũng bị nghe lén từ 1997-1999 bởi ít nhất bốn thành viên Hội đồng Bảo an (Mỹ, Anh, Pháp và Nga)

Và quả bom cuối cùng được châm từ phóng viên Hãng Thông tấn Australia ABC, Andrew Fowler, với thông tin rằng vài nguồn tin từ Văn phòng đánh giá quốc gia Australia cho biết: họ từng đọc được bản ghi các cuộc điện đàm của nguyên chánh thanh tra vũ khí LHQ Hans Blix…

Clare Short không là người đầu tiên gây chú ý với tiết lộ trên. Trước đó, tờ The Observer từng gióng tiếng chuông đầu tiên khi cung cấp thông tin cho thấy cơ quan Tổng hành dinh thông tin Chính phủ (GCHQ - nơi có chức năng tương tự Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ) từng phối hợp với tình báo Mỹ thực hiện chiến dịch nghe trộm các thành viên UNSC từ cuối tháng 1/2003, khi chiến dịch thuyết phục UNSC ủng hộ cuộc chiến đánh Iraq bắt đầu bế tắc

Hoạt động nghe trộm được chuẩn y từ tổng giám đốc GCHQ David Pepper và có thể liên quan đến Ngoại trưởng Anh Jack Straw (người chịu trách nhiệm tổng quát hoạt động của GCHQ). Mục tiêu bị nghe lén gồm vài thành viên UNSC trong đó có Chile, Bulgaria, Cameroon, Angola, Guinea và Pakistan (những quốc gia có lá phiếu quyết định việc thông qua một nghị quyết thứ 2 nhằm làm cơ sở pháp lý quốc tế để tấn công Iraq)

Vụ việc đổ bể khi The Observer phát hiện vụ một phiên dịch của GCHQ - tên Katherine Gun, 29 tuổi - chuẩn bị đối mặt với phiên xử tội tiết lộ bí mật quốc gia dưới sức ép của Mỹ. Được thuê làm việc tại Trung tâm theo dõi thuộc GCHQ với nhiệm vụ phiên dịch tiếng Hoa, Katherine Gun bị quy kết đánh cắp và tuồn cho báo chí Anh bản ghi nhớ tuyệt mật gửi đến GCHQ từ viên chức Frank Koza thuộc Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA)...

LOBBY.VN
12-05-2011, 09:46 PM
Thủ tướng Ý vận động hành lang cho kế hoạch mới

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/5c670_ic3ankkn2ciy.jpg
Thủ tướng Ý Mario Monti

- Thủ tướng Ý Mario Monti đang vận động hành lang nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ cho kế hoạch thắt lưng buộc bụng và tăng trưởng trị giá 30 tỉ euro (tương đương 40 tỉ đô la Mỹ) để cắt giảm nợ của nước này - khoản nợ lớn thứ hai của khu vực đồng euro (eurozone) - và ngăn chặn sự tan vỡ của eurozone

Ông Monti đã trình kế hoạch trên với đại biểu quốc hội tại Rome và Thượng viện sau khi nội các của ông thông qua vào ngày 4-12, một ngày trước thời hạn

Kế hoạch bao gồm 20 tỉ euro dành cho các biện pháp thắt lưng buộc bụng và 10 tỉ euro cho các đề xuất thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến châu Âu trong hơn một thập kỷ

Trong gói giải pháp thắt lưng buộc bụng, chính phủ sẽ dành 12 tỉ euro cắt giảm chi tiêu, tăng độ tuổi nghỉ hưu của người lao động, phục hồi thuế đối với người mua nhà đầu tiên, chống trốn thuế. Theo kế hoạch này, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ý sẽ tăng 0,4-0,5% vào năm 2012 và sẽ ổn định vào những năm tiếp theo

Bộ trưởng Lao động Ý Fornero cho biết trong tương lai, lương hưu sẽ dựa vào mức đóng góp, cống hiến chứ không phải mức lương theo độ tuổi nghỉ hưu. Tuổi nghỉ hưu của nam sẽ được nâng lên đến 66 tuổi vào năm 2018 và tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sẽ được nâng lên đến mức phù hợp, trường hợp người lao động nghỉ hưu sớm sẽ bị phạt

Ủy viên về kinh tế và tiền tệ châu Âu, ông Olli Rehn, cho biết trong một e-mail tối qua: “Đây là biện pháp kịp thời và đầy tham vọng. Tiềm năng tăng trưởng thấp của nền kinh tế Ý không thể khắc phục qua ngày một ngày hai, nhưng các biện pháp công bố ngày 4-12 sẽ giúp loại bỏ một số điểm nghẽn đe doạ tăng trưởng”

Ông Monti phát biểu: “Chúng tôi đã làm những việc cần thiết để tài chính công của Ý không còn là điểm yếu mà là nguồn sức mạnh của châu Âu. Chúng tôi đã chú trọng đến sự công bằng và đã làm tốt nhất có thể vì mục tiêu chung”

Ông kêu gọi người Ý chuẩn bị tinh thần để thực hiện kế hoạch cứu nước. Ông đã dành cuộc họp cuối tuần với nhà lãnh đạo của các chính đảng, đoàn thể, người sử dụng lao động và nhóm xã hội để tìm sự hỗ trợ cho kế hoạch trên trước khi trình quốc hội

LOBBY.VN
01-03-2012, 01:49 PM
Alibaba thuê công ty vận động hành lang nhằm thâu tóm Yahoo !

Quyết tâm thâu tóm Yahoo!, Alibaba đã thuê công ty vận động hành lang Duberstein Group do cựu nhân viên Nhà Trắng Kenneth Duberstein điều hành để đẩy nhanh tiến trình

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/alibaba.jpg
Jack Ma - CEO của Alibaba cũng bày tỏ mong muốn mua lại Yahoo

Việc Alibaba thuê Duberstein Group được cho là giúp tập đoàn này đối phó với sự phản đối về mặt chính trị của Mỹ trong thương vụ mua lại Yahoo !

Theo tài liệu nộp lên Ủy ban Giao dịch và chứng khoán Hoa Kỳ, Yahoo! sở hữu 40% cổ phần của Alibaba với trị giá khoảng 17 tỷ USD và 35% của Yahoo Nhật Bản. Alibaba đang tìm cách mua lại số cổ phần này trước khi số phận của Yahoo được định đoạt nhưng phía Yahoo dường như muốn bán cho các đối tác khác

Yahoo! tiết lộ rằng công ty đang thảo luận kế hoạch bán 15% cổ phần ở Alibaba và toàn bộ 35% cổ phần Softbank ở Nhật Bản

Do đó, theo động thái mới nhất, cả Soft bank và Alibaba đang cố gắng hình thành một nhóm các nhà đầu tư tài chính nhằm mua lại toàn bộ Yahoo để giành lại số cổ phiếu của mình. Hồi tháng 10/2011, Jack Ma - CEO của Alibaba cũng bày tỏ mong muốn mua lại Yahoo! ngay sau khi Giám đốc điều hành Carol Bartz bị sa thải

Muốn thâu tóm Yahoo! không phải dễ dàng bởi có nhiều tập đoàn khác cũng đang “dòm ngó” thương vụ này nhưng việc kí hợp đồng với Duberstein Group đã thể hiện quyết tâm của Alibaba và hãng vẫn nỗ lực từng bước để có thể đạt được mục tiêu

LOBBY.VN
02-25-2012, 06:38 PM
Lockheed Martin “vận động hành lang” cho F-35 tại Hàn Quốc

- Quyết định cắt giảm số lượng đặt mua chiến đấu cơ thế hệ 5 F-35 Lightning II (sản phẩm của hãng Lockheed Martin) của Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ không ảnh hưởng tới thời hạn bàn giao dòng máy bay này cho không quân Hàn Quốc tại gói thầu F-X3. Thông tin nói trên đã được tuần báo Aviation Week đăng tải

Theo đó, quy mô sản xuất chiến đấu cơ F-35 của Lockheed Martin sẽ đạt khoảng 48 máy bay/năm. Trong năm 2013, Mỹ dự kiến sẽ mua khoảng 29 máy bay thế hệ 5 này. Aviation Week trích lời giám đốc phụ trách khách hàng nước ngoài của chương trình F-35, David Scott, cho biết, Lockheed Martin sẽ không chỉ đảm bảo thời gian chuyển giao F-35 cho Hàn Quốc, mà là cả Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Na Uy và nhiều quốc gia khác

Theo khuôn khổ gói thầu F-X3, tới năm 2016, không quân Hàn Quốc sẽ chi ra 7,9 tỉ USD để mua 60 chiến đấu cơ mới. Tham gia gói thầu này, ngoài F-35, còn có các dòng chiến đấu cơ F-15SE Silent Eagle của hãng Boeing và Eurofighter Typhoon

Giới truyền thông vừa hé lộ thông tin về khả năng tham gia gói thầu này của hãng Saab (Thụy Điển) với sản phẩm JAS-39 Gripen. Dòng chiến đấu cơ thế hệ 5 của Nga là PAK FA lúc đầu cũng dự kiến tham gia thầu, nhưng sau đó đã tự rút lui

Hãng tin Anh Reuters đăng tải, Nhật Bản mới đây tuyên bố sẽ rút khỏi thỏa thuận mua chiến đấu cơ F-35, nếu giá thành dòng chiến đấu cơ này tiếp tục tăng. Hiện tại, Nhật Bản đang có kế hoạch mua 46 máy bay thế hệ 5 này với giá 112 triệu USD/máy bay. 4 chiếc F-35 đầu tiên sẽ phải tới quốc gia mặt trời mọc trong tháng 4 tới

Căn cứ vào các thông tin mới được công bố, giá thành của chiến đấu cơ F-35A bán cho không quân Mỹ là 187,6 triệu USD/ máy bay, còn F-35C là 258,3 triệu USD/máy bay. Tuy nhiên, ông D. Scott khẳng định, giá thành của F-35 sẽ giảm nhiều khi có thêm các đơn hàng quốc tế mới

LOBBY.VN
03-03-2012, 10:40 AM
Những vũ khí bí mật trong chiến tranh kinh tế

Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt... Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại

Đầu tháng 3-2008, công ty sản xuất máy bay châu Âu EADS giành được hợp đồng thế kỷ: Lầu Năm Góc đặt mua 179 máy bay tiếp tế cho không quân Mỹ. Tổng doanh số 35 tỉ USD !

Boeing, đối thủ chính của EADS, kinh hoàng. Bằng cách nào một công ty châu Âu - cho dù có hợp tác với nhóm Northrop Grumman tại Mỹ đi nữa - lại có thể “hớt tay trên” ngay trên sân nhà của nó ?

Lập tức sau đó mọi biện pháp đã được tung ra để đối phó với cái nhục “quốc thể” này, thậm chí cả những thủ đoạn tồi bại. Thoạt đầu, Boeing móc ráp mua lại hợp đồng của đối thủ thông qua một quan chức của Lầu Năm Góc

Thế nhưng khi vị này đã cắn câu của Boeing thì mọi việc vỡ lở. Chính thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng hòa, đã nhảy vào can thiệp và dẹp bỏ vụ mua bán này


Nhiều tác nhân khác cũng nhảy ra hà hơi tiếp sức Boeing tấn công lại đối thủ của mình. Các đòn trả đũa chủ yếu được tiến hành bởi Trung tâm Phụ trách chính sách an ninh (CSP), một cơ quan bao gồm những bộ não chuyên vạch ra các chính sách chiến lược của Mỹ, có quan hệ thân cận với phe tân bảo thủ và giới công nghiệp quân sự Mỹ. CSP tung ra một cuộc chiến thông tin chống lại EADS

Trên Internet, họ tố giác EADS lừa gạt dư luận Mỹ khi ngụy trang EADS như một công ty Mỹ: xuất hiện một sô quảng cáo trong đó đưa lên hình ảnh các nhân viên Mỹ được EADS trả lương. Đòn kế tiếp: CSP tố cáo thẳng thừng EADS và nước Pháp dùng thủ đoạn tình báo đối với các công ty Mỹ mà không hề có bằng chứng nào !

Và đòn sau cùng: quả quyết EADS cung cấp vũ khí cho chế độ của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez bất chấp lệnh cấm vận chính thức. Christian Harbulot, giám đốc Trường đào tạo chiến tranh kinh tế, giải thích: “CSP bào chế những bài báo và tư liệu gửi đến các nhân vật lãnh đạo công luận tại Mỹ để họ xuất hiện trên website của mình. Bởi thế, sức phản hồi thật khủng khiếp”

Từ 15 năm qua, các báo cáo thương mại đều làm như rất tiến bộ. “Người Mỹ thích huyên thuyên về cạnh tranh và cạnh tranh. Nhưng đúng là đã có một cuộc chiến giành giật thị trường. Và để chiến thắng, mọi phương tiện đều tốt: lobby, móc nối, gây rối loạn hàng ngũ đối phương...” - Christian Harbulot nói tiếp

Các nhà tình báo kinh tế chuyên nghiệp lập ra những “đơn vị tàng hình” bố trí trên trận địa tàn khốc này. Phục vụ các công ty đa quốc gia cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ được thuê mướn để bảo vệ khách hàng của mình khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài hay theo phò tá trong các cuộc chinh phục thị trường

Nói rằng những chiến binh cổ trắng - trí thức - này luôn biết tôn trọng “luật chơi” là... hàm hồ! Tuy nhiên phần lớn các phương pháp của họ đều hoàn toàn... hợp pháp

Trong thế giới kỹ thuật số, nơi 90% thông tin đều có thể lấy được qua Internet, báo chí, hội thảo... bước đầu tiên của một nhà tình báo kinh tế là thu gom tư liệu. 90% thông tin này được gọi là “trắng”, còn 10% thuộc loại mơ hồ

Thông tin được gọi là “xám” khi thu thập được bằng phương tiện không chính đáng. Chẳng hạn giả dạng nhà báo để biết rõ hơn về chiến lược của một công ty. Thông tin gọi là “đen” khi được thu thập hoàn toàn bất hợp pháp, như xâm nhập hệ thống vi tính hay đánh cắp laptop trên xe lửa

Không có quy luật, chẳng có quy tắc đạo đức nào để ngăn chặn các hành động đó. Chỉ có biện pháp trừng phạt duy nhất là làm mất uy tín của công ty đó trước mắt cổ đông và khách hàng... hay kiện ra tòa khi mọi việc đã diễn tiến tồi tệ

Muốn dự kiến tình hình, phải biết rõ đối thủ của mình: Họ có mạnh không ?

Họ thật sự có khả năng đầu tư không? Chiến lược phát triển của họ là gì ?

Trong phòng thí nghiệm của họ đang có những cải tiến nào đủ sức làm đảo lộn thị trường? Nguồn vốn bị xé lẻ có làm họ yếu đi không?

Có thể mua đứt họ được không? Những nhân vật then chốt của họ là ai? Tất cả thông tin này sẽ giúp dựng nên một chân dung và môi trường của mục tiêu

Muốn có được những thông tin đó không thể chỉ dựa vào các tạp chí kinh tế hay sục sạo trên Internet. Phải biết khởi động mạng lưới các chuyên gia để đánh trúng cửa: nhà luật học, phân tích thị trường, chuyên gia lobby...

“Nhưng cũng cần đến cả các tác giả đoạt giải Nobel kinh tế, các quan chức lớn đã về hưu hay các ông cựu bộ trưởng” như lời khuyến cáo của một chuyên gia chuyên thực hiện những hoạt động này

Cũng phải thêm: “Ngay cả những kẻ vô danh vẫn có thể giúp ta tiếp cận mục tiêu. Chẳng hạn ông thầy dạy đánh tennis của một quan chức tài chính”

Các viện bào chế dược là khách hàng lớn của văn phòng tình báo kinh tế

Cách nay hai năm, một hãng bào chế dược của Pháp tiếp cận một công ty Mỹ để tìm cách mua lại nó. Hai bên đã đồng ý trên nguyên tắc nhưng không ai đưa ra trước giá bán hay giá mua. Khi đó bên dự định mua liên hệ với một văn phòng tình báo kinh tế tại Paris

Mục tiêu: ước tính tổng giá trị của công ty Mỹ này. Văn phòng tình báo đã tiếp cận một số thành viên thuộc ban lãnh đạo của công ty Mỹ, thông qua các nhà báo tài chính và chuyên gia phân tích kinh tế “có vẻ vô tội”

Khi nắm được đầy đủ thông tin, vụ mua bán có thể được kết thúc chỉ trong vài ngày: người Mỹ sẵn sàng bán lại với giá tối thiểu 115 triệu euro, thấp hơn ước tính của công ty Pháp đến 35 triệu euro. Một số tiền tiết giảm khổng lồ ! Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó

Văn phòng tình báo tại Paris cũng tiếp cận nhân viên phòng nghiên cứu và phát triển của công ty Mỹ và phát hiện công ty này rất lo sợ một sản phẩm cạnh tranh mới sắp được tung ra thị trường, do một công ty nhỏ và vừa của Pháp đã chế tạo thành công

Kết quả: thay vì bỏ ra 115 triệu để mua đối thủ Mỹ, họ chỉ cần mua bản quyền sản phẩm của công ty nhỏ nọ để... sản xuất. Và giá mua chỉ 200.000 euro !

Bào chế dược, một lĩnh vực cực kỳ cạnh tranh, luôn là khách hàng lớn của các văn phòng tình báo kinh tế. Trong các hội chợ chuyên ngành, nhiều “điệp viên” thường được tuyển mộ để canh chừng những gian hàng kế bên. Họ rình rập ngày đêm xem khách hàng của đối thủ, nghe những người khách nói chuyện gì, theo dõi chuyện mua bán của những người đó để biết nhu cầu đặt hàng

Một nhà tư vấn giải thích: “Loại rình rập này rất hữu hiệu để bảo vệ uy tín của mình và triệt hạ đối phương”. Một điệp viên theo dõi ông chủ người Anglo - Saxon tiết lộ: “Mục tiêu là tìm hiểu chiến lược của ông ta, các đối tác và nhất là những tiếp xúc. Tôi phải biết lịch làm việc của ông ta. Những người mà ông ta phải gặp: nhà báo, nhà tài chính, luật sư, chuyên gia lobby, chính trị gia...”

Bị tấn công, các công ty phải chống đỡ. Ở các thị trường Đông Âu hay châu Á, nơi luật pháp còn lỏng lẻo, các công ty châu Âu và Mỹ phải làm thế nào để có thể tìm được người hợp tác ?

Một văn phòng tình báo kinh tế của Anh cho biết: “Chúng tôi làm việc được một năm tại một quốc gia ở Đông Âu. Chúng tôi phát hiện một chiến lược rất tinh quái để thu hút các công ty đa quốc gia châu Âu và Mỹ vào tròng. Tròng ở đây là để các công ty này đầu tư những khoản tiền khổng lồ vào các nhà máy sản xuất để sau đó... thanh tra tài chính nhằm tìm cớ tịch thu nhà máy hiện đại đó, hoặc bán lại với giá rất cao các cổ phần rất nhỏ mà họ đang nắm giữ”

Nạn nhân của những đòn phép tương tự như thế là Công ty ngũ cốc Mỹ Bunge. Sau khi mua lại một nhà máy sản xuất dầu ăn tại Dniepropetrovsk, Ukraine với giá vài triệu USD, Bunge đã phải hứng chịu rất nhiều đòn tấn công. Thoạt đầu, Bunge trở thành nạn nhân của đòn thông tin thất thiệt

Nhà máy của Bunge bị kết án làm ô nhiễm môi trường. Lời cáo buộc này đã bị bác bỏ sau đó bởi một cuộc điều tra của hội đồng thành phố

Thông qua một công ty nhỏ, “ông trùm” tìm cách mua lại cổ phần của công nhân để kiểm soát nhà máy bằng cách dùng đến luật pháp để gây rắc rối. Sau đó công ty nhỏ này đòi chia thêm nhiều cổ phần hơn cho công nhân bằng cách lấy cớ Bunge đã mua lại nó với giá rẻ bèo. Đến nay, cuộc tranh chấp giữa Bunge và “ông trùm” Ukraine còn chưa kết thúc

Muốn điều tra có hiệu quả tại những nơi này phải không tiếc tiền để mua cho được những người trung gian quý giá. Nhất là những người làm trong các cơ quan an ninh, cảnh sát, nghiệp đoàn hay trong chính phủ. Một chuyên gia đã từng làm việc cho các công ty thời trang và dược của phương Tây tiết lộ

“Không thể nào có được thông tin quý giá và đáng tin cậy về một công ty xuất khẩu hàng giả mà không phải trả phí dịch vụ cho một nhân viên hải quan để y cung cấp chứng cớ chủ chốt”

Vấn đề trở nên phức tạp khi đối thủ không chỉ là một công ty mà là nhà nước! Nhiều chính phủ không ngần ngại bảo vệ các công ty đa quốc gia của mình bằng mọi giá. Vô địch trong chuyện này là những người Anglo - Saxon !

Đầu những năm 1990, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đã xác định các ưu tiên mới của mình: quyền lợi kinh tế quốc gia. Bộ máy nhà nước được tổ chức lại để phục vụ quyền lợi các công ty !

Một hội đồng an ninh kinh tế được thành lập và được đặt ngang hàng với Hội đồng An ninh quốc gia, nghĩa là ngang hàng với... Nhà Trắng ! Mục tiêu của hội đồng này là thông tin cho tổng thống Mỹ để ông kịp thời đưa ra những biện pháp đúng nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh tế của nước Mỹ

Bên cạnh đó, Bộ Thương mại thành lập Advocacy Center (một trung tâm cảnh giới) để theo dõi các đơn hàng gọi thầu quốc tế vượt trên 1 tỉ USD và mời gọi các công ty Mỹ dự thầu ! 16 cơ quan tình báo và an ninh quốc gia (CIA, FBI, NSA...) đều có mặt trong trung tâm này

Khi một thị trường có nguy cơ vượt khỏi tầm tay “made in USA”, chính phủ có thể triệu tập ngay một dạng “phòng chiến tranh” (war room) huy động mọi phương tiện có được để giành chiến thắng cho Mỹ

Người mỹ không hề giấu giếm: Họ theo dõi các đồng minh của mình ngay khi xuất hiện một hợp đồng quan trọng !

Hai trường hợp như thế đã xảy ra trong những năm 1990: bán thiết bị báo động điện tử rừng Amazon cho Brazil và bán máy bay đường dài cho Saudi Arabia. Đương đầu với Mỹ, Pháp đã thua trắng. NSA nghe lén cuộc nói chuyện của các nhà thương thuyết Pháp và cung cấp cho báo chí bằng chứng... hối lộ của họ ! Người Mỹ không hề giấu giếm: họ theo dõi ngay cả những đồng minh của mình khi ai đó toan tính vượt qua lằn ranh màu vàng

Ít nhất đó cũng là thú nhận của cựu giám đốc CIA James R. Woosley (1993-1995) trong một bài báo viết trên tờ Wall Street Journal ngày 17-3-2000 mang tựa: Vì sao chúng ta theo dõi đồng minh ?

Chính phủ Mỹ còn công bố cả danh sách các thị trường mà họ đã từng giúp các công ty chiếm đoạt được. Trong khoảng năm 1994-1997, họ đã góp phần thành công cho 11 hợp đồng trị giá 18 tỉ USD, mang lại hàng ngàn công ăn việc làm

Các nước khác thì sao? Ngoài Nhật Bản, từng dẫn đầu trong chuyện này cho đến cuối những năm 1980, phần còn lại của thế giới cũng đang hành động. Pháp bừng tỉnh từ giữa những năm 1990. Năm 1994, chính phủ nước này cho công bố một báo cáo của cảnh sát trong đó nhìn nhận chiến tranh kinh tế đang diễn ra ác liệt

Báo cáo cũng giải thích những nét chính trong học thuyết chiến tranh mới này của Nhật Bản và Mỹ song phần nghiên cứu từng trường hợp (trong y dược và hàng không) đã bị cắt bỏ vì Chính phủ Pháp sợ lộ ra sự thiếu phối hợp giữa nhà nước và các công ty của mình

Hội đồng cạnh tranh và an ninh kinh tế (CCSE) quy tụ bảy ông chủ xí nghiệp lớn được thành lập dưới thời chính phủ Balladur, nhưng không hoạt động. Mãi đến năm 2003 khi bản báo cáo Caryon của dân biểu Tarn ra đời thì vấn đề mới được hâm nóng trở lại

Trong báo cáo này, Tarn đả kích chính phủ đã không giao nhiệm vụ bảo vệ các công ty Pháp cho Cục Giám sát lãnh thổ (DST) phụ trách. Năm tháng sau đó, một quan chức cao cấp phụ trách tình báo kinh tế được bổ nhiệm. Đó là Alain Juillet, nhân vật số 2 của Tổng cục An ninh đối ngoại (DGSE)

Cơ quan này trực thuộc phủ thủ tướng, có nhiệm vụ soạn thảo bộ khung tổ chức, lập mạng lưới chuyên gia từ các bộ, thành lập liên hiệp các cơ quan tình báo kinh tế, thành lập hai quỹ đầu tư. Trung tâm Tình báo kinh tế và lãnh thổ (CIET) cũng được thành lập năm 2003 với nhiệm vụ chính là giám sát kỹ thuật sản phẩm và các thị trường. CIET huy động 4.000 công ty xoay quanh đề tài an ninh

Trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ thương mại không hề được hoan nghênh. Song người Mỹ lại đang ra sức bảo vệ các con cờ của mình một cách triệt để. Họ từ chối yêu cầu của người Ả Rập muốn mua lại sáu hải cảng của nước Mỹ. Họ không cho phép người Trung Quốc mua lại Công ty dầu hỏa Unocal

LOBBY.VN
05-01-2012, 06:33 PM
Bài học lobby và cơ hội cho Việt Nam

- Một cơ hội làm ăn: Chủ tịch Hạ viện thứ 106 Hoa Kỳ, Lobbyist nổi tiếng, TS Bob Livingston đến VN vào tháng 5 này

Có lẽ hơn lúc nào hết, câu nói bất hủ “Làm ăn với Mỹ phải biết lobby” của giới doanh nhân toàn cầu đang ngày càng trở nên rõ ràng và cụ thể trong hoàn cảnh kinh tế thế giới hiện tại

Vận động hành lang (lobby) được hiểu là những hoạt động hậu trường thường thấy ở nhiều nước trên thế giới. Qua hoạt động này, những người vận động (là người chuyển tải quan điểm của một bộ phận dân cư trong xã hội) có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới những thành viên của cơ quan lập pháp, thuyết phục họ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi lập pháp mới để đạt được kết quả như những người vận động hành lang mong muốn

Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa - chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này

Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật tại quốc gia này

Trong phạm trù kinh tế thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược và kế hoạch, chương trình lobby cụ thể với Mỹ. Phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa có thói quen làm việc với luật sư và chuyên gia lobby vì không thấy được những hiệu quả rõ ràng trước mắt

Nếu vai trò của người luật sư là cần thiết trong làm ăn với Mỹ thì vai trò của người lobby cũng quan trọng không kém, vì họ là người giúp ngừa những căn bệnh lớn có tầm chiến lược và giúp giảm đau, chóng hồi phục khi bị bệnh

Từ sau Chiến tranh Thế giới lần 2 đến nay, các hoạt động lobby nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền, từ thị trường, từ xã hội Mỹ

Cho tới nay, đã có rất nhiều nước thực hiện thành công chiến lược lobby tại Mỹ. Bài học của Israel là rõ ràng nhất. Bằng sự năng động của giới vận động hành lang Do Thái, cụ thể là Uỷ ban Quan hệ công cộng Mỹ-Israel (AIPAC), Israel đã nhận được sự hậu thuẫn của Mỹ trong hàng loạt vấn đề, kể cả việc dựng hàng rào an ninh trên vùng lãnh thổ tranh chấp với Palestine

Ở khu vực Châu Á và Đông Nam Á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, cho đến năm 2004, các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campuchia, Hongkong, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Philippines đều có các khoản chi phí từ vài trăm nghìn USD đến hàng chục triệu USD cho hoạt động lobby ở Mỹ

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/lobby.jpg
Nhiều vấn đề quan trọng thường được quyết định ở hành lang

Người lobby (lobbyist) ở Mỹ có thể đại diện bất cứ một cá nhân, tập thể, chính trị, xã hội, kinh tế, thương mại nào, kể cả những cá nhân, tập thể Chính phủ nước ngoài, chỉ với điều kiện là họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ

Phần lớn những người lobby là những quan chức hồi hưu, những chuyên viên từng làm việc ở Quốc Hội, một số luật sư có kinh nghiệm chuyên ngành (của thân chủ họ)

Những người lobby có tên tuổi lớn thường là những cựu bộ trưởng, thủ tướng, tướng lãnh (sao nào cũng có), cố vấn, trợ lý của tổng thống, dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm những chức vụ chủ chốt ở Quốc hội, ngay cả những cựu Tổng giám đốc Cục Tình báo TƯ Mỹ

Trường hợp của Nghị sĩ Bob Livingston là một ví dụ điển hình. Bob Livingston là Chủ tịch Hạ viện thứ 106 Hoa Kỳ, Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch của Tập đoàn Livingston Group LLC

Tập đoàn Livingston là một Tập đoàn đa lĩnh vực, Tập đoàn vận động hành lang số 1 của nước Mỹ, có mạng lưới trải rộng trên khắp thế giới, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động như Dầu khí, Năng lượng, Ngân hàng và các Dịch vụ Tài chính, Tư vấn Đầu tư, An ninh mạng, Quốc phòng, Công nghệ và An ninh quốc gia, Giáo dục và các Tổ chức Phi lợi nhuận, Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Thuế, Dược phẩm và Y tế quốc tế, Khoa học, Công nghệ viễn thông, Vận tải, Giao nhận, Đóng tàu và Cảng biển

Điều đặc biệt ở đây là, Tập đoàn Livingston Group LLC của Chủ tịch Hạ viện thứ 106 Hoa Kỳ, Tiến sỹ Bob Livingston lại là đại diện quyền lợi toàn cầu cho Chính phủ Quốc đảo Cayman, Chính phủ Ai Cập, Cộng hòa Azerbaijan, Cộng hòa Công gô, Cộng hòa Ecuador, cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Ma rốc…và hàng loạt Chính phủ của các quốc gia khác trên thế giới

Tập đoàn Livingston còn là đại diện quyền lợi của rất nhiều các thương hiệu tên tuổi hàng đầu Thế giới như Rolls - Royce, Lockheed Martin, Tập đoàn Hàng không Vũ trụ Quốc phòng Châu Âu (EADS), Phòng Thương mại Hoa Kỳ, Verizon, John Wickerman, Đại học George Washington, Đại học Tulane, Goodyear, MERSCorp, Northrop Grumman, Oracle, Raytheon…và nhiều thương hiệu tên tuổi khác

Các thành viên trị sự cũng như cố vấn của Tập đoàn Livingston Group LLC đều là các Chính khách, các thành viên nội các của các đời Tổng thống Hoa Kỳ như Tổng thống George H Bush, Tổng thống George W Bush, Tổng thống Bill Clinton, Tổng thống Barack Obama

Tháng 5/2012 này, Tiến sỹ Bob Livingston quay trở lại Việt Nam theo lời mời của Tập đoàn Link World Unlimited International Event LLC

Liệu Việt Nam có thực sự là điểm đến của các Đế chế Kinh tế Thế giới hay không ?

Liệu các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam có tận dụng cơ hội đặc biệt trong chuyến công du Việt Nam vào tháng 5/2012 của chuyên gia lobby Tiến sỹ Bob Livingston cùng Tỷ phú Mike Ryan?

Tân Ngọc (http://dvt.vn/20120430060121268p100c102/bai-hoc-lobby-va-co-hoi-cho-viet-nam.htm)

LOBBY.VN
05-06-2012, 02:29 PM
Google chi tiền “khủng” để “vận động hành lang”

- Để giúp các thương vụ cũng như các hoạt động của mình được “trơn tru” hơn, Google đã bỏ ra số tiền khổng lồ để “vận động hành lang” Quốc hội Mỹ. Số tiền này lớn hơn nhiều số tiền mà các “ông lớn công nghệ” khác bỏ ra với mục đích tương tự

Thông tin trên mới được Hạ viện Mỹ đưa ra. Cụ thể, Google đã bỏ ra số tiền kỷ lục, lên đến 5 triệu USD để “vận động hành lang” Quốc hội Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm nay. Số tiền này tăng gấp 240% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng hơn 30% so với Quý IV năm 2011

Số tiền mà Google bỏ ra cao hơn cả số tiền của Microsoft, Apple, Yahoo và Facebook cộng lại, với mục đích tương tự, trong cùng khoảng thời gian. Trước Google, Microsoft chính là hãng công nghệ bỏ ra số tiền lớn nhất nhằm mục đích “vận động hành lang” cho đến giữa năm ngoái

Google đã thực hiện những cuộc “vận động hành lang” để bảo vệ mình khỏi những cuộc điều tra riêng tư, chống độc quyền và lập hóa đơn của công ty

Trước đó, Google là mục tiêu của cuộc điều tra chống độc quyền được thực hiện bởi Ủy ban Thương mại Liên bang, nhằm điều tra những cáo buộc về việc Google lợi dụng vị thế thống trị của mình trên thị trường tìm kiếm để áp đặt cách thức hoạt động và cạnh tranh không lành mạnh

Mới đây nhất, Google đã bỏ ra số tiền phạt 25 ngàn USD cho Ủy ban Truyền thông Liên Bang để ngừng điều tra cáo buộc các xe hơi chụp ảnh đường phố Street View của Google thu thập trái phép dữ liệu từ những mạng Wifi công cộng không được đặt mật khẩu

Trong tháng 2 vừa qua, Google đã thuê cựu Nghị sĩ Susan Molinari để làm trưởng văn phòng của Google tại thủ đô Washington DC, với mục đích giúp Google “xích lại gần” hơn với chính phủ Mỹ và chính phủ nhiều quốc gia khác

Bản báo cáo cũng cho thấy Google đã rất tích cực vận động hành lang để chống lại dự luật Ngăn chặn vi phạm bản quyền trực tuyến (SOPA), dự luật về Chống giả mạo thương mại (ACTA), dự luật Bảo vệ và chia sẻ thông tin tình báo trực tuyến (CISPA), hay dự luật Bảo vệ quyền cá nhân của người dùng…

Google chính là một trong những hãng công nghệ phản đối gay gắt nhất dự luậ SOPA, dự luật được cho là sẽ “giết chết Internet” nếu được thông qua

Hiện tại Google chưa đưa ra bất kỳ bình luận nào về bản báo cáo được Hạ Viện Mỹ đưa ra

LOBBY.VN
05-09-2012, 10:21 PM
Lobby Roman Janoušek & Vụ tai nạn giao thông liên quan đến người Việt

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/314813-gallery1-5muir.jpg
Roman Janoušek bị cảnh sát bắt giữ

Roman Janoušek – cái tên đang tràn ngập trên các trang báo giấy cũng như báo điện tử ở Czech

Ông là một doanh nhân, đã từng là chủ hay đồng sở hữu nhiều công ty kinh doanh trong ngành in ấn. Bắt đầu giàu lên từ nguồn tiền của nhà nước cấp cho các dự án, đầu tiên là dự án phòng chống ma túy và từ khi đó (đầu những năm 90) ông đã làm quen với bác sỹ Pavel Bém, khi đó là chuyên gia về cai nghiện ma túy, sau đó là Quận trưởng quận 6 – Praha, rồi làm Thị trưởng thủ đô Praha và hiện nay đang là nghị sỹ Hạ viện Czech

Mấy ngày đầu tuần trước, các báo đăng tải cuộc nói chuyện điện thoại giữa hai ông Janoušek và Bém ( không hiểu vì sao đã bị lộ ra ngoài từ BIS- Cơ quan tình báo an ninh) và từ nội dung các cuộc điện thoại đó người ta đã nghi ngờ rằng, ông Janoušek đã có ảnh hưởng rất lớn tới Thị trưởng Bém, khi ông đang cầm quyền ở Praha

Rằng, ông Janoušek đã dính dáng, tác động tới các quyết định về nhân sự, về các gói thầu, về quy hoạch đất đai trên lãnh địa Thủ đô…

Ông Janoušek vì thế được mệnh danh là người chuyên “vận động hành lang” hay ngắn gọn là “kẻ buôn vua” có thế lực và nổi tiếng nhất của đất Praha

Đúng là “họa vô đơn chí”! Hôm thứ Sáu, ông Janoušek đã bị cảnh sát rượt đuổi và bắt giữ. Nguyên nhân chỉ vì lúc đầu đã đâm nhẹ vào sau xe của một phụ nữ người Việt. Nếu chỉ có va quệt xe ô tô, thì đó là chuyện “thường ngày ở huyện”

Nhưng khi chị lái xe bước ra khỏi xe, chắc để xem xét tình trạng hỏng hóc và để đối thoại về tai nạn giao thông với người lái xe đâm đằng sau ( ông Janoušek đi xe khủng hiệu Porsche), thì ông Janoušek đã đâm vào người phụ nữ đó, khiến chị ta bị ngã lộn, lăn qua cả nóc xe, rồi bỏ chạy

Phụ nữ gốc Việt bị thương nặng, gẫy mấy xương sườn và nhiều bộ phận cơ thể, đặc biệt là sọ não bị tổn thương nặng. Chị đã được đưa vào bệnh viện Motol cấp cứu. Còn ông Janoušek đã phóng xe bỏ chạy, sau đó bỏ cả xe bên đường rồi chạy bộ hòng tẩu thoát

Nhưng cảnh sát đã rượt đuổi ráo riết và “ tóm” được. Sau đó cảnh sát đã cho ông ta thổi xét nghiệm và chỉ số độ cồn là 2,2 phần nghìn. Tất nhiên rồi, không thì điên gì mà bỏ chạy(?)

Sau mấy tiếng tra hỏi trong tổng hành dinh cảnh sát thủ đô, ông Janoušek đã được thả ra mà không hề bị truy tố vì tội gì cả. Cảnh sát nói rằng, họ còn phải hỏi rất nhiều nhân chứng khác, sau đó mới đi đến quyết định truy tố và như vậy thì không có lý do gì để tạm giam giữ ông ta cả, dù chỉ có tới 24 tiếng

Trong khi đó, các luật sư thì khẳng định rằng, ông ta phải bị tạm giam ngay lập tức sau khi phải bị tống đạt lệch truy tố với 3 tội danh là

1. Gây tai nạn làm thiệt hại đến sức khỏe người khác

2. Không kịp thời cấp cứu người bị nạn

3. Lái xe gây tai nạn trong tình trạng say xỉn

Và vì vậy, ngày hôm nay, Tổng trưởng cảnh sát quốc gia Petr Lessy đã ra lệnh cho thẩm tra lại cả quá trình thực thi nghiệm vụ của cảnh sát Praha trong vụ tai nạn do ông Janoušek gây ra

Ông Tổng cục trưởng muốn thẩm tra xem cảnh sát có làm đúng trách nhiệm và theo đúng quy trình trong công tác điều tra hay không, vì có những tin “ thêu dệt” của truyền thông đã không đồng ý với cách thức làm việc của cảnh sát trong vụ tai nạn giao thông này, nhất là lại có dính dáng đến nhân vật rất nổi tiếng này

Và cơ quan điều tra nội bộ thuộc Tổng cục cảnh sát sẽ đảm trách việc điều tra. Ông Lessy yêu cầu phải có kết quả điều tra sớm nhất có thể

Các nhà bảo vệ pháp luật đã tra hỏi hàng loạt các nhân chứng vụ tai nạn từ ngay sau khi bắt được ông Janoušek và đến tận ngày thứ Bảy họ mới hoàn tất được lệnh truy tố, nhưng cảnh sát vẫn không cho biết cụ thể vì hành vi phạm pháp nào

Lý do là lệnh truy tố đó chưa chuyển được đến tay ông chuyên gia lobby kia. Vì hiện tại ông Janoušek đang ở đâu thì không ai biết cả. Đơn giản là ông ta không có mặt ở nhà. Liệu ông có đi Bahamy hay chưa ?

Hôm thứ Bảy, Chủ tịch công ty Czech- Việt Nam Marcel Winter đã cảnh báo có thể có những áp lực đối với nữ nạn nhân người Việt và các thành viên gia đình của bà và ông đã có lời kêu gọi cảnh sát phải bảo vệ họ ( yêu cầu cảnh sát canh chừng). Chiều tối ngày thứ bảy, đài NOVA và TN.cz đã nhận được thư yêu cầu cảnh sát do ông Marcel Winter viết. Nội dung như sau

Lời kêu gọi cảnh sát: Hãy bảo vệ phụ nữ người Việt bị xe đâm

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/safe_image.jpg
Ông Đinh Ngọc - Chồng người phụ nữ bị tai nạn giao thông đến cơ quan cảnh sát

Ông Roman Janoušek lái xe cố tình đâm vào người phụ nữ Việt Nam 51 tuổi, bà là người đang kinh doanh trong TTTM Sapa ở Praha 4- Libuš

Chồng và con trai bà gần như đã bị sốc vì những thương vong không đáng có của bà và họ thực sự rất đau buồn. Nhiều người Việt nam lo sợ liệu ông Roman Janoušek có tạo ra những áp lực nào đó với người phụ nữ đang bị thương nặng

Vì vậy, sẽ là cần thiết và hợp lý, nếu các cơ quan hành pháp có biện pháp bảo vệ người phụ nữ Việt Nam bị thương nặng để cẩn thận phòng chống trước những hành động gây áp lực có thể xảy ra. Lời kêu gọi này là hợp lẽ, nhưng chúng tôi khẩn thiết yêu cầu

Nguyễn Doãn Trường
Tổng hợp từ các báo Czech (http://wwww.eicvn.eu/cong-dong/cong-dong/sec-slovakia/4341-lobby-roman-janouek-va-v-tai-nn-giao-thong-lien-quan-n-ngi-vit)

PoCoLo
05-10-2012, 02:58 PM
Lobby: Ngành công nghiệp tỷ USD ở Hoa Kỳ

Ước tính lương căn bản của nghề lobby khoảng 47.983USD/năm, trong đó hơn 10% kiếm nhiều hơn 100.000USD/năm

Chủ tịch Liên đoàn các nhà lobby Hoa Kỳ (ALL) Paul Miller từng tự hào khoe: "Không có chúng tôi, chắc không có điều luật nào ở Hoa Kỳ được thông qua"

Trong tháng 5 này, một nhân vật "sừng sỏ" trong ngành công nghiệp lobby toàn cầu sẽ đến thăm Việt Nam. Đó là TS. Bob Livingston, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ đời thứ 106

Nhân chuyến thăm của ông Livingston, chúng tôi giới thiệu vài nét về ngành công nghiệp từng mang lại khoảng 38 tỷ USD cho nền kinh tế Hoa Kỳ trong năm 2011

Trong sự vận động của nền kinh tế, người ta biết đến thuyết "bàn tay vô hình" của Adam Smith. Nhưng đối với các quyết sách kinh tế, giới doanh nghiệp lại biết đến sự chi phối của một "bàn tay vô hình" khác, đó chính là lobby. Chủ tịch Liên đoàn các nhà lobby Hoa Kỳ (ALL) Paul Miller từng tự hào khoe: "Không có chúng tôi, chắc không có điều luật nào ở Hoa Kỳ được thông qua"

Nghề hợp pháp

Lobby được hiểu nôm na là "vận động hành lang" nhằm tác động lên quá trình ra quyết sách về một vấn đề kinh tế, chính trị hoặc xã hội. Theo đó, lobby là một hành động góp phần làm gia tăng dân chủ, giúp tiếng nói của người dân và doanh nghiệp được giới quan chức lắng nghe kỹ càng hơn

Chính vì vậy, tại Hoa Kỳ nghề này được bảo hộ và điều chỉnh bởi Đạo luật Công khai lobby (Lobbying Disclosure Act 1995 - LDA), Bộ luật về ngân sách liên bang (Internal Revenue Code - IRC) và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act - FARA)

http://vef.vn/assets/Uploads/lobby1336556627_13366 18262.jpg


Vì được sự bảo hộ của luật pháp, nghề lobby tại Hoa Kỳ phát triển rất mạnh. Theo thống kê, có khoảng 13.700 lobbyist (người làm nghề lobby) và khoảng 300 công ty lobby có đăng ký kinh doanh (năm 2009)

Ước tính lương căn bản của nghề lobby khoảng 47.983USD/năm, trong đó hơn 10% kiếm nhiều hơn 100.000USD/năm

Nghề lobby tại Hoa Kỳ phát triển mạnh, do nước này là đối tác kinh tế-chính trị quan trọng hàng đầu của hầu hết các nước trên thế giới, nguồn ngân sách từ Washington cũng vô cùng "béo bở" đối với các doanh nghiệp

Tương tự, từ khi được chọn làm nơi đặt trụ sở của của Liên minh châu Âu (EU), Brussels (Bỉ) đã trở thành "miền đất hứa" của ngành công nghiệp lobby. Thống kê cho biết có khoảng 3.000 hãng lobby các loại (văn phòng giao tế nhân sự, đại diện của các doanh nghiệp, liên đoàn nghề nghiệp...) với số nhân viên khoảng 15.000 người tập trung ở Brussels. Số lobbyist ở thành phố này tương đương với số nhân viên của EU

Lợi nhuận khủng từ các công ty lobby

Cùng với sự nở rộ của hoạt động lobby tại Hoa Kỳ và EU, bất kỳ một doanh nghiệp, một nước xuất khẩu nào muốn làm ăn với 2 đối tác này đều không thể bỏ qua kênh lobby

"Làm ăn với Hoa Kỳ phải biết lobby vì đó là thế chính trị mà người Hoa Kỳ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài" - Hãng tin BBC (Anh) từng nhận định. Tính đến năm 2004, tất cả các nước ASEAN (trừ Việt Nam và Lào) đều có ngân sách chi cho hoạt động lobby ở Hoa Kỳ

"Lobby ở Hoa Kỳ là một vấn đề mà nếu không biết lo xa tất sẽ có buồn gần" - BBC nhận xét. Microsoft có thể là một thí dụ điển hình. Trong những năm 1990, nhà khổng lồ phần mềm này từng kiên quyết "nói không" với hoạt động lobby vì quá tự tin vào sức mạnh của họ

Kết quả: Microsoft từng sính vính vì những cuộc điều tra chống độc quyền ở cả Hoa Kỳ và EU, chịu phạt hàng triệu USD. Ngược lại là hình ảnh Google phát triển nhanh như vũ bão vì đã "chi đậm" cho lobby

Một cuộc điều tra của tạp chí BusinessWeek tiến hành đối với hơn 2.000 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt của Chính phủ Hoa Kỳ trong năm 2005 đã hé lộ phần nào những lợi ích của hoạt động lobby

Theo đó, bình quân các công ty thu về khoảng 28USD tính trên mỗi USD bỏ ra cho hoạt động lobby. Như vậy, xét về tỷ suất lợi nhuận, đầu tư cho lobby sinh lời nhanh hơn nhiều so với hoạt động kinh doanh của các công ty, vì ước tính các công ty thuộc chỉ số Standard & Poor 500 của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chỉ thu được 17,52USD tính trên 1USD tiền vốn bỏ ra trong năm 2006. Chi cho lobby cũng được tin là hiệu quả hơn hẳn cho các hoạt động merketing trực tiếp

Ước tính, cứ 1USD bỏ ra cho marketing trực tiếp, công ty chỉ thu về được 5USD. Đó là chưa kể có những công ty biết lobby "đúng người, đúng chỗ" hiệu quả còn cao hơn, thường là 100USD trên 1USD bỏ ra. Thí dụ trường hợp của nhà chế tạo máy bay Boeing. Năm 2005, tập đoàn này được Chính phủ Hoa Kỳ cấp tổng cộng 456 triệu USD từ 29 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt, trong khi chỉ chi chi 8,5 triệu USD vào việc lobby

Đó là chưa kể tập đoàn này ký được tới 28 tỷ USD hợp đồng với Chính phủ Hoa Kỳ trong cùng năm. Một thí dụ khác, năm 2004 Công ty Scientific Research chi vỏn vẹn 60.000USD vào lobby, nhưng đến năm tài chính 2005 họ đã giành được các hợp đồng với tổng trị giá lên tới 20 triệu USD. Như vậy, với 1USD bỏ ra cho lobby, Scientific Research thu về tới 344USD

Chính vì lợi ích khổng lồ do hoạt động lobby mang lại, các công ty đang ngày càng chi đậm hơn cho ngành công nghiệp này. Trong giai đoạn từ năm 1998-2010, tổng số tiền 13 ngành kinh doanh chi nhiều nhất cho lobby tại Hoa Kỳ là 29.000 tỷ USD, nhưng giới chuyên môn dự báo con số này có thể tăng mạnh trong thời gian tới

Văn Cường (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71575/lobby-nganh-cong-nghiep-ty-do.html)

LOBBY.VN
06-19-2012, 05:17 PM
Mỹ bán vũ khí, "buôn" quan hệ

Doanh thu Mỹ thu về từ bán vũ khí cho nước ngoài đã lên tới trên 50 tỉ USD. Năm nay có thể lại là năm phá kỷ lục doanh thu cho nước Mỹ khi mà Ả Rập Xê Út chiếm tới gần 3/5 tổng đơn hàng

"Chúng tôi đã vượt doanh thu 50 tỉ USD trong năm tài chính 2012" - Andrew Shapiro, trợ lý bộ trưởng về các vấn đề quân sự - chính trị cho biết hôm thứ Năm vừa qua

Mặc dù vẫn còn ba tháng nữa mới kết thúc năm tài chính, nhưng các dữ liệu cho thấy các hợp đồng quân sự giữa các chính phủ đã tăng lên 70% trong năm 2011. Năm ngoái cũng là năm kỷ lục cho Mỹ với lượng vũ khí bán được lên tới 30 tỉ USD

"Việc kinh doanh với Ả Rập Xê Út rất quan trọng" - ông Shapiro nói. Thỏa thuận được chốt vào tháng 12 năm ngoái trị giá lên tới 29,4 tỉ USD, bao gồm 84 máy bay chiến đấu mới và việc hiện đại hóa 70 máy bay chiến đấu khác

Cựu quan chức ngoại giao Canada Peter Dale Scott cho biết việc Ả Rập Xê Út đóng góp một phần rất lớn vào thu nhập của Washington có thể được giải thích từ mối quan hệ 'vũ khí đổi lấy dầu' từ lâu giữa hai quốc gia

"Trong suốt thời kỳ giá dầu tăng đột xuất vào năm 1971-1973, Mỹ đã đàm phán một thỏa thuận trả giá cao cho dầu thô của Ả Rập Xê Út, với điều kiện Ả Rập Xê Út sẽ phải quay vòng đồng đô-la dầu mỏ, và rất nhiều trong số đó là thông qua các thỏa thuận mua bán vũ khí" - giáo sư Scott nói. "Do đó gần đây, số vũ khí Mỹ nhập khẩu vào Ả Rập Xê Út đã tăng lên đáng kể'

Doanh thu kỷ lục trên của Mỹ cũng bao gồm cả việc bán chiếc siêu cơ F-35 cho Nhật Bản với trị giá lên tới gần 10 tỉ USD. Năm 2011, các nhà thầu của Mỹ còn kiếm thêm 44 tỉ USD với các khách hàng tầm cỡ như Jordan, Nhật, Israel, Afghanistan và Pakistan

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng hiện 'còn quá sớm để dự báo' về doanh thu kinh doanh vũ khí của Mỹ trong năm 2013 tới

Mỹ có thể sẽ tiếp tục mở rộng tại các thị trường then chốt, bao gồm Ấn Độ. Ấn Độ đang cân nhắc mua 22 chiếc máy bay trực thăng Apache tổng trị giá 1,4 tỉ USD. Theo trang ArabianBusiness.com, Cơ quan Hợp tác An ninh Quốc phòng Mỹ cũng đang để mắt tới thương vụ trị giá hơn 1,1 tỉ USD với Qatar và Oman. Qatar đang xem xét mua các máy bay trực thăng Diều hâu đen và các hệ thống cảnh báo tên lửa, trong khi Oman có thể mua các tên lửa và trang thiết bị huấn luyện quân sự

Shapiro chỉ ra rằng số vũ khí được kinh doanh này được cấp phép "nhằm phục vụ lợi ích chính sách đối ngoại" và tạo ra xu hướng gắn chặt các hợp đồng quốc phòng vào ngoại giao. Các quốc gia sẵn lòng mua vũ khí từ Mỹ có thể chắc chắn "về bản chất quan hệ" với Washington

"Khi một quốc gia mua hệ thống quốc phòng tối tân của Mỹ thông qua các hình thức mua bán quân sự nước ngoài, mua bán thương mại trực tiếp hoặc qua các chương trình cung cấp tài chính quân sự nước ngoài, họ không đơn giản chỉ là mua một sản phẩm. Họ còn tìm kiếm quan hệ đối tác với Mỹ. Các chương trình này còn củng cố quan hệ ngoại giao và thiết lập quan hệ an ninh lâu dài" - ông Scott phân tích

Tuy nhiên, việc đó không có nghĩa là quốc gia mua vũ khí của Mỹ sẽ tránh được thất bại dưới ảnh hưởng của Mỹ

"Chẳng hạn như cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak là người nhận viện trợ đứng thư ba của Mỹ chủ yếu dưới hình thức tài chính và vũ khí. Đổi lại, Cairo đảm bảo an ninh trong khu vực, mà điều đó đồng nghĩa với việc công nhận Israel" - ông Scott nói

LOBBY.VN
10-14-2012, 11:45 AM
Giới tài chính Anh chi bộn tiền để vận động hành lang

- Cuộc điều tra công phu 4 tháng của tổ chức Báo chí điều tra phi lợi nhuận, thuộc ĐH City (London) vừa cho thấy giới tài chính Anh đã chi tới 92 triệu bảng Anh trong năm 2011 để vận động giới chức chính quyền thay đổi những chính sách theo hướng có lợi cho ngành này

Theo Guardian, trong lúc ngành tài chính Anh đang nỗ lực chuẩn bị để chống lại những lời kêu gọi tiếp tục cải tổ toàn diện ngành ngân hàng sau bê bối dàn xếp tỉ giá tại Barclays, kết quả điều tra cho thấy quy mô của "thùng thuốc súng" mà bộ máy vận động hành lang của ngành tài chính Anh đang sở hữu, khiến dư luận Anh thêm lo ngại về mức ảnh hưởng của nó đối với lợi ích kinh tế nói chung của đất nước

Ngoài ra, các tài liệu mật cũng cho thấy hàng triệu USD đã được chi cho các bữa tiệc tôn vinh giới chính khách tỏ ra ủng hộ giới tài chính. Tổng số 124 người, tương đương 16% Thượng viện Anh, có liên hệ tài chính trực tiếp với các công ty cung cấp dịch vụ tài chính

Lãnh đạo Công đảng Ed Miliband thì cho rằng ngành ngân hàng đang gây thiệt hại lớn về kinh tế và xã hội cho nước Anh

LOBBY.VN
10-21-2012, 11:51 AM
Các hãng công nghệ Mỹ lobby chính trị gia để "hại" Huawei và ZTE


Trong khi các nhà chức trách Mỹ vẫn đang tiếp tục điều tra về 2 công ty sản xuất viễn thông Trung Quốc là Huawei và ZTE, các đối thủ viễn thông ở Mỹ không hề ngồi yên, mà cũng muốn tham gia ''đổ dầu vào lửa''

Tờ Washinton Post vừa nhận được một bản thuyết trình có độ dài 7 trang, với tiêu đề "Huawei và hiểm họa bảo mật cho quốc gia” từ Cisco. Đây được cho là một động thái cạnh tranh của hãng này nhằm loại bỏ Huawei ra khỏi cuộc chơi

Theo văn bản viết ra từ Cisco, hãng này nói rằng: “Nỗi sợ hãi Huawei đã lan tràn khắp thế giới... Mặc dù hết mình phủ nhận, nhưng Huawei vẫn chưa thể chứng minh rằng mình không có liên quan gì đến chính phủ và quân đội Trung Quốc”

Theo một số nguồn tin giấu tên, các công ty công nghệ của Mỹ khác cũng đang tích cực triển khai những động thái tương tự như trên

Các công ty công nghệ này có thể tận dụng tình trạng "hoảng loạn" của giới chính trị gia, từ đó tạo lợi thế của mình trên thị trường kinh doanh

Sau đó, các hãng nội địa sẽ xoay chuyển các khách hàng trong nước sử dụng các sản phẩm của mình "dưới ngọn cờ những nhà yêu nước"

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/camp-patriot-570-7cacb_zps543468ec.jpg
Các công ty công nghệ Mỹ sẽ lợi dụng tâm lý "người yêu nước" để tẩy chay Huawei và ZTE

Một nhà phân tích nói rằng: “Các đối thủ cạnh tranh của Huawei đã "bẫy" được các nhà làm luật nhằm triệt hạ đối thủ của mình, trong khi vẫn tiếp tục xoáy sâu vào vấn đề nhức nhối của người Mỹ- đó là Trung Quốc"

Hiện tại, Huawei và ZTE vẫn đang hết mình kêu oan và phủ nhận sự liên quan của mình với chính phủ TQ. Tuy nhiên, chắc chắn trong tương lai, khả năng thập nhập vào thị trường Mỹ sẽ rất khó khăn

Genk (http://laodong.com.vn/Sci-Tech/Cac-hang-cong-nghe-My-lobby-chinh-tri-gia-de-hai-Huawei-va-ZTE/87622.bld)

LOBBY.VN
11-23-2012, 09:20 PM
Czech bắt nhà vận động hành lang nhận hối lộ

- Cảnh sát chống tham nhũng Cộng hòa Séc vừa bắt giữ Marek Dalík, một nhà vận động hành lang có tiếng, đồng thời là bạn thân của cựu Thủ tướng Mirek Topolánek, vì cáo buộc môi giới hối lộ trong vụ mua xe bọc thép

Năm 2009, Chính phủ Séc đã ký hợp đồng mua 107 xe bọc thép Pandur của Tập đoàn Quốc phòng Steyr (Áo) với tổng giá trị hơn 14,3 tỷ couronne (hơn 742,2 triệu USD)

Mức giá của mỗi chiếc xe này, nhờ có sự “tư vấn đắc lực” của Marek Dalík, đã lên thành 134 triệu couronne (khoảng gần 7 triệu USD). Trong khi đó, tại cùng thời điểm, Chính phủ Bồ Đào Nha chỉ phải mua với giá rẻ bằng 1/4

Chính vì giá mua chênh lệch như vậy nên tháng 7/2010 cảnh sát chống tham nhũng đã mở cuộc điều tra. Sau hơn 2 năm, họ đã tiến hành bắt giữ Marek Dalík vì phát hiện ra rằng, trong thương vụ mua bán này, nhà vận động hành lang đã nhận hối lộ ít nhất 18 triệu euro (hơn 23,2 triệu USD) từ Tập đoàn Steyr

LOBBY.VN
01-07-2013, 07:12 AM
Google đã chi 25 triệu USD vận động để “thoát tội”


http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/google-da-chi-25-trieu-usd-van-dong-de-thoat-toi_zpsc0bcbb8e.jpg

Theo trang tin Politico, Google chi 25 triệu USD tiền vận động hành lang, kể từ khi FTC mở cuộc điều tra nhắm vào họ 20 tháng trước

Sau khi có thông tin rò rỉ cho biết các vị ủy viên của Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) đã bị thuyết phục rằng tập đoàn Google lạm dụng trái phép vị thế thống trị trên thị trường tìm kiếm để “nâng” các dịch vụ của họ và “dìm” dịch vụ đối thủ, thì cuối cùng Google cũng thoát tội một cách ngoạn mục

Tuy nhiên, bản chất của sự việc FTC vừa tuyên Google vô tội đã bị trang tin Politico bóc mẽ, khi trang này cho biết “gã khổng lồ tìm kiếm” đã chi ra tới 25 triệu USD tiền vận động hành lang, kể từ khi FTC bắt đầu mở cuộc điều tra nhắm vào họ từ 20 tháng trước

Theo Politico thì Google đã dùng 25 triệu USD để tạo dựng mối quan hệ thân tình với chính quyền Obama, cũng như thuê các gương mặt có nhiều ảnh hưởng là cựu quan chức và đảng viên của Đảng Cộng hòa để tư vấn cho họ những đường đi nước bước hợp lý nhất

Chính vì thế, cuối cùng Google cũng đã được trắng án sau cuộc điều tra của FTC

Tuy nhiên, cần nhớ rằng hiện nay các nhà quản lý ở châu Âu cũng vẫn đang duy trì cuộc điều tra tương tự nhắm vào Google, và chắc chắn ảnh hưởng vận động hành lang của “gã khổng lồ tìm kiếm” tại Brussel, Bỉ sẽ ít hơn nhiều so với ở “sân nhà” Washington DC, Mỹ

LOBBY.VN
03-22-2013, 09:58 PM
Samsung chi 900.000 USD để vận động hành lang


http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/2-vandong-b9153_zpsb4b74e83.jpg

Hãng tin Bloomberg vừa phân tích dữ liệu từ nội dung hồ sơ được Samsung nộp lên nhà chức trách Mỹ, cho thấy hãng công nghệ Hàn Quốc đã tiêu tốn đáng kể chi phí vào việc vận động hành lang tại Mỹ, nhằm cạnh tranh với những đối thủ hàng đầu nơi đây

Trước Samsung thì Apple, Google, Microsoft và những doanh nghiệp công nghệ hàng đầu khác đều phải chi ra hàng triệu USD mỗi năm để tiến hành vận động hành lang Washington

Theo Bloomberg, số tiền vận động hành lang mà Samsung sử dụng trong năm ngoái là 900.000 USD, tăng tới 500% so với mức 150.000 USD của năm 2011

Trong khi đó, đối thủ Apple chi ra gấp đôi lượng tiền của Samsung trong năm ngoái để vận động hành lang, song chừng đó không đáng kể nếu so với khoản tiền khổng lồ lên tới 18,2 triệu USD vận động hành lang của Google

Trong bối cảnh Samsung tiếp tục tham gia cuộc chiến với Apple tại tòa án ở Mỹ, giới phân tích tin rằng số tiền mà hãng công nghệ Hàn Quốc phải chi ra để “bôi trơn” các khâu liên quan sẽ tăng nhiều hơn nữa trong năm nay

Văn Hưng (http://phapluattp.vn/2013030910459116p1059c1048/s amsung-chi-900000-usd-de-van-dong-hanh-lang.htm)

LOBBY.VN
05-01-2013, 04:21 PM
Cựu Bộ trưởng quốc phòng Nga mất chức vì "lobby"

- Gần đây, dư luận Nga cho rằng việc cựu Bộ trưởng quốc phòng Nga - ông Anatoly Serdyukov và phụ tá phụ trách vấn đề trang bị Alexander Sukhorukov bị cách chức có liên quan đến các hoạt động lobby để mua trang bị của nước ngoài

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/GAZ-2330Tigrarmoredvehicle2_zps12a2c31d.jpg (http://s1265.photobucket.com/user/lobbyvietnam/me dia/GAZ-2330Tigrarmoredvehicle2_zps12a2c31d.jpg.html)
GAZ-2330 Tigr

Gần đây, dư luận Nga cho rằng việc cựu Bộ trưởng QP Nga - ông Anatoly Serdyukov và phụ tá phụ trách vấn đề trang bị Alexander Sukhorukov bị cách chức có thể là do các quan chức hàng đầu của quân đội Nga đã cố ý lobby để quân đội Nga ra quyết định mua xe bọc thép đa năng Iveco LMV M65 Lynx của Italy

Tuy nhiên, việc xe bọc thép Iveco LMV M65 Lynx có được nhập khẩu theo nhu cầu trang bị của quân đội Nga trong thời gian tới hay không sẽ phụ thuộc vào các cuộc thử nghiệm mới dự kiến sẽ được tiến hành trong vài tháng dưới sự điều hành của tân Bộ trưởng QP Nga Sergei Shoigu - người đã từng tuyên bố cho rằng ông và cách cộng sự của mình sẽ tìm cách loại bỏ những tranh cãi phát sinh từ chương trình nhập khẩu xe bọc thép của quân đội Nga

Trước đó, cựu Bộ trưởng QP Nga - ông Anatoly Serdyukov và phụ tá phụ trách vấn đề trang bị Alexander Sukhorukov đã từng rất tích cực lobby để Nga nhập xe bọc thép Iveco LMV M65 Lynx - loại xe chuyên dụng được cho là có ưu thế vượt trội so với phiên bản bọc thép GAZ-2330 Tigr được nhà chế tạo Nga sản xuất trong nước

Động thái của cựu Bộ trưởng QP Nga - ông Anatoly Serdyukov và phụ tá của ông khi đó được cho là hiếm thấy bởi rất hiếm khi Nga muốn nhập khẩu trang bị từ nước ngoài vì hiện Nga vẫn là nhà xuất khẩu trang bị quân sự, đặc biệt là sản phẩm xe bọc thép lớn nhất nhì trên thế giới

Việc Bộ quốc phòng Nga ra quyết định mua xe bọc thép Iveco LMV M65 Lynx thực sự đã gây ra tranh cãi rất lớn ở Nga

Người muốn nhập khẩu Iveco LMV M65 Lynx cho quân đội Nga lý luận rằng Iveco LMV M65 Lynx là sản phẩm có nhiều ưu thế vượt trội, đã được chứng minh trong các chiến dịch quân sự của NATO ở Afghanistan và Iraq

Tuy nhiên, sản phẩm nội địa - xe bọc thép Tigr lại có giá thành thấp hơn đến 70%, hơn nữa, trong các cuộc thử nghiệm vào năm 2010 loại xe này đã chứng minh những khả năng không hề kém sản phẩm của nước ngoài và hoàn toàn có thể đáp ứng được các yêu cầu của quân đội Nga

Nhiều chuyên gia vũ khí của Nga đã không đồng tình với quyết định ký mua 60 chiếc bọc thép của Italy năm 2011 bởi họ cho rằng hợp đồng này không bao trọn các dịch vụ hậu lắp ráp như: phụ tùng, đào tạo quân nhân Nga điều khiển phương tiện

Theo thứ trưởng Bộ quốc phòng Nga - Yury Borisov, quân đội đang lên kế hoạch giải quyết những vấn đề này thông quan các cuộc đàm phán phụ

Thứ trưởng Yury Borisov cũng là người mới được thay thế ông Sukhorukov vào tháng 11/2012 vừa qua

Lê Dũng (http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Cuu-Bo-truong-QP-Nga-mat-chuc-vi-lobby-cho-xe-boc-thep-cua-Italy/270701.gd)

LOBBY.VN
05-08-2013, 07:32 AM
Nga đề nghị siêu sao Segal vận động hành lang cho vũ khí Nga vào Mỹ


http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/4h_50749356_zpsf36022a9.jpg (http://s1265.photobucket.com/user/lobbyvietnam/me dia/4h_50749356_zpsf36022a9.jpg.html)

Phó Thủ tướng Nga Dmitry Rogozin, người giám sát khu phức hợp công nghiệp quân sự, đã yêu cầu siêu sao điện ảnh Mỹ Steven Seagal hỗ trợ trong việc bãi bỏ thỏa thuận Mỹ-Nga, trong đó giới hạn việc cung cấp vũ khí hiện đại của Nga vào Mỹ. RIA Novosti đưa tin

Trong cuộc gặp gỡ với diễn viên diễn ra vào ngày thứ Ba, 19 tháng Ba, tại Nhà Chính phủ, ông Rogozin phát biểu rằng Steven Seagal có uy tín lớn trong Hiệp hội súng trường ở Mỹ và sẽ có thể vận động hàng lang cho vũ khí của Nga

"Trong tất cả những bộ phim mà tôi cũng như đồng bào của tôi đã xem, anh luôn đứng về phía thiện để chống lại cái ác, luôn có quan điểm rõ ràng duy nhất vì công lý, vì cuộc sống, vì cuộc đấu tranh chống khủng bố và bọn tội phạm. Anh cũng biết rằng sản xuất vũ khí của Nga luôn phát triển tốt và luôn là đối thủ cạnh tranh với những sản phẩm tốt nhất, bao gồm cả của Mỹ

Ở Mỹ, Hiệp hội súng trường là một trong những tổ chức quan trọng nhất, có sức mạnh đặc biệt và có thể ảnh hưởng đến cả xã hội và chính phủ", - ông Rogozin cho biết

LOBBY.VN
06-04-2013, 01:17 PM
Trùm “lobby” nhận chức Chủ tịch Ủy ban Truyền thông liên bang Mỹ

Wheeler hội đủ mọi điều kiện, phẩm chất và kinh nghiệm để điều hành FCC một cách xuất sắc

http://i1265.photobucket.com/albums/jj510/lobbyvie tnam/tomwheeler-1367609583_zps81724433.jpg (http://s1265.photobucket.com/user/lobbyvietnam/me dia/tomwheeler-1367609583_zps81724433.jpg.html)
Tom Wheeler

Ngày 1/5/2013, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chính thức đề cử ông Tom Wheeler, doanh nhân, nhà đầu tư và cũng là một chuyên gia “lobby” có hạng trong lĩnh vực viễn thông vào chức Chủ tịch Ủy ban Truyền thông liên bang Mỹ (Federal Communications Commission - FCC), cơ quan quản lý nhà nước về viễn thông

Trong bài phát biểu đề cử, Tổng thống Barack Obama nhấn mạnh, ông Tom Wheeler là nhân vật thích hợp nhất hiện nay có thể đảm nhận chức Chủ tịch FCC, bởi ông có kinh nghiệm làm việc cả ở lĩnh vực công lẫn khu vực tư nhân

“Ông Tom Wheeler là một trong những nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã tạo ra hàng nghìn việc làm ở lĩnh vực công nghệ cao. Ông cũng đã từng đứng đầu nhóm tư vấn cho FCC và Chính phủ về những vấn đề công nghệ cao trong lĩnh vực viễn thông

Ông cũng đã giúp người tiêu dùng Mỹ có nhiều lựa chọn hơn, được cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tối ưu. Ông là ứng cử viên thích hợp nhất để đứng đầu FCC”, ông Barack Obama nói

Đề cử này còn phải được Quốc hội thông qua, song đã ngay lập tức gây ra nhiều tranh cãi. Số người ủng hộ đề cử này cũng nhiều, song phe phản đối cũng rất lớn tiếng và không phải là không có lý do xác đáng

Để rộng đường dư luận, xin cung cấp một số thông tin cơ bản về ông Tom Wheeler

Ông Tom Wheeler đã có hơn 30 năm làm việc trong ngành truyền thông. Cụ thể từ năm 1979 đến 1984, ông là Chủ tịch Hiệp hội Truyền hình cáp quốc gia (National Cable Television Association), sau này đổi tên là Hiệp hội Truyền hình cáp và viễn thông quốc gia (National Cable & Telecommunications Association)

Tiếp theo, sau 8 năm (từ năm 1984 đến 1992) làm việc trong mảng công nghệ ở một số công ty viễn thông, từ năm 1992 đến năm 2004, ông là Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành (CEO) Cellular Telecom & Internet Association (CTIA). CTIA là một công ty “lobby” mạnh trong lĩnh vực viễn thông và Internet ở Mỹ. Vì vậy, ông được coi là trùm sò về “lobby” trong lĩnh vực này. Từ năm 2005 đến nay, ông là CEO Core Capital Partners, một quỹ đầu tư

Về mặt chức năng, nhiệm vụ, FCC có quyền cấp phép hoạt động cho các doanh nghiệp viễn thông; phê chuẩn các dự án đầu tư lớn trong lĩnh vực viễn thông, băng thông rộng, các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) có quy mô lớn…

Theo nhận định chung, chức Chủ tịch FCC là “rất thơm” về nhiều mặt và đã từng thuộc về những gương mặt đầy thế lực. Bằng chứng là, trong thời gian từ tháng 1/2001 đến tháng 3/2005, Chủ tịch FCC khi đó, Michael K. Powell chính là con trai của ông Colin Powell, Ngoại trưởng Mỹ (từ tháng 1/2001 đến tháng 1/2005) dưới Chính quyền Tổng thống George W. Bush, từng là tướng 4 sao, tham mưu trưởng liên quân của Quân đội Mỹ

Mới đây, nhiều tờ báo còn đưa tin, ông Tom Wheeler là một trong số những thành viên tích cực trực tiếp tham gia vận động nguồn tài chính phục vụ cho việc tranh cử Tổng thống Mỹ của ông Barack Obama trong cả 2 đợt. Cụ thể, năm 2008, ông vận động quyên góp được gần 500.000 USD và năm 2012, gần 1 triệu USD

Tiền vận động được có thể chưa nhiều, nhưng Tổng thống quý ông ở sự nhiệt tình và lòng trung thành. Nên không nói ra, song nhiều người hiểu ngầm là việc đề cử này cũng là một cách Tổng thống trả ơn ông

Trở lại với sự tranh cãi về việc đề cử trên. Phe ủng hộ đánh giá “ông Wheeler hội đủ mọi điều kiện, phẩm chất và kinh nghiệm để điều hành FCC một cách xuất sắc”

Một quan chức Nhà Trắng (đề nghị được giấu tên) nhận định: “Ông Tom Wheeler là nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông. Ông còn chia sẻ quan điểm và cam kết của Tổng thống trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; đẩy mạnh việc nghiên cứu, sáng chế, nâng cao tính cạnh tranh cũng như ủng hộ đầu tư”

Nhiều người thuộc phe phản đối nhẹ thì cho rằng, ở đây khó tránh khỏi chuyện “xung đột lợi ích”. Một số khác thì nặng lời hơn khi khẳng định

“Một nhà đầu tư lọc lõi trong ngành viễn thông, lại có quá trình lobby, thì chắc chắn khi nắm quyền lãnh đạo FCC, khó lòng mà khách quan trong điều hành”

Bà Sascha Meinrath, Giám đốc Viện Open Technology Institute (thuộc New America Foundation) tuyên bố thẳng thừng: “Tôi không tin là cựu sếp lobby trong ngành viễn thông sẽ hoàn toàn khách quan với các đối tượng, vốn là chiến hữu trước đây”

Để chính thức được ngồi vào ghế Chủ tịch FCC, ông còn phải trải qua một cuộc sát hạch tại một tiểu ban của Quốc hội

Theo nhiều nhà phân tích, triển vọng được ngồi vào ghế Chủ tịch FCC của ông khá sáng sủa

Trước hết, chiếc ghế này sắp khuyết, cần sớm có người thay thế. Chủ tịch FCC đương chức Julius Genachowski theo đúng nhiệm kỳ sẽ rời chức vào ngày 30/6/2013, song đã đề nghị được ra đi sớm hơn, có thể ngay sau ngày 9/5 tới

Hơn nữa, một khi đã là chuyên gia “lobby” về viễn thông, thì “lobby” ở chính trường chắc chẳng phải là việc quá sức với ông Tom Wheeler

Trung Hiếu (http://doanhnhanthanhdat.net/doanh-nhan/trum-lobby-sap-lanh-chuc-quan-ly-vien-thong-my-7227.html)