PDA

View Full Version : Tư duy vận động hành lang toàn cầu !


thoidaianhhung
04-25-2009, 06:49 PM
Lobby United States of America

LobbyUSA®.com maintains a unique database that delivers four streams of data to be cross-referenced and tailored to match subscribers' needs. Information can be cross-referenced by corporation, industry, state or Congressional District and campaign contributions. Information is quickly and easily downloaded into Excel spreadsheets through a secure, user-friendly database. The information in LobbyUSA.com®'s database comes from a variety of sources, including a licensed agreement with Dun & Bradstreet, the leading provider of global business information, as well as other commercial databases. PAC information used by LobbyUSA® comes from the Federal Election Commission (FEC). And our industry information is based on the NAICS codes used by the U.S. Department of Commerce to categorize industry sectors.

LobbyUSA®.com sells annual subscriptions to lobbyists and corporate government affairs executives, as well as trade association, coalition, communications and non-profit professionals, who are interested in identifying the business constituents of U.S. Senators and Congressional Representatives in all 435 Congressional Districts.

LobbyUSA®.com is a privately held Limited Liability Corporation (LLC), headquartered in Free Union, VA. Its two principal partners, Emilio Collado and Carolyn Tieger, are respected public affairs professionals who have more than 60 years of experience combined working in Washington, D.C., and within the lobbying community specifically. They are both political strategists, have built numerous coalitions, managed integrated communications campaigns and mobilized grassroots support for numerous clients on some of the toughest issues ever to come before the U.S. Congress.

lobbyUSA (http://www.lobbyusa.com/aboutus.asp)

thoidaianhhung
04-25-2009, 06:51 PM
Tìm hiểu cơ chế vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/quochoiMy.jpg

- Chính sách đối ngoại của Mỹ có ảnh hưởng không nhỏ tới nền chính trị của nước Mỹ. Tuy nhiên, chính sách này cũng chịu sự tác động rất lớn của cơ chế vận động hành lang (lobby) - một thói quen chính trị - đặc trưng nổi bật của các chính trị gia Hoa Kỳ.

Lobby hay vận động hành lang từ lâu đã là một thói quen chính trị, một phần không thể thiếu trong đời sống chính tr - xã hội Mỹ. Được coi là nét đặc trưng, một thứ văn hóa - chính trị Mỹ cho nên ở đây hoạt động lobby diễn ra rất sôi nổi, phổ biến và được pháp luật ghi nhận, quy định và bảo hộ.

Theo nghĩa đen, danh từ lobby chỉ hành lang rộng của toà nhà quốc hội, phòng chờ trong tiền sảnh của khách sạn hay tòa nhà lớn. Nhưng theo nghĩa bóng, lobby được hiểu là việc "vận động người có chức quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích và chính trị, kinh tế, xã hội". Ởnước Mỹ, đó chính là quá trình vận động các nghị sĩ, dân biểu trong quốc hội để họ đưa ra hoặc ủng hộ các đạo luật, nghị quyết, chính sách có lợi cho các "nhóm lợi ích" khác nhau.

Tại sao vận động hành lang lại phát triển mạnh nhất ở nước Mỹ và trở thành đặc trưng của nền chính trị Hoa Kỳ? Điều này một phần xuất phát từ đặc điểm của quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ.

Nước Mỹ được tổ chức theo chế độ liên bang, gồm ba bộ phận là cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan hành pháp (Chính phủ, đứng đầu là Tổng thống) và cơ quan tư pháp (Tòa án liên bang). Ba cơ quan này có quyền hạn và chức năng độc lập với nhau nhưng vận hành theo cơ chế cân bằng và kiểm soát nhằm bảo đảm cho quyền lực không tập trung quá nhiều vào một cá nhân hoặc một cơ quan nào. Theo cơ chế đó, các cơ quan của bộ máy nhà nước không chỉ nắm giữ những quyền lực đặc trưng của mình mà còn được trao một số quyền lực thuộc lĩnh vực của các bộ phận khác. Như vậy là giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị nước Mỹ có sự phụ thuộc, kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau.

Trong ba bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Mỹ thì Quốc hội là cơ quan lập pháp, có quyền lực cao nhất, giữ vai trò lãnh đạo đất nước và đại diện cho toàn thể nhân dân Mỹ. Quốc hội gồm hai viện là Thượng viện và Hạ viện. Quốc hội ngoài quyền ban hành, thông qua các đạo luật, sửa đổi Hiến pháp còn có quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của một cơ quan hay cá nhân nào đó. Với quyền lực này buộc Tổng thống phải có quan hệ chặt chẽ với Quốc hội để tranh thủ sưu đồng thuận với những chính sách của mình. Quốc hội Mỹ còn có quyền tối cao trong lĩnh vực thương mại, quyền tuyên bố chiến tranh hay hoà bình, ngăn cản chiến tranh hoặc tiến hành các chương trình nghiên cứu nhằm bảo đảm các vấn đề quốc phòng chung. Trong lĩnh vực đối ngoại, Quốc hội còn có quyền nắm giữ ngân sách và trong thực tế, đã có nhiều lần Quốc hội dùng quyền phân bổ ngân sách để tác động lên chính sách đối ngoại. Quốc hội có thể không thông qua việc chi ngân sách để thực thi một hiệp định mà Tổng thống đã ký với một nước khác hoặc không phân bổ ngân sách cho một kế hoạch cụ thể của Tổng thống. Ngay cả trong trường hợp Tổng thống muốn điều động quân đội để tiến hành chiến tranh nhưng nếu không được Quốc hội phê chuẩn và cấp ngân sách thì cuộc chiến tranh cũng không thể tiến hành được.

Trong quá trình hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách đối ngoại có sự tham gia của cơ quan hành pháp, đứng đầu là Tổng thống. Tổng thống là đại diện tối cao của đát nước trong quan hệ đối ngoại, có toàn ký kết các hiệp ước với sự phê chuẩn của Thượng viện và trên thục tế, Thượng viện phê chuẩn phần lớn các hiệp ước mà Tổng thống đã ký. Tổng thống còn có toàn quyền ký kết các hiệp định hành pháp với các quốc gia khác trên thế giới.

Sự vận hành của nền chính trị nước Mỹ còn có sự tham gia, tác động của các tổ chức chính trị, xã hội khiến cho nó ngày càng thêm phức tạp. Quốc hội thường rất nhạy cảm trước công chúng về các chính sách đối ngoại vì Quốc hội phải đối mặt với các cuộc thăm dò dư luận về các vấn đề cụ thể, trước việc công chúng có thực sự quan tâm đến chính sách đối ngoại hay không. Đây là cơ hội cho các tổ chức chính trị, xã hội có thể tác động nhằm thúc đẩy hay cản trở việc thông qua hoặc thực hiện một chính sách nào đó bằng việc thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, giới truyền thông hoặc thông qua ảnh hưởng của các nhóm lợi ích khác nhau. Sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều chủ thể khác nhau và quá trình lập pháp nói chung và quá trình hoạch định chính sách đối ngoại nói riêng của nước Mỹ khiến cho nó trở nên rất phức tạp, chồng chéo, nhiều khi còn dẫn tới xung đột, mâu thuẫn với nhau. Các nhóm lợi ích, các giai cấp trong xã hội đều muốn thể hiện vai trò và sự ảnh hưởng của mình đối với những quyết định của các cơ quan lập pháp nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Các nhà lập pháp, hành pháp cũng mong muốn những quyết định mà họ đưa ra nhận được sự ủng hộ của đông đảo công chúng, những người mà họ là đại diện. Đó chính là cơ sở để hoạt động lobby phát triển mạnh mẽ và trở thành đặc trưng trong đời sống chính trị Mỹ.

Vận động hành lang gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích (nhóm gây áp lực) trong xã hội Mỹ. Thực chất đó là những nhóm chính trị có chung lợi ích với nhau nên tập hợp lại để tự bảo vệ mình, thường là các hiệp hội nghề nghiệp như Hiệp hội Y tế, Hội luật gia, v.v..Ở Mỹ, yếu tố sắc tộc và thành phần xã hội rất đa dang, phức tạp có nhiều tộc người, nhiều nhóm cư dân cho nên quyền lợi của mỗi nhóm cư dân không giống nhau, nhiều khi còn đối lập, mâu thuẫn với nhau. Do vậy họ cần thể hiện được vai trò, sự tác động của mình với hệ thống chính trị thông qua các nhóm lợi ích. Trong tác phẩm "Logic chính trị Mỹ", các tác giả Samuel Kernell, Gary C.Jacobson phân tích: "Các nhóm lợi ích được đánh giá là bộ phận tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại”. Các nhóm lợi ích tham gia vận động hành lang liên tục, vào tất cả các cơ quan quyền lực và theo đuổi mục tiêu của mình bằng tất cả các cách thức có thể. Sức mạnh của các nhóm lợi ích chính là ở là phiếu họ ủng hộ cho các ứng cử viên trong cuộc bầu cử vào các chức vụ của Chính phủ hoặc đóng góp tài chính cho các chiến dịch vận động tranh cử. Chính nhờ hoạt động của các nhóm lợi ích mà các chính sách của chính phủ ban hành phù hợp với mong muốn của nhân dân.

Vận động hành lang là việc vận động người có chức quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích và chính trị, kinh tế, xã hội. Còn nhà vận động hành lang là một người, một nhóm người hoặc một tổ chức chuyên nghiệp giữ vai trò trung gian giữa cử tri, các nhóm lợi ích với nghị sĩ quốc hội nhằm tác động tới những chính sách, dự luật đang được xem xét tại Nghị viện.

Tại Mỹ, lobby là một trong những nghề được coi trọng và đông đảo nhất. Đến năm 2007, tại thủ đô Washington DC của Mỹ có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề lobby. Tại đây có một con phố mang tên K-Street, được coi là con phố của hoạt động lobby, nơi tập trung hàng loạt các công ty lobby lớn, hoạt động sôi nổi, tấp nập.

Những nhà vận động hành lang thường là các quan chức nghỉ hưu, chuyên viên làm việc tại Quốc hội, luật sư có kinh nghiệm. Những nhà vận động hành lang có danh tiếng thường là cựu bổ trưởng, tướng lĩnh quân đội, cố vấn, trợ lý của tổng thống, thượng nghị sĩ đã từng nắm giữ chức vụ chủ chốt tại quốc hội, kể cả Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ. Nghề lobby có sức hút như vậy cho nên nhiều nghị sĩ Mỹ, đã từng được đông đảo các nhà lobby vây đón xung quanh, sau khi nghỉ hưu cũng trở thành nhà vận động hành lang. Từ năm 1998 đến năm 2005, đã có tới 43% trong tổng số 198 thành viên của Quốc hội Mỹ rời khỏi chính trường đã đăng ký hành nghề lobby. Điển hình là trường hợp của Nghị sĩ Bob Livingston, sau khi rời khỏi chính trường, năm 1998, ông đã chuyển sang làm nghề lobby. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm lobby do ông thành lập đã phát triển thành một trong 12 công ty lobby lớn nhất nước Mỹ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger từng là nhà vận động hành lang cho nước Nhật.

Tuy nhiên, hoạt động lobby cũng rất dễ bị lợi dụng, bị mua chuộc bởi những lợi ích to lớn, những khoản lợi nhuận khổng lồ mà nó mang lại. Để minh bạch hoạt động này và kiểm soát nó, luật pháp Mỹ có quy định rất rõ ràng và cụ thể đối với hoạt động lobby. Ngày 19-12-1995, Tổng thống Clinton ký ban hành Đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) nhằm “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả...”Sau này, các điều khoản bổ sung, sửa đổi cho bộ luật này cũng được ban hành nhằm quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động lobby. Theo đó, các cựu đại diện thương mại Mỹ và phó của họ bị nghiêm cấm suốt đời đối với việc vận động hành lang cho người nước ngoài; Các quan chức Nhà trắng không được phép làm cho các công ty lobby trợ giúp về luật và tư vấn trong vòng 5 năm kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ của mình...Tuy có nhiều quy định và kiểm soát chặt chẽ như vậy nhưng ở Mỹ vẫn thường xuyên có nhiều vụ bê bối liên quan tới hoạt động lobby. Samuel Ward, “ông vua lobby của Mỹ ” ở thế kỷ XIX đã nói: “bữa tối là phương thức hiệu quả nhất để tiến hành lobby”.

Không chỉ quan trọng và phổ biến trong bản thân nền chính trị Mỹ, hoạt động lobby còn cần thiết với các quốc gia, tổ chức khi có quan hệ kinh tế, chính trị với Mỹ và muốn có lợi ích từ mối quan hệ này mang lại. Tại Washington có nhiều đại diện của các chính phủ, công ty, tổ chức nước ngoài. Lobby được họ sử dụng như phương cách quan trọng để tiếp cận Quốc hội và chính quyền Mỹ, bảo vệ lợi ích và bày tỏ mong muốn của mình.

Điển hình cho các nhóm vận động hành lang nước ngoài là Israel. Bằng sự năng động của giới lobby Do Thái, của Uỷ ban Quốc hội công cộng Mỹ-Israel (AIPAC), Israel đã nhận được sự ủng hộ của Mỹ trong hàng loạt các vấn đề, kể cả việc dựng hàng rào an ninh trên vùng lãnh thổ tranh chấp với Palestin. Nhóm lobby của Israel là sự kết hợp của nhiều tổ chức có quy mô lớn, được hỗ trợ bởi nguồn tài chính mạnh mẽ (15 triệu USD năm 1994) và các mối quan hệ gắn bó, thân thiết với các quan chức Mỹ.

Ở châu Á, Nhật Bản là nước đi đầu và gặt hái được nhiều thành công trong hoạt động lobby với Mỹ. Hoạt động lobby được Chính phủ Nhật xây dựng thành chiến lược hết sức chi tiết và khôn khéo, phối hợp nhịp nhàng giữa chính trị và kinh tế để bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh cũng như tạo ra lợi thế cho mình. Nhật Bản chi khoảng 400 triệu USD mỗi năm cho hoạt động lobby với Mỹ và là nước chi nhiều nhất cho hoạt động này với Mỹ. Tất nhiên là với số tiền chi tiêu lớn như vậy thì lợi ích nó mang lại không hề nhỏ, đơn cử là trường hợp của Công ty Toshiba của Nhật. Năm 1987, Toshiba đã bán kỹ thuật tàu ngầm tiên tiến cho Liên Xô, vì vậy mà Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu ra quyết định cấm nhập khẩu các sản phẩm của Toshiba trong 3 năm. Nếu quyết định này có hiệu lực thì thiệt hại của Toshiba ước tính lên tới khoảng 10 tỉ USD. Công ty này đã bỏ ra 10 triệu USD cho chiến dịch lobby của Chính phủ Nhật trong quan hệ Nhật-Mỹ. Nhờ vậy mà cuối cùng Quốc hội Mỹ chỉ hạn chế một số sản phẩm của Toshiba và thiệt hại của công ty này chỉ là vài trăm triệu USD.

Trung Quốc cũng là nước thực hiện rất thành công hoạt động lobby với Mỹ. Hội đồng kinh doanh Mỹ-Trung (HCBC) gồm hàng trăm công ty, tập đoàn của Mỹ có lợi ích trong việc làm ăn với Trung Quốc đã tích cực vận động Quốc hội và Chính phủ Mỹ xem xét việc tiếp tục giành quy chế thương mại cho Trung Quốc. Họ đã tranh thủ tối đa sự ủng hộ của Tổ chức Nông nghiệp liên bang Mỹ để mở rộng quy chế Thương mại bình thường (NTR) cho Trung Quốc được gia hạn hằng năm. Tổ chức Nông nghiệp liên bang là nhóm vận động hành lang có ảnh hưởng rộng lớn với dân chúng Mỹ. Tổ chức này có tới hơn 4,9 triệu gia đình thành viên tại 50 bang, được thừa nhận là tổ chức lobby có khả năng huy động sự ủng hộ của dân chúng lớn nhất đối với các vấn đề trong nước và quốc tế có liên quan đến nông dân và những người chăn nuôi gia súc ở Mỹ. Trung Quốc chính là thị trường lớn thứ sáu cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Mỹ. Nếu lobby thành công, Quy chế Thương mại bình thường hàng năm cho Trung Quốc và hàng dệt may Trung Quốc được xuất sang Mỹ thì đổi lại, hàng nông nghiệp của Mỹ cũng được xuất sang trung Quốc. Những nông hộ Mỹ có thêm việc làm, có thêm thu nhập. Trong suốt 2 tháng Hạ viện Mỹ thảo luận về vấn đề này, các nhóm kinh doanh và nông dân đã bao vây các Hạ nghị sĩ bằng các cuộc điện thoại, thư từ, email, các boá cáo ngắn theo chuyên đề để thuyết phục họ về những lợi ích của việc phê chuẩn NTR cho Trung Quốc. Sau đó, trong quá trình Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì lobby cũng là một biện pháp hữu hiệu và đắc lực nhất trong các phiên đàm phán đa phương và song phương kéo dài suốt 12 năm. Cho tới nay, hoạt động lobby của Trung Quốc với Mỹ vẫn được tiếp tục và tăng cường hơn trước, kết hợp nhiều phương thức khác nhau. Mỗi năm, Trung Quốc chi khoảng 80 triệu USD cho hoạt động lobby với Mỹ.

Tại Đông Nam Á, một số quốc gia như Campuchia, Inđônêsia, Philippin, Malaysia, Myanma, Singapo, Thái Lan... đều có chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động lobby với Mỹ. Các tập đoàn kinh tế, thương mạicủa các quốc gia này chũng chi những khoản tiền lớn, đôi khi gấp tới hàng chục, hàng trăm lần của chính phủ cho hoạt động lobby, phục vụ lợi ích của công ty, tập đoàn đó tại Mỹ.

Theo quan điểm của các nhà sáng lập nước Mỹ, chính trường cũng như thương trường, nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, chính trường sẽ ổn định vì nhà nước có đủ thông tin để biết dân cần gì, có yêu cầu, nguyện vọng gì. Nhà vận động hành lang cần thiết và được xem như người làm dịch vụ thông tin tiếp thị, môi giới trong thương trường. Chính vì vậy, lobby được xã hội và luật pháp thừa nhận như một phần không thể thiếu, như bộ phận song sinh của nền chính trị Mỹ. Tất cả những mối quan hệ, việc ban hành đạo luật, chính sách hay các vụ mua bán, làm ăn đều không thể thiếu hoạt động lobby. Tất cả những ai muốn ảnh hưởng với dư luận hay quá trình hoạch định chnhs sáhc của chính quyền đều phải thực hiện lobby. Trong một chính trường phức tạp, nhiều mối quan hệ đan xen như ở Mỹ thì lobby đơn giản chính là sự trao đổi, cung cấp thông tin cho các bên hiểu đâu là lợi ích liên quan thiết thực đến vấn đề mình quan tâm. Các nhà lobby giúp các nhóm cư dân, các tổ chức trong xã hội Mỹ, có lợi ích ở Mỹ đạt được nguyện vọng của mình một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ một phía hay nhiều phía. Đồng thời, các nhà lập pháp cũng cần đến thông tin mà các nhà lobby cung cấp cho họ song thông tin phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và thuyết phục. Đó là mối quan hệ xuất phát từ lợi ích của cả hai phía, mối quan hệ trao đổi, “có đi có lại” đúng với bản chất của người Mỹ.

Bên cạnh các nhân tố có sự chi phối lớn là tiền và quyền lực thì sự ảnh hưỏng của công chúng cũng đóng vai trò quan trọng. Nhiều nhóm bobby nước ngoài ở Mỹ đã sử dụng kênh ngoại giao nhân dân, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tác động đến công chúng Mỹ, tạo những ấn tượng tốt đẹp với cử tri Mỹ.

Tuy nhiên, chính vì lobby gắn với tiền bạc, quyền lực và lợi ích cho nên nó là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, ranh giới giữa sự trong sáng, công khai, minh bạch với vụ lợi, hối lộ là rất mong manh dễ bị vượt qua. Do vậy, bên cạnh những quy định của luật pháp thì đạo đức của các nhà vận động hành lang, bản lĩnh của các chính trị gia chính là những nhân tố hết sức quan trọng để lobby đóng góp tích cực, hiệu quả nhất vào nền lập pháp và hành pháp của nước Mỹ cũng như đối với các quốc gia, tổ chức, công ty, cá nhân có quan hệ với Mỹ, có lợi ích tại Mỹ.

thoidaianhhung
04-25-2009, 08:59 PM
Welcome to eLobbyist


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/e-lobby.jpg

eLobbyist is a web-based legislative information tracking and reporting service that provides innovative data-rich tools to government relations professionals.

Using the LegiScan™ database optimization engine, users are afforded uniform data from multiple states with the ability to easily track and create customized reports on a wide array of legislative information. eLobbyist saves the busy government relations professional time and assimilates legislative data in a manner that enhances analysis and subsequent communications with policymakers during those ever so important face-to-face meetings.

eLobbyist prides itself on the ease-of-use interface and is certain to simplify the oftentimes mundane and tedious task of creating and distributing legislative reports to those who matter most. Many legislative tracking and reporting services already exist, however, what makes eLobbyist unique is its ability to create customizable and timely reports by client, issue, bill sponsor, committee, or just simply an aggregation of all the above. The database engine that drives this system provides users with tools commonly reserved for technology professionals, however, eLobbyist now makes these invaluable resources available to even the most techno-phobic government relations professional.

eLobbyist is certain to simplify and manage communications with clients, members, associates and even paid consultants/lobbyists!

eLobbyist offers a limited time-based trial account to allow prospective users to see for themselves the usefulness and cost/time savings potential. This trial account has many of the eLobbyist features enabled, but there are still further capabilities and customization that can be offered. To arrange a trial account or inquire about possible customization features, please contact our Sales Team for more information.

http://e-lobbyist.com/about

thoidaianhhung
04-28-2009, 10:32 AM
Vấn đề vận động hành lang trên thế giới
Bài học kinh nghiệm với Việt Nam

Gần đây, vấn đề “Vận động hành lang” đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Có hẳn một cuộc hội thảo lớn đã được tổ chức. Điều đó cho phép chúng ta khẳng định rằng: Vận động hành lang là một vấn đề quan trọng đã xuất hiện khá lâu trên thế giới và vấn đề này đang ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chúng ta.

Theo cuốn từ điển Anh-Việt được tín nhiệm ở Việt Nam, “Lobby” trước hết là một danh từ có 3 nghĩa: a. cổng, lối vào, sảnh đường. b. phòng họp nghị viện. c. nhóm người cố gắng tác động đến các nhà chính trị. “Lobby” còn là động từ có hai nghĩa: a. vận động ủng hộ luật mới. b. vận động thông qua (hay bác bỏ) một đạo luật. Tìm trong cuốn “ Bách khoa toàn thư” tiếng Anh, chúng tôi gặp từ mục “Lobbying”, trong đó đề cập nhiều tới kinh nghiệm lobby ở Mỹ, vấn đề “Lobbies” và vấn đề vận động hành lang gián tiếp (Indirect lobby).

Ở Việt Nam có một phản xạ tự nhiện khá chính xác là: mỗi khi nói tới vấn đề vận động hành lang là người ta tức khắc liên tưởng, gắn nó ngay vào xã hội Mỹ, quốc hội Mỹ, chính phủ Mỹ, chính trường Mỹ. Chính xác bởi lẽ vận động hành lang ở Mỹ luôn được coi là sôi động nhất thế giới. Dưới góc độ lịch sử, vận động hành lang (Lobby) được lấy theo tên địa điểm diễn ra đầu tiên trong lịch sử - đó là hành lang của nghị viện Anh – nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp hoặc bất cứ người nào bên cạnh để bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại nghị viện.

Trên thực tế, từ “lobby” (vận động hành lang) bắt nguồn khoảng năm1840 tại quốc hội Anh Quốc, khi công dân Anh có quyền đến hành lang Quốc hội gặp các nghị sĩ để bày tỏ nguyện vọng của mình. Dần phát triển và lan rộng, giờ đây ở Mỹ, Châu Âu, Canada - những nơi được xem là có các hoạt động lobby chuyên nghiệp và sôi động nhất, các tổ chức và cá nhân hành nghề lobby đều phải đăng ký hoạt động. Đa số là đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh, với ngân khoản rất lớn để được hưởng lợi về chính sách. Mới đây, một uỷ viên Hội đồng Vận động hành lang của Québec (Canada) đã giới thiệu kinh nghiệm của nước này: người vận động hành lang phải công khai về cá nhân và thân chủ, công khai tổ chức công mà anh ta sẽ vận động. Đồng thời, nhà vận động hành lang còn phải công khai các hoạt động gián tiếp cho việc vận động như quảng cáo, vận động công luận…Một cơ quan về vận động hành lang được thành lập để giám sát kiểm tra các hoạt động này và các nhà vận động hành lang phải đăng ký hoạt động với cơ quan này.

Tổng quan, tại các nước phát triển, lobby được pháp luật thừa nhận và hoạt động công khai. Hoạt động lobby không phải ở trong phòng họp mà ở ngoài hành lang với nhiều hình thức phong phú. Các chuyên gia lobby gây ảnh hưởng với các đối tác thông qua việc mời đi dự thảo nước ngoài, phát các hồ sơ kỹ thuật, gọi điện thoại, đến thăm văn phòng làm việc, tặng quà, mời giữ vai trò cố vấn cho công ty…Thực tế nhãn tiền là khi Liên minh Châu Âu (EU) chọn Bruxells (Bỉ) làm trụ sở thì dòng chảy các chuyên gia lobby cũng ồ ạt về đây bởi các công ty biết rằng những gì diễn ra ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tương lai và chiến lược hoạt động của họ. Các chuyên gia lobby hoạt động dưới những cái áo như: văn phòng đại diện báo chí, tìm hiểu thị trường, luật…Hiện tại đây có tới 1.000 nhà báo nước ngoài, 3.000 hãng lobby với khoảng 15.000 nhân viên. Đã có một thời Pháp không quan tâm tới hoạt động lobby và khi đó hàng đống hồ sơ làm ăn của các doanh nghiệp Pháp nằm tồn đọng dài dài. Ngược lại Anh khá có kinh nghiệm làm lobby tại đây.

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Ngày nay, từ lobby tại Mỹ chỉ việc người dân tìm cách ảnh hưởng đến quyết định của các nhân viên chính phủ, từ các nghị sĩ đến các nhân viên trong guồng máy hành chính bằng nhiều hình thức khác nhau như gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý, biểu tình. Lobby có nền tảng vững chắc trong Hiến pháp Mỹ - đó là quyền được đề nghị với chính phủ trong hiến pháp. Tại Mỹ, hiện có rất nhiều công ty tư vấn về lobby. Thông thường họ là các cựu nghị sĩ . Các tổ hợp luật chuyên về nhà nước cũng thường làm lobby. Các công ty lớn thường có một văn phòng ngoại giao hay văn phòng liên chính phủ chuyên về lobby. Các văn phòng này thường đặt ở thủ đô Washington D.C. Các tổ chức phi chính phủ lớn cũng thường có một văn phòng hay chí ít là một nhân viên chuyên về liên hệ chính phủ. Trong lobby ở Mỹ cũng có xảy ra tham nhũng. Vì vậy Quốc hội Mỹ tìm cách giảm tham nhũng bằng cách yêu cầu các chuyên gia lobby (tiếng Anh là lobbyist) đăng ký với Quốc hội trong một danh sách công khai. Luật Mỹ cấm nhân viên nhà nước nhận quà trên 25 USD. Các công ty nước ngoài cũng có thể lobby tại Mỹ, thông thường là qua một công ty chuyên về lobby. Đài Loan được coi là bỏ chi phí lớn nhất cho việc lobby tại Mỹ vì họ cần Mỹ hỗ trợ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các công ty Trung Đông cũng khá tốn kém về lobby khi muốn đầu tư tại Mỹ.

Pháp luật Mỹ công nhận lobby là một hoạt động hợp pháp, công khai và được điều chỉnh bởi 3 Bộ Luật: Luật công khai vận động hành lang (lobbying Disclosure Code), Bộ Luật về Ngân sách Liên bang (Internal Revenue Code) và Luật đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act). Thực tế, ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington.D.C, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề: viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Hiện có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức tại Mỹ và khoảng 50.000 người đăng ký chính thức hành nghề lobby. Trong đội ngũ đang hành nghề lobby có khá nhiều luật sư (ở thủ đô Washington cứ 40 người dân thì có một luật sư) và các cựu quan chức của chính phủ. Cựu ngoại trưởng Henry Kissingger có thời kỳ làm lobby cho Nhật Bản, cựu Bộ trưởng Lục quân làm lobby cho một tập đoàn đầu tư…Các nước đồng minh của Mỹ như: Anh, Pháp, Đức, úc, Nhật, Hàn Quốc…cũng có một đội ngũ lobby hùng hậu ở Mỹ. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho các hoạt động lobby ở Mỹ, do vậy đã có được mối quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc luôn đặc biệt phức tạp. Singapore cũng là nước thành công trong các hoạt động lobby tại Mỹ nhờ đội ngũ chuyên gia lobby thuộc biên chế sứ quán nước này tại Mỹ được đào tạo rất tốt và hoạt động rất hiệu quả.

Chúng ta có bài hát rất hay, ở đó đậu lời có cánh “ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay”. Hiện trạng lobby ở Mỹ hiện nay có điểm tựa vững chắc trong lịch sử. Ngay từ ngày lập quốc, những cha đẻ của nước Mỹ, đã hình dung một xã hội dân chủ trong đó tiếng nói của người dân phải được truyền tải một cách đầy đủ nhất đến chính quyền. Một trong những công thần lập quốc của nước Mỹ là ông James Madison (sau này trở thành Tổng thống thứ tư của Mỹ vào năm 1809) là người phổ biến thuyết “bàn tay vô hình” trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, chính trường cũng như thương trường. Nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, vì nhà nước có đủ thông tin (những yêu cầu, nguyện vọng, áp lực từ dân) để biết và cung cấp được những cái dân cần. Từ đó, vai trò của những người vận động hành lang trong chính trường Mỹ được xem là cần thiết như vai trò của người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới…trong thương trường. Người lobby ở Mỹ có thể đại diện cho bất cứ một cá nhân, tập thể chính trị, xã hội, kinh tế, thương mại nào, kể cả những cá nhân, tập thể chính phủ nước ngoài, chỉ cần điều kiện là họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ. Phần lớn những người lobby là các quan chức hội hữu, những chuyên viên từng làm việc ở Quốc hội, các luật sư có kinh nghiệm chuyên ngành (của thân chủ họ). Những người lobby có tên tuổi lớn thường là những cựu Bộ trưởng, tướng lĩnh, cố vấn hay trợ lý của tổng thống, dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm những chức vụ chủ chốt ở Quốc hội, hoặc ngay cả những cựu tổng giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ.

Để hiểu và vận dụng tốt lobby ở Mỹ cần quan tâm tới một số vấn đề sau. Trước hết, công bằng đối với người Mỹ có nghĩa “sòng phẳng” nhiều hơn là “đúng” theo nghĩa đạo đức. Nghĩa là, nếu tôi đẩy được anh làm chuyện gì mà anh đồng ý dù không thực sự hài lòng, hoặc anh bị toà xử thiệt hại vì anh không có người biện hộ tốt thì cũng là sòng phẳng. Như vậy, khi chính quyền Mỹ có áp lực từ Hiệp hội Thuỷ sản Mỹ ( trực tiếp hay gián tiếp qua các dân biểu của họ) và lấy lý do nào đó để ngăn chặn một nước đưa tôm, cá vào Mỹ, mà nước xuất khẩu không có tiếng nói và một phần lực mạnh mẽ thì phải chấp nhận thiệt thòi. Nguyên tắc này áp dụng cho cả người Mỹ với nhau. Hoạt động lobby ở Mỹ tuy là công khai nhưng giá trị chính lại nằm ở những hoạt động “hậu trường”, vì các cuộc gặp gỡ giữa chính phủ và chính phủ thường có giá trị rất giới hạn. Các chính khách khi gặp nhau thường phải giữ kẽ, phải theo bài và không quan chức nào muốn xem là vì áp lực trực tiếp của một chính phủ khác mà phải thay đổi chính sách. Cho nên những nước khôn khéo biết làm việc với Mỹ thường cật lực lobby chính trường Mỹ và đã thương lượng, dàn xếp một tình thế tối ưu trước khi gặp nhau chỉ để chính thức hoá câu chuyện.

Nếu ai đó trên thế giới này ước muốn làm tốt công tác lobby ở Mỹ để mang lại lợi ích cho đất nước mình mà lại không chịu khó tìm hiểu thấu đáo Hệ thống quyền lực chính trị ở Mỹ thì người đó suốt đời sẽ mãi chỉ là người mơ mộng đáng yêu. Cơ quan quyền lực cao nhất và mạnh nhất ở Mỹ là Quốc hội - gồm Hạ viện với 435 dân biểu có nhiệm kỳ 2 năm và Thượng viện với 100 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Hiến pháp Mỹ quy định nhiệm kỳ 2 năm cho dân biểu là để các vị này luôn bị áp lực phải phục vụ dân vì phải đi năn nỉ dân bầu lại cho mình 2 năm một lần. Vai trò của thượng nghị sĩ là để cân bằng những đòi hỏi quá đáng từ Hạ viện vì các thượng nghị sĩ không bị áp lực tranh cử nặng nề như các dân biểu. Quyền lực của Quốc hội phần lớn dựa trên vai trò làm luật theo nhu cầu, nguyện vọng của dân và chuẩn chi ngân sách nhà nước. Do Quốc hội Mỹ nắm hầu bao nên cơ quan này có quyền chi phối mọi hoạt động của cơ quan hành pháp. Tổng thống có muốn làm gì mà Quốc hội không duyệt thì cũng không xong. Tổng thống có ký hiệp định với ai mà Quốc hội không duyệt thì không có hiệu lực. Quốc hội muốn gì, nếu không ảnh hưởng lớn đến an ninh, quyền lợi, chiến lược của quốc gia thì thông thường phía hành pháp đều xuôi theo. ở Mỹ, Quốc hội thực sự là cánh cửa để doanh nghiệp, tập thể, hội đoàn tác động trực tiếp nhằm cải thiện quyền lợi của họ.

Tại Mỹ, khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng là thương lượng , qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, làm sao mỗi bên có lợi một ít, hoặc không bên nào được lợi hết hoặc bị thiệt hết. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thoả thì mới đem nhau ra toà hay để cho phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn chi phí và thời gian.

Đầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém. Nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh cho nên thực ra còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Kinh nghiệm của các nước làm lobby hữu hiệu với Mỹ là dùng các chuyên gia lobby có thế lực ở Mỹ. Người nước ngoài khó có kiến thức, quan hệ, tư cách pháp nhân cần thiết để tiếp cận dễ dàng với chính giới Mỹ. Trong phạm trù kinh tế, thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược, chương trình lobby cụ thể.

Vừa qua, một cơ quan thông tấn lớn của Việt Nam đã cho ra mắt một tài liệu có giá trị về bầu cử và vận động hành lang ở Mỹ. Theo đó, hiện có hơn 20.000 nhà vận động hành lang đã đăng ký chính thức với nghị viện Mỹ. Về bản chất, khái niệm “Nhà vận động hành lang – Lobbyist” để chỉ những người có khả năng gây ảnh hưởng, tác động đến những quan chức chính trị trong chính quyền. Trong lịch sử nước Mỹ, những nhà vận động hành lang đầu tiên bắt đầu xuất hiện vào những năm 1870. Mục tiêu của những người này là nhằm vào Chính quyền và Nghị viện. Còn nhớ khi luật về chăm sóc sức khoẻ được đưa ra thảo luận vào năm 2003 tại Hạ viện, người ta đã thống kê được 950 nhà bảo vệ cho ngành công nghiệp dược và các công ty bảo hiểm y tế, trong khi Hạ viện chỉ có hơn 400 nghị sĩ có mặt. Theo luật liên bang, vận động hành lang là một quá trình được thực hiện bởi một người liên quan trước một đại biểu được bầu, một công chức làm việc trong phủ tổng thống hay trong khoảng 200 cơ quan liên bang (các cơ quan chính quyền Mỹ) nhằm đệ trình hay đề nghị sửa đổi một đạo luật. Luật năm 1995 quy định người làm công việc vận động hành lang kiếm được ít nhất 5.000 USD hoặc tiêu ít nhất 20.000 USD cho hoạt động này trong suốt sáu tháng và phải thiết lập được hơn một mối quan hệ. Người làm công việc này buộc phải đăng ký và thông báo tài khoản của họ. Tính tới tháng 3/2005, đã có 21.500 nhà vận động hành lang đăng ký ở Hạ viện. Theo đánh giá của Trung tâm Hoà nhập công chúng thì kể từ năm 1998, đã có 22.000 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của 3.500 công ty vận động hành lang và hơn 27.000 người làm công việc này. Văn phòng vận động hành lang Akin, Gump, Strauss, Hauer & Felt có khoảng 100 luật sư với doanh thu 6 triệu USD hiện là đại diện của tập đoàn Boeing, ngành kinh doanh điện ảnh Hollywood hay tập đoàn dầu lửa Trung Quốc.

Nước Mỹ hiện có khoảng 20 công ty chuyên vận động hành lang có thứ hạng cao, trong đó nổi bật có 2 công ty đóng trụ sở trên phố K (thủ đô Washington). Năm 2005 có 1.300 nhà vận động hành lang là các cựu nghị sĩ. Ngài John Asheroft - cựu Bộ trưởng tư pháp của tổng thống Bush - hiện là đại diện của “Choise Point”, một công ty chuyên thu thập và bán các thông tin cá nhân, đồng thời là đại diện của tổ hợp công nghiệp hàng không quân sự Ixraen Airecraft. Giờ đây, các chuyên gia vận động hành lang thường hứa hẹn tặng các chuyến du lịch cho các nhân vật trong mục tiêu hay cung cấp tài chính cho chiến dịch tranh cử của các ứng cử viên. Vừa qua, tại Mỹ, một thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm bị đối phương cáo buộc đã nhận 11 triệu USD từ một người bạn đứng đầu một công ty vận động hành lang.

Việt Nam cũng đã từng biết và làm lobby ở Hoa Kỳ. Lịch sử bang giao giữa Mỹ và Việt Nam liên hệ tới hoạt động lobby dài hơn một thập niên. Hẳn chúng ta còn nhớ Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam hồi năm 1988 và Trung tâm quốc tế tại Washington đồng ý thành lập Hội đồng thương mại Mỹ-Việt để thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ và rồi Hội đồng thương mại Mỹ-Việt (United States-Vietnam Trade Council) đã ra đời năm 1989. Thành phần hội viên đầu tiên gồm một số chuyên gia và đại công ty tại Mỹ như AT&T, City Bank, Boeing, Caterpilla, Nike… Qua sự điều hợp của Hội đồng, các công ty thường xuyên gặp mặt riêng với các nghị sĩ liên bang, cũng như trình bày quan điểm tại các cuộc họp của Quốc hội về việc cần thiết lập giao thương kinh tế với Việt Nam.

Như vậy, lobby trong tiếng Anh có nghĩa là hành lang rộng của nhà Quốc hội, nơi chờ đợi trong tiền sảnh của khách sạn hay toà nhà lớn. Đồng thời, lobby còn có nghĩa bóng rất thông dụng là vận động người có chức có quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội…Hiệu quả của lobby rất cao. Năm 1987, công ty Toshiba sau khi bán kỹ thuật tàu ngầm tiên tiến cho Liên Xô đã xuýt bị cấm đưa sản phẩm Toshiba vào Mỹ trong vòng 3 năm. Thiệt hại của Toshiba có thể sẽ lên đến 10 tỷ USD nếu lệnh cấm được thực hiện. Toshiba đã chi ra 10 triệu USD cho chiến dịch lobby và sử dụng Hệ thống lobby của chính phủ Nhật trong quan hệ Nhật-Mỹ. Cuối cùng chỉ có một số sản phẩm của Toshiba bị cấm và thiệt hại tính ra chỉ mất vài trăm triệu USD. Với Việt Nam, gần đây có vụ kiện cá tra, cá Basa khiến người nuôi cá Việt Nam lao đao cũng xuất phát từ áp lực của các lobby đại diện cho các tập đoàn nuôi cá da trơn ở Mỹ. Từ đó, có thể thấy rằng tất cả các mối quan hệ, những vụ mua bán lớn, làm ăn lớn ở Mỹ đều không thể thiếu hoạt động lobby. Trong khi hầu hết các nước Châu á đã “vào cuộc”, lo thúc đẩy việc vận động hành lang ở Mỹ thì theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, đến năm 2004, tại khu vực Đông Nam á, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby.

thoidaianhhung
05-04-2009, 11:45 PM
Lobby Việt Nam

Đã đến lúc đặt vấn đề Lobby lên bàn nghị sự. Làm trong sáng Lobby và coi nó là vẻ đẹp của cuộc sống. Cũng là biện pháp chống những khuất tất, mờ ám và chống tham nhũng hữu hiệu.

Ủy ban Đối ngoại vừa tổ chức thành công một Hội thảo khoa học về Lobby- Vận động hành lang.

Lobby, ngỡ như một cái gì xa xôi lắm, ngỡ như là sản phẩm của một chính thể khác. Thế mà, cách đây gần thế kỷ với Bản án Chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã là một nhà Lobby Việt Nam không chuyên ngay tại Thủ đô Pari. Cùng với những người Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ Nguyễn Ái Quốc với cách tiếp cận hành lang khôn khéo của mình với những kiến nghị về một chế độ thực dân ở Đông Dương cần phải lên án đã được một số nghị sỹ Pháp ủng hộ. Rồi thời gian làm thượng khách ở Pháp với khả năng Lobby tuyệt vời Hiệp định Fontainebleau được ký kết đã kéo dài thêm thời gian cho ta chuẩn bị lực lượng.

Bài học Lobby được các nhà lãnh đạo và ngoại giao VN sử dụng nhiều và rất thành công ở Hội nghị Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam... và mới đây là việc tham gia WTO với sự Lobby tuyệt vời của ngoại giao nhân dân của quốc hội Việt Nam.

Lobby không có gì lạ

Thanh Tâm - nữ phóng viên trẻ có đề cập tới nội dung Hội thảo đã nêu, cho rằng chúng ta mới quan tâm tới Lobby đối ngoại mà, chưa quan tâm tới hành lang pháp lý của Lobby nghị trường và các lĩnh vực khác, hoặc đã làm cho Lobby biến dạng thoái hóa qua văn hóa phong bì, qua đi đêm và các tác động có uy lực của chân gỗ.

Đã đến lúc đặt vấn đề Lobby lên bàn nghị sự. Làm trong sáng Lobby và coi nó là vẻ đẹp của cuộc sống. Cũng là biện pháp chống những khuất tất, mờ ám và chống tham nhũng hữu hiệu.

LOBBY.VN
05-13-2009, 11:19 PM
ABOUT US - STAN LONG

Began political career as administrative aide to Congressman. Ultimately he was called to served as aide to Tennessee U.S. Senator during his effort to win Presidential nomination

After four years in Washington Stan returned to his home state of Calif. and formed the Ford Long Co. a general lobbying firm. His many activities in the public field included several years on Los Angeles radio & television, commenting on political happenings in the state.

He was appointed and served for four years to a commission within the Parks and Recreation Dept. by the County of Los Angeles. His career as an active lobbyist included: president of a state trade organization; serving on city commissions, and organizing lobbying seminars throughout the state.

Long formed THE LOBBY CHANNEL and with his wife, co-authored EVERYBODY LOBBIES.
http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/stanandgail.jpg

GAIL LONG

Taught political science, economics, history and career counseling in high school and community college levels for a total of thirty five years’ Masters degrees include education, political science, and counseling. Elected to Pi Sigma Alpha, a political science honorary fraternity and Phi Kappa Phi honorary fraternity.

In addition to teaching, she authored the curriculum for five different courses of study. Co-wrote numerous successful grant proposals. Assisted in organizing and conducting national trade association conventions. Organized and presented successful seminars on lobbying. Co-authored Everybody Lobbies and is now completing a second book on the anticipatory sets for social studies teachers.

Source: Lobbychannel (http://www.thelobbychannel.com/about.htm)

LOBBY.VN
06-08-2009, 09:24 AM
Vận động hành lang ở Mỹ và một số kinh nghiệm với Việt Nam

Thời gian gần đây, vấn đề vận động hành lang (lobby) đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Đã có những cuộc hội thảo lớn được tổ chức về vấn đề này. Điều đó cho thấy rằng vận động hành lang là một vấn đề quan trọng đang ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chúng ta.

Trên thực tế, từ “lobby” bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1840 tại Quốc hội Anh, khi công dân Anh có quyền đến hành lang Quốc hội gặp các nghị sĩ để bày tỏ nguyện vọng của mình. Dần phát triển và lan rộng, giờ đây ở Mỹ, Châu Âu, Canada - được xem là những nơi mà các hoạt động lobby chuyên nghiệp và sôi động nhất.

Tại các nước phát triển, lobby được pháp luật thừa nhận và hoạt động công khai. Hoạt động lobby không phải ở trong phòng họp mà ở ngoài hành lang với nhiều hình thức phong phú. Khi Liên minh Châu Âu (EU) chọn Bruxells (Bỉ) làm trụ sở thì dòng chảy các chuyên gia lobby cũng ồ ạt về đây bởi các công ty biết rằng những gì diễn ra ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tương lai và chiến lược hoạt động của họ. Các chuyên gia lobby thường hoạt động dưới những hình thức như: văn phòng đại diện báo chí, đại diện thương mại, văn phòng luật…

Vận động hành lang ở Mỹ

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Ngày nay, từ lobby tại Mỹ chỉ việc người dân tìm cách ảnh hưởng đến quyết định của các nhân viên chính phủ, tới các nghị sĩ đến các nhân viên trong guồng máy hành chính bằng nhiều cách hình thức khác nhau như gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý, biểu tình. Lobby có nền tảng vững chắc trong Hiến pháp Mỹ - đó là quyền được đề nghị với chính phủ trong Hiến pháp. Tại Mỹ, hiện có rất nhiều công ty tư vấn về lobby. Thông thường họ là các cựu nghị sĩ. Các tổ hợp luật chuyên về nhà nước cũng thường làm lobby. Các công ty lớn thường có một văn phòng ngoại giao hay văn phòng liên chính phủ chuyên về lobby. Các văn phòng này thường đặt ở thủ đô Washington D.C. Các tổ chức phi chính phủ lớn cũng thường có một văn phòng hay chí ít là một nhân viên chuyên về liên hệ chính phủ.

Trong lobby ở Mỹ cũng có xảy ra tham nhũng. Vì vậy Quốc hội Mỹ tìm cách giảm tham nhũng bằng cách yêu cầu các chuyên gia lobby (tiếng Anh là lobbyist) đăng ký với Quốc hội trong một danh sách công khai. Luật pháp Mỹ cấm nhân viên nhà nước nhận quà trên 25 USD. Các công ty nước ngoài cũng có thể lobby tại Mỹ, thông thường là qua một công ty chuyên về lobby. Đài Loan được coi là bỏ chi phí lớn nhất cho việc lobby tại Mỹ vì họ cần Mỹ hỗ trợ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các công ty Trung Đông cũng khá tốn kém về lobby khi muốn đầu tư tại Mỹ.

Hiện trạng lobby ở Mỹ hiện nay có điểm tựa vững chắc trong lịch sử. Ngay từ ngày lập quốc, những cha đẻ của nước Mỹ đã hình dung một xã hội dân chủ trong đó tiếng nói của người dân phải được truyền tải một cách đầy đủ nhất đến chính quyền. Một trong những công thần lập quốc của nước Mỹ là ông James Madison (sau này trở thành Tổng thống thứ tư của Mỹ vào năm 1809) là người phổ biến thuyết “bàn tay vô hình” trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, chính trường cũng như thương trường. Nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, vì thế nhà nước có đủ thông tin (những yêu cầu, nguyện vọng, áp lực từ dân) và cung cấp được những cái dân cần. Từ đó, vai trò của những người vận động hành lang trong chính trường Mỹ được xem là cần thiết như vai trò của người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới… trong thương trường. Người lobby ở Mỹ có thể đại diện cho bất cứ một cá nhân, tập thể chính trị, xã hội, kinh tế, thương mại nào, kể cả những cá nhân, tập thể chính phủ nước ngoài, chỉ cần điều kiện là họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ. Phần lớn những người lobby là các quan chức hội hữu, những chuyên viên từng làm việc ở Quốc hội, các luật sư có kinh nghiệm chuyên ngành (của thân chủ họ). Những người lobby có tên tuổi lớn thường là những cựu Bộ trưởng, tướng lĩnh, cố vấn hay trợ lý của tổng thống, dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm những chức vụ chủ chốt ở Quốc hội, hoặc ngay cả những cựu Tổng Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ.

Pháp luật Mỹ công nhận lobby là một hoạt động hợp pháp, công khai và được điều chỉnh bởi 3 Bộ Luật: Luật Công khai vận động hành lang (lobbying Disclosure Code), Bộ Luật về Ngân sách Liên bang (Internal Revenue Code) và Luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act). Thực tế, ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington.D.C, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề: viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Hiện có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức tại Mỹ và khoảng 50.000 người đăng ký chính thức hành nghề lobby.

Các nước đồng minh của Mỹ như: Anh, Pháp, Đức, úc, Nhật, Hàn Quốc… cũng có một đội ngũ lobby hùng hậu ở Mỹ. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho các hoạt động lobby ở Mỹ, do vậy đã có được mối quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc luôn đặc biệt phức tạp. Singapore cũng là nước thành công trong các hoạt động lobby tại Mỹ nhờ đội ngũ chuyên gia lobby thuộc biên chế sứ quán nước này tại Mỹ được đào tạo rất tốt và hoạt động rất hiệu quả.

Và một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Để làm tốt công việc lobby ở Mỹ chúng ta cần quan tâm tới một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Công bằng đối với người Mỹ có nghĩa “sòng phẳng” nhiều hơn là “đúng” theo nghĩa đạo đức. Khi chính quyền Mỹ có áp lực từ Hiệp hội Thuỷ sản Mỹ (trực tiếp hay gián tiếp qua các dân biểu của họ) và lấy lý do nào đó để ngăn chặn một nước đưa tôm, cá vào Mỹ, mà nước xuất khẩu không có tiếng nói và một phần lực mạnh mẽ thì phải chấp nhận thiệt thòi. Nguyên tắc này áp dụng cho cả người Mỹ với nhau.

Thứ hai: Hoạt động lobby ở Mỹ tuy là công khai nhưng giá trị chính lại nằm ở những hoạt động “hậu trường”, vì các cuộc gặp gỡ giữa chính phủ và chính phủ thường có giá trị rất giới hạn. Các chính khách khi gặp nhau thường phải giữ kẽ, phải theo bài và không quan chức nào muốn xem là vì áp lực trực tiếp của một chính phủ khác mà phải thay đổi chính sách. Cho nên những nước khôn khéo biết làm việc với Mỹ thường thương lượng, dàn xếp mọi vấn đề trước khi gặp nhau để chính thức hoá.

Thứ ba: Phải tìm hiểu thấu đáo hệ thống quyền lực chính trị ở Mỹ. Chúng ta đều biết rằng cơ quan quyền lực cao nhất và mạnh nhất ở Mỹ là Quốc hội - gồm Hạ viện với 435 dân biểu có nhiệm kỳ 2 năm và Thượng viện với 100 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Hiến pháp Mỹ quy định nhiệm kỳ 2 năm cho dân biểu là để các vị này luôn bị áp lực phải phục vụ dân vì phải đi vận động dân bầu lại cho mình 2 năm một lần. Vai trò của thượng nghị sĩ là để cân bằng những đòi hỏi quá đáng từ Hạ viện vì các thượng nghị sĩ không bị áp lực tranh cử nặng nề như các dân biểu. Quyền lực của Quốc hội phần lớn dựa trên vai trò làm luật theo nhu cầu, nguyện vọng của dân và chuẩn chi ngân sách nhà nước. Do Quốc hội Mỹ nắm hầu bao nên cơ quan này có quyền chi phối mọi hoạt động của cơ quan hành pháp. Tổng thống có ký hiệp định với quốc gia nào mà Quốc hội không duyệt thì hiệp định đó sẽ không có hiệu lực. Quốc hội muốn gì, nếu không ảnh hưởng lớn đến an ninh, quyền lợi, chiến lược của quốc gia thì thông thường phía hành pháp đều xuôi theo. ở Mỹ, Quốc hội thực sự là cánh cửa để doanh nghiệp, tập thể, hội đoàn tác động trực tiếp nhằm cải thiện quyền lợi của họ.

Thứ tư: Tại Mỹ, khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng là thương lượng. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thoả thì mới đem nhau ra toà hay để cho phía thứ ba đứng ra giải quyết. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn chi phí và thời gian.

Đầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém. Nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh cho nên thực ra còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Kinh nghiệm của các nước làm lobby hữu hiệu với Mỹ là dùng các chuyên gia lobby có thế lực ở Mỹ. Người nước ngoài khó có kiến thức, quan hệ, tư cách pháp nhân cần thiết để tiếp cận dễ dàng với chính giới Mỹ. Trong phạm trù kinh tế, thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược, chương trình lobby cụ thể.

LOBBY.VN
06-19-2009, 10:02 PM
Ngành giáo dục ‘lobby' chưa thành công


- Phiên thảo luận hôm nay, một số đại biểu đã từng, hoặc đang công tác trong ngành giáo dục thì ủng hộ đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục nhưng cũng còn nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí có phần gay gắt.

Trách nhiệm của Bộ GD với 95% ngân sách còn lại

Với cách tiếp cận từ việc ngành giáo dục “lobby” - vận động hành lang cho Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, đại biểu Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng) đã nghi ngờ sự “tự tin” của ngành giáo dục khi trình đề án này.

Ông đặt nhiều câu hỏi về thời điểm trình dự thảo và vì sao Bộ không đưa ra đề án cải cách nền giáo dục nước nhà, rồi quá trình lấy ý kiến cho dự thảo không sâu rộng, nhiều chuyên gia đầu ngành có ý kiến trái ngược nhau…?

Ông Nghĩa đã lật lại cuộc họp trực tuyến hôm 23/5 vừa qua của ngành giáo dục với các sở GD&ĐT, ĐH, CĐ khi Bộ trưởng đề nghị các Sở có văn bản trực tiếp tới trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội.

“Điều này thể hiện sự lúng túng, thiếu tự tin của Bộ ngay từ khâu dự thảo xây dựng đề án nên mới cần đến sự vận động, trợ giúp của giám đốc 63 sở GD&ĐT cùng hơn 100 trường ĐH, CĐ” – ông Nghĩa nói và khẳng định thẳng thắn rằng, cách làm việc như thế thì các đại biểu không thể yên tâm được.


Vị đại biểu này cũng yêu cầu Bộ GD&ĐT cần làm rõ câu chuyện về quản lý kinh phí giáo dục mà Điện tử Tổ Quốc đã đề cập tới. Cụ thể, ngành giáo dục đã quản lý chi tiêu như thế nào, hiệu quả đến đâu cần công khai, minh bạch để cử tri, đại biểu Quốc hội biết để có điều kiện giám sát.

“Bộ cho rằng chỉ quản lý 5% ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục. Vậy phần kinh phí rất lớn còn lại thì sao, ai là người chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội việc sử dụng 95% chi ngân sách còn lại của ngành?” – câu hỏi của ống Nghĩa rất đáng để ngành giáo dục suy ngẫm.

Cùng khía cạnh như đại biểu Nghĩa, ông Lê Văn Cuông, đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hoá cũng cho rằng đề án thiếu khách quan, thiếu thực tế.

Theo đại biểu Cuông, trong tám nhóm giải pháp, đề án chỉ tập trung phân tích mỗi giải pháp đổi mới chính sách học phí hay chính xác là tăng học phí, các nhóm giải pháp còn lại đều rất mờ nhạt, nên có thể khẳng định đây chưa phải là đề án đổi mới tài chính giáo dục! Trong khi đó, Bộ này còn chưa làm rõ được thực trạng sử dụng quản lý tài chính của ngành, nguyên nhân và trách nhiệm.

Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định trước Quốc hội rằng:

“Về vấn đề trách nhiệm của các cấp trong việc sử dụng ngân sách, ví dụ vừa qua có hơn 20 địa phương hàng năm không chi hết ngân sách giáo dục theo quy định, chúng tôi cũng có làm văn bản nhắc nhở. Nhưng cuối cùng cũng không sao, không chi hết thì cũng không có chế tài…”

Ông Cuông đã chỉ thẳng rằng, đề án đã “lẫn trách nhiệm khi thanh minh ngành giáo dục không có điều kiện đánh giá hiệu quả chi của Nhà nước” và cũng chẳng đi sâu mổ xẻ những thất thoát, lãng phí, tiêu cực của ngành!

“Vậy thì lấy đâu ra luận cứ để đại biểu có nên quyết định bấm nút hay không?” Đây không chỉ là câu hỏi lớn của ông Cuông với ngành giáo dục mà còn là câu hỏi của nhiều vị đại biểu khác.

Ông Cuông còn “nhắn nhủ” Bộ GD&ĐT về động thái vận động hành lang của Bộ là chưa có tầm nhìn căn cơ, toàn diện… nên chưa thật chín muồi và đề nghị cần có thời gian để Bộ chuẩn bị cho chu đáo hơn!

Học phí nên để HĐND tỉnh, TP quyết

Tại phiên thảo luận ở hội trường ngày 9/6, với mức học phí bậc ĐH, nhiều đại biểu cho rằng mức học phí như thế là cao và chưa thuyết phục

Đại biểu Võ Đình Tuyến (Bình Phước) cho rằng, nếu tăng từ 180.000 đồng/tháng lên từ 500.000- 800.000đ/tháng vào năm 2014 và đây là mức quá cao so với sức chịu đựng của từng hộ gia đình.

Hơn nữa, các lý do đề án đưa ra cũng chưa đủ sức thuyết phục cho các vị đại biểu Quốc hội. Sự chưa thuyết phục này được đại biểu Tuyến phân tích: nếu ngành giáo dục lấy lý do trượt giá thì đâu có phải chỉ ngành giáo dục mới chịu tác động về tăng giá, các hộ gia đình, sinh viên cũng chịu tác động hết sức nặng nề khi ở ngoại tỉnh về thành phố lo ăn học. Đó là chưa kể những sinh viên học trường ngoài công lập.

“Nếu chúng ta cho tăng học phí, các trường ngoài công lập cũng tăng theo thì sẽ là gánh nặng quá lớn cho gia đình có hai con theo học ĐH. Mà đề án này đã đưa ra tỷ lệ học sinh học các trường ngoài công lập ngày càng cao hơn thì tôi cho đây cũng là điều không hợp lý” – ông Tuyến nói.

Đại biểu này cũng khẳng khái cho rằng, đề án không nên lấy mức học phí của Việt Nam hiện nay để so sánh với các nước phát triển với các thể chế chính trị khác trên thế giới và nên lấy Trung Quốc hoặc Cu Ba để thử so sánh.

Theo ông Tuyến, đề án cần nghiên cứu kỹ và lùi thời gian thực hiện tới ít nhất là năm chứ không nên thực hiện vào thời điểm kinh tế khó khăn này.

Mạnh mẽ hơn, đại biểu Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng) còn cho rằng, thời điểm tăng học phí lúc này là “chưa phải đạo”.

Ông Nghĩa cũng chỉ ra sự vô lý với mức thu học phí đề xuất với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông là 6% trên tổng thu nhập bình quân của hộ gia đình.

Thực tế, phụ huynh học sinh giờ đây đã phải đóng nhiều khoản phụ thu kể cả có chứng từ và không có chứng từ. Vậy, nếu đề án được thông qua, liệu Bộ GD&ĐT có dám khẳng định với Quốc hội và cử tri cả nước rằng sẽ không thu bất kỳ một khoản nào khác không? Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan có chấm dứt được không? Tình trạng dạy trước chương trình, dạy ép học sinh các cấp có còn nữa hay không?

Riêng đại biểu Ngô Thị Doãn Thanh (Hà Nội) đề xuất, nên để HĐND cấp tỉnh, TP quyết định mức học phí các cấp học trong giới hạn không quá 5% thu nhập bình quân đầu người.

Tại phiên thảo luận, nhiều đại biểu đã đề cập tới việc nên miễn học phí bậc mầm non, một số địa phương như Vĩnh Phúc đã miễn học phí cho học sinh mầm non ở nông thôn và trả lương cho cô giáo bằng mức khởi điểm của trình độ đào tạo.

Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) đề xuất, nên giảm quy mô đào tạo ở bậc cao hơn bởi hiện tại hai triệu học sinh mẫu giáo thì có 1,2 triệu sinh viên, như vậy tháp về lực lượng học tập phân bổ không cân đối. Nên hỗ trợ, giảm học phí cho học sinh học nghề, phân luồng học sinh từ phổ thông sẽ giảm áp lực cho bậc ĐH, từ đó dễ dàng cân đối ngân sách hơn./.

LOBBY.VN
06-20-2009, 09:51 AM
Mạnh tay lobby cho giá dầu

Các đại gia lắm tiền ngành dầu lửa Mỹ không ngại bơm cho Washington nhiều triệu USD nhằm cứu vãn giá dầu và ngăn chặn việc phát triển năng lượng sạch.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/oil_lobbying.jpg
Một giếng dầu của Chevron ở ngoài khơi vịnh Mexico, gần New Orleans. Ảnh: AP

Trong 3 tháng đầu năm nay, các công ty dầu lửa đã tốn 44,5 triệu USD cho công tác vận động hành lang (lobby) tại quốc hội Mỹ và các cơ quan liên quan. Ngành dầu thô đứng thứ hai nước Mỹ về độ hào phóng, chỉ sau ngành dược với 66,6 triệu USD.

Năm ngoái, tổng chi phí lobby của ngành dầu thô Mỹ lên đến 129 triệu USD, tăng 73% so với 2 năm trước. Đây là tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với tất cả các ngành công nghiệp chủ chốt khác, theo số liệu từ Trung tâm Responsive Politics, Mỹ.

Kể từ cuối những năm 1990 đến nửa đầu thập kỷ này, mỗi năm các đại gia dầu mỏ dành trung bình 50 đến 60 triệu USD để lobby. Chi phí càng leo thang kể từ 2006, khi đảng Dân chủ chiếm ưu thế trong Quốc hội, đặc biệt sau khi Barack Obama lên nắm quyền.

Bất chấp suy thoái kinh tế khiến giá nhiên liệu tụt dốc và lợi nhuận đi xuống, ngành dầu lửa Mỹ vẫn mạnh tay chi tiền. Tổng cộng, 3 công ty dầu lửa lớn nhất Mỹ là Exxon, Chevron và ConocoPhillips tiêu tốn 22 triệu USD trong quý đầu 2009 để vận động hành lang, tăng 9,6 triệu USD so với quý trước đó. Ngoài ra, các công ty dầu lửa tư nhân và khí gaz tự nhiên khác cũng bỏ ra nhiều triệu USD.

Hàng tỷ USD lợi nhuận trong những năm gần đây biến dầu trở thành mục tiêu của các loại thuế mới, đánh vào việc tìm kiếm và khoan giếng. Chính quyền Obama đã áp dụng nhiều chính sách mới trong nỗ lực ngăn chặn biến đổi khí hậu. Cùng lúc đó, quốc hội Mỹ biết rõ rằng thế giới cần tìm nguồn năng lượng sạch thay thế dầu mỏ.

Một trong những chi phí lobby được dành cho việc cảnh báo quốc hội rằng thuế má cao và quy định chặt chẽ sẽ làm sụp đổ ngành này trước khi năng lượng mới được tìm ra.

"Những vấn đề phức tạp bên trong đòi hỏi các bên cùng đối thoại, nhằm đảm bảo rằng các nhà làm luật hiểu rõ vị trí của chúng tôi", Alan Jeffers, người phát ngôn của tập đoàn dầu lửa lớn nhất thế giới Exxon Mobil nói.

Exxon Mobil cũng đồng thời là người chi mạnh tay nhất. Trong 3 tháng đầu năm nay, họ đã bơm tổng cộng 9,3 triệu USD cho Washington, gấp 3 lần chi phí hồi năm ngoái.

Chi phí lobby của Exxon được dành phần lớn cho những chủ đề mang tầm vĩ mô như biến đổi khí hậu và chính sách thuế. Ngoài ra, tiền còn được dùng cho các lĩnh vực khác nằm trong tầm chiến lược như hóa học, giáo dục và chăm sóc sức khỏe.

Tuy nhiên, những nỗ lực đầu tư của các đại gia từ đầu năm đến nay chưa phát huy mấy hiệu quả. Hôm thứ tư, một ủy ban Thượng viện đã bỏ phiếu cấm khoan giếng dầu mới tại khu vực rộng lớn phía đông vịnh Mexico. Một khoản ngân sách mới đang được xem xét nhằm nghiên cứu các nguồn năng lượng sách như gió và mặt trời.

LOBBY.VN
07-11-2009, 04:05 PM
Văn hoá Lobby

Lobby (vận động hành lang) là nghề xưa như trái đất nhưng lại khá mới lạ, thậm chí bị hiểu sai ở Việt Nam. Nhiều nhà lãnh đạo còn cho rằng “lobby” là cái gì đó không công khai, phạm pháp, lén lút. Thực ra, “lobby” là hoạt động tạo sự thông hiểu giữa doanh nghiệp và chính quyền, giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi, phát triển kinh tế… Trên thực tế, “lobby” là một việc làm rất cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và cho cả Việt Nam khi đã gia nhập vào WTO.

Thời gian qua các doanh nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt với những vụ kiện bán phá giá cá da trơn, tôm vào thị trường Hoa Kỳ hay da giày vào thị trường EU, và đã bộc lộ không ít lúng túng, bỡ ngỡ... Điều đó cho thấy hàng hoá Việt Nam đã đơn độc tiến vào thị trường ngoại quốc, trong khi lẽ ra, lobby phải đi trước một bước. Dù muốn hay không, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với những vụ kiện bán phá giá hàng hóa vào thị trường những nước thành viên WTO, khi đó công việc lobby sẽ đóng vai trò rất quan trọng.

Còn các nhà đầu tư nước ngoài lại rất khó xác định việc có hay không việc lobby cho nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam đầu tư, do lobby ở Việt Nam vẫn còn nhiều định kiến. Chưa kể một loạt khó khăn như xác định cho đúng ai là người có thẩm quyền quyết định, cơ chế minh bạch hóa chưa đi vào tư duy ở các cấp thực hiện… làm cho lobby thông qua hình ảnh các nhà tư vấn cũng khó thực hiện được vai trò của mình. Theo các chuyên gia, nếu chỉ hiểu lobby là “mang phong bì đi mua chuộc ai đó” thì đây là cách hiểu… thô thiển và kém hiểu biết nhất.

Ở Mỹ, vận động hành lang là công việc cực kỳ phức tạp, đòi hỏi biết mình biết ta và tuyệt đối không phong bì hay đóng góp quỹ cho hoạt động chính trị của một viên chức nào. Nước Mỹ, một nền kinh tế được điều hành và quyết định bởi phần lớn những cuộc vận động hành lang trên cơ sở các bên cùng có lợi. Nhưng ở Việt Nam, “lobby tử tế” theo nghĩa này còn rất ít ỏi. Để có thể trong một sớm, một chiều gột rửa được “tiếng xấu” của từ “lobby” ở Việt Nam là điều không hề đơn giản chút nào, để chữ “lobby” có thể hiểu được theo nghĩa đích thực của nó như là một kênh thông tin có thể tạo nên sự đồng cảm giữa chính quyền và doanh nghiệp. Việt Nam đã đến lúc cần nhìn nhận và công khai hóa các quy định liên quan đến lobby để xã hội tiếp cận được mặt tích cực đúng nghĩa của nó. Nhưng để “lobby” tử tế không thể hiểu đơn giản là “chỉ có phong bì là xong” mà còn phải có một hệ thống chính quyền minh bạch, việc lobby mới thật sự tử tế như ý muốn, nếu không tất yếu nó sẽ bị biến dạng.

Hiện nay có khá nhiều công ty tư vấn quảng bá rằng họ có thể lo việc này, việc kia cho doanh nghiệp nhưng bản thân doanh nghiệp phải có kiến thức và hiểu biết để không tốn tiền và thời gian cho các tư vấn. Trên thực tế, những công ty này chỉ là “cò” đúng nghĩa với một nửa phong bì vào túi họ và nửa kia đến tay người được lobby, còn hiệu quả ảnh hưởng đến công việc chỉ rất nhỏ.

Chúng ta quen sống trong một xã hội mà mọi thứ đã được ấn định sẵn, mọi sự thay đổi đều rất khó. Vì vậy, việc lobby cũng là một thách thức mà các doanh nghiệp cần phải tập làm quen. Lobby là việc cần phải làm thường xuyên và liên tục cả một quá trình, chứ không chỉ để xảy ra chuyện bán phá giá hay sự cố, doanh nghiệp mới tiến hành lobby thì chẳng khác gì nước đến chân mới nhảy.

Đầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh và giảm đau. Cho nên dù có tốn kém nhưng còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Đã đến lúc VN cần có luật lobby, cần có những quy định pháp luật rõ ràng, cụ thể về hoạt động vận động hành lang để các lãnh đạo hiểu hơn về DN.

LOBBY.VN
07-17-2009, 03:40 PM
Nghề Lobby chính trị : Công nghệ hái ra tiền


Nhiều chính khách sau thời gian tung hoành trên chính trường lại sống khá sung túc với một nghề mới nhàn nhã: sử dụng lại những mối quen biết cũ để làm ăn cho các doanh nghiệp.

Vì sao Tập đoàn Hewlett-Packard (HP) dám tăng gấp đôi ngân sách dành cho chuyện vận động hành lang (VĐHL) trong năm 2004 (lên đến 734.000USD)? Đơn giản thôi, nếu công ty VĐHL danh tiếng Quinn Gillespie & Associates mà họ thuê làm được việc thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua điều luật đặc biệt về việc nhìn nhận lợi nhuận (lên đến 14,5 tỉ USD) của các chi nhánh ở nước ngoài của tập đoàn thì HP sẽ tiết kiệm được hàng triệu USD tiền thuế.

Đôi bên cùng có lợi nên các doanh nghiệp vẫn trông cậy vào tài năng quan hệ của các tay VĐHL chuyên nghiệp và thế mới có chuyện các văn phòng VĐHL mọc lên như nấm trong thời gian gần đây ở các trung tâm chính trị lớn.

Sôi động Washington và Brussels

Có ba lý do của sự bùng nổ công nghệ VĐHL. Theo một số chuyên gia, có những nguyên do khiến giới VĐHL vớ bở trong khoảng năm năm qua: một là chính quyền liên bang Mỹ đã mạnh tay chi ngân sách từ 1.790 tỉ USD của năm 2000 lên 2.290 tỉ vào năm 2004 (nên các doanh nghiệp đều muốn có “tay trong” vận động để kiếm hợp đồng với chính phủ); hai là khuynh hướng ủng hộ chuyện làm ăn của giới doanh nghiệp khi Đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Quốc hội và ba là chính sách nhìn nhận lợi nhuận ở nước ngoài của các tập đoàn. Vì thế theo thống kê có đến 17.300 văn phòng VĐHL chuyên ve vãn các nghị sĩ, 2.800 vây lấy Lầu Năm Góc và 2.000 ngày đêm tấn công các nhân viên của Nhà Trắng.

Nghề VĐHL cũng đã bắt đầu rất sôi động ở Brussels (Bỉ), nơi có trụ sở của Liên minh châu Âu. Con số thống kê được đưa ra là 15.000 tay VĐHL chuyên nghiệp đang miệt mài làm việc trong 2.600 văn phòng chuyên nghề quan hệ với các chính trị gia châu Âu. Doanh số của nhóm này cũng cỡ 60-90 triệu euro và tăng nhanh chóng.

Họ có khá nhiều việc để làm vì các ủy ban ở Brussels có đến 26.000 nhân viên mà họ cần móc ráp quan hệ. Đó là chưa kể khoảng 1.000 nhà báo có thể ra vào các trụ sở của EU. Đây cũng là nhóm đối tượng tác động của các tay VĐHL. Gây tác động lên các chính trị gia qua ngả truyền thông cũng là một phương sách không hề kém hiệu quả. Một quan chức cấp cao ở EC vì thế than vãn: "Hãy cứ giở tờ Financial Times số ra ngày thứ ba là biết ngay những quyết định vào ngày hôm sau của các vị ủy viên châu Âu”.

34.785. Đó là số văn phòng lobby được ghi nhận tại Washington vào năm 2005, tăng hơn gấp đôi trong vòng năm năm.

2,1 tỉ USD. Đó là số tiền mà các doanh nghiệp và các nhóm gây áp lực chi ra trong năm 2004 để “vận động hành lang” tại Quốc hội Mỹ và đối với các cấp chính quyền. Hồi năm 2000, con số này chỉ là 1,6 tỉ USD.

300.000 USD. Đó là mức lương khởi điểm năm mà một doanh nghiệp có thể trả cho một tay vận động hành lang có tài năng hoặc có quen biết lớn. Bằng chứng là khoảng phân nửa số nghị sĩ Mỹ sau khi rời chính trường đã trở thành nhà vận động hành lang. Ngay như cựu bộ trưởng tư pháp Mỹ John Ashcroft, chỉ ba tháng sau khi rời chính quyền đã tham gia ngay vào nghề vận động hành lang và kiếm đến 269.000 USD mỗi năm dù luật qui định ông ta không được làm loại công việc này trong vòng một năm.

Nghề hợp pháp

Ở Mỹ, nghề VĐHL không chỉ là một nghề hợp pháp mà thậm chí còn được ghi trong hiến pháp. Điều khoản số 1 là bảo vệ quyền của công chúng được “kiến nghị đối với chính phủ”, ngang bằng với quyền tự do báo chí. Vì vậy ở Washington các văn phòng VĐHL nằm ngay trên trục lộ chính K Street, bên cạnh các văn phòng luật sư, cố vấn…

Họ cũng công bố rất minh bạch các khoản chi tiêu của mình trong công việc. Thậm chí như Paul Miller, chủ tịch Liên đoàn Các nhà VĐHL Mỹ (ALL), còn tự hào khoe: “Không có chúng tôi, tôi không biết có điều luật nào được thông qua ở Mỹ hay không”.

Vì lẽ đó người ta đã quá quen thuộc với hình ảnh vào giờ ăn trưa và ăn tối, những nhóm người đạo mạo trong bộ vest xám, tay xách cặp, đổ về những địa điểm nổi tiếng ở quanh tòa nhà Quốc hội. Đó là Capitol Hill Club cho cánh Cộng hòa và trụ sở của Ủy ban Dân chủ quốc gia (NDC) cho cánh Dân chủ hoặc là nhà hàng The Hill cho mọi giới. Ở những nơi này, người ta có cả những phòng riêng thường ngày dành cho những cuộc họp “gây quĩ”. Những người ngoài cuộc khó có thể biết điều gì đang diễn ra sau những vuông cửa kính mờ đục.

Mọi thứ đều minh bạch ở Mỹ nhưng cũng rất mờ đục khi người ta muốn nhìn soi mói vào đó. Mỗi nhiệm kỳ Quốc hội ở Mỹ phải bỏ phiếu thông qua đến gần 4.000 luật, phải đọc qua hàng trăm báo cáo, lập ra hàng trăm ủy ban điều tra, nghe hàng trăm buổi điều trần... Chẳng ai có thể xác định được những ảnh hưởng ngầm đối với việc thông qua hay không những điều luật đó. Chẳng có tổ chức nào có đủ thời gian và đủ dũng khí để tìm hiểu tận ngóc ngách các vấn đề.

Bó tay

Hẳn cũng biết rõ quyền lực của các chính trị gia nên qui định về đạo đức của Quốc hội Mỹ đặt ra mức giới hạn về giá trị quà cáp mà các nghị sĩ có thể nhận là dưới 50 USD (quà của bạn bè thân tặng thì được phép dưới 250 USD). Nhưng qui định đó dễ dàng bị qua mặt vì các hội đoàn phi lợi nhuận không phải tuân theo luật định. Các tay VĐHL sẽ tìm cách lập ra các hội đoàn giả mạo để mời mọc chính khách và quan chức chính phủ.

Nhóm America’s Trust do 12 tay VĐHL lập ra là một ví dụ. Theo Tổ chức phi chính phủ Center for Public Integrity, các tay VĐHL đã chi đến 2,3 triệu USD cho những chuyến đi nghỉ mát của 620 nhân viên của Nhà Trắng từ năm 1998 (tức dưới trào Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống Geroge Bush). Một trợ lý nghị sĩ giải thích: "Khi giới luyện kim mời tôi đi thăm các nhà máy và gặp gỡ những tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực rất quan trọng đối với hoạt động của lãnh đạo của tôi, rõ ràng đó không phải là chuyện VĐHL mà là chuyến đi tìm hiểu thông tin”.

Khi các chính khách xem chuyện được mời mọc như lẽ đương nhiên thì rào cản luật pháp nào có thể ngăn chặn được những quan hệ sâu hơn giữa họ với giới doanh nghiệp thông qua môi giới khôn ngoan của những tay VĐHL. Nhật báo The Washington Post hồi cuối tháng 1-2006 cũng từng khiến thượng nghị sĩ Conrad Burns của Đảng Cộng hòa méo mặt khi công bố chi tiết chuyện tiệc sinh nhật lần thứ 70 kết hợp gây quĩ tranh cử của ông này. Văn phòng VĐHL Cassidy & Associates đứng ra tổ chức với thư mời định mức 500 - 2.000 USD tùy hầu bao của khách được mời.

Những viên đạn bọc đường của giới VĐHL quả đáng nể. Hồi cuối tháng 11-2005, nghị sĩ Randy Cunningham, cựu phi công của lực lượng Hải quân Mỹ, người từng là hình mẫu trong bộ phim Top gun hoành tráng của Hollywood với Tom Cruise thủ vai chính, đã phải rời bỏ Quốc hội và thú nhận mình đã ngửa tay nhận quà của cánh chủ doanh nghiệp. Những món quà không nhỏ vì được tính tổng cộng trị giá đến 2,4 triệu USD. Đương nhiên ông nghị sĩ này phải trả nghĩa bằng cách vận động giúp các doanh nghiệp kia kiếm được các hợp đồng bên giới quân đội.

Có thể lấy nhận định của TNS John McCain như một kết luận về tình hình VĐHL hiện nay ở Mỹ: "Nó đang nằm ngoài tầm kiểm soát". Một số lãnh đạo Quốc hội ở Mỹ hiện chỉ dựa trên luật đã qui định để buộc các thành viên phải tuân thủ chặt chẽ hơn việc tiếp nhận quà biếu. Xem ra khó làm sao!

LOBBY.VN
07-20-2009, 04:31 PM
Ranh giới giữa vận động hành lang và tội phạm về chức

Hiện nay, có một vấn đề đang nổi lên liên quan nhiều đến tội phạm về tham nhũng, tội phạm về chức vụ, đó là hiện tượng vận động hành lang (lobby). Trong bối cảnh xã hội đang chuyển mình, nhất là trong quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề này đang ngày càng thu hút được sự quan tâm chú ý của xã hội.

Để hiểu đúng được vấn đề này, trước tiên cần phải tìm hiểu kỹ về những quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) về loại tội phạm này: thế nào là tội phạm về chức vụ, ranh giới giữa vận động hành lang (lobby) và tội phạm về chức vụ trong BLHS như thế nào...

Tội phạm về chức vụ trong BLHS

Trước tiên, cần phải nhấn mạnh rằng việc vận động hành lang (lobby) có một chủ thể không thể thiếu trong mối quan hệ này là người có chức vụ. Vì vậy, nếu liên quan đến pháp luật hình sự thì các điều trong tội phạm về chức vụ của BLHS là trực tiếp và chủ yếu được áp dụng để xử lý. Người có chức vụ, trong pháp luật hình sự, được hiểu là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định khi thực hiện công vụ (điều 227 BLHS).

Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Trong chương XXI, các tội phạm về chức vụ của BLHS được chia thành hai mục A và B. Mục A quy định về các tội phạm tham nhũng và mục B quy định về các tội phạm chức vụ khác.

Để biết được các điều luật của BLHS liên quan đến hiện tượng vận động hành lang (lobby) như thế nào thì cần phải nắm rõ các tội phạm trong BLHS về chức vụ. Mục A chương XXI có quy định về các tội tham ô tài sản (điều 278); tội nhận hối lộ (điều 279); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 280); tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281); tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (điều 282); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (điều 283); tội giả mạo trong công tác (điều 284). Mục B chương XXI có quy định về các tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (điều 285); tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác (điều 286); tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác (điều 287); tội đào nhiệm (điều 288); tội đưa hối lộ (289); tội làm môi giới hối lộ (290); tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (điều 291).

Nên hiểu “lobby” thế nào cho đúng?

Hiện tượng vận động hành lang tại Quốc hội (lobby) hay gọi là vận động chính sách, hay còn gọi là vận động chính sách công đã được thực hiện từ rất lâu tại Mỹ, sau này lan sang các nước phương Tây khác. Hoạt động vận động hành lang được hiểu là việc tác động, ảnh hưởng tới việc xây dựng, sửa đổi chính sách, quyết định của Nhà nước. Với ý nghĩa rộng như vậy thì hoạt động này bao gồm cả khía cạnh tích cực và tiêu cực. Và với ý nghĩa như vậy thì không chỉ các nước phương Tây mà trong nước ta cũng đã có những hoạt động này cũng theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.

Theo chiều hướng tích cực, thì hoạt động này được thực hiện công khai và không kèm theo lợi ích vật chất để tác động, ảnh hưởng tới những người soạn thảo, những người quyết định chính sách, quyết định của Nhà nước theo mong muốn của họ. Điều này cũng được thể hiện qua quan điểm của những người thực hiện hoạt động vận động hành lang ở các nước phương Tây đó. Những hoạt động vận động đó thực hiện qua những phương pháp tiếp cận người có thẩm quyền, người dự thảo chính sách, quyết định, qua những kênh truyền thông và những kênh có thể tác động, ảnh hưởng khác.

Đối với các doanh nghiệp ở nước ta, những hoạt động này được diễn ra với các hình thức hội thảo, toạ đàm, gặp gỡ trao đổi với những người có thẩm quyền để giải quyết, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp. Hoạt động này đã được thực hiện ở nhiều nơi với nhiều cấp độ khác nhau. Hoặc diễn ra theo hình thức khác là cuộc tiếp xúc của những hiệp hội kiến nghị với những người có thẩm quyền nhằm tháo gỡ những khó khăn của họ. Chính những kênh tiếp xúc như vậy đã tác động, ảnh hưởng tới chính sách, quyết định của cơ quan Nhà nước. Hiện tại, chúng ta cũng đã có những tổ chức thành lập ban vận động chính sách này. Những hoạt động đó là một phần trong vận động hành lang, vận động chính sách.

Theo chiều hướng tiêu cực, thì hoạt động vận động hành lang được thực hiện kèm theo lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ và thông thường diễn ra không công khai. Điều này thể hiện bằng việc người vận động hành lang (lobbyist) đưa cho người có thẩm quyền những lợi ích vật chất nhất định để thực hiện những chính sách, quyết định theo mong muốn của họ. Đối với trường hợp này thì pháp luật của nước nào cũng cấm.

Đối với người vận động hành lang (lobbyist) hoặc khách hàng mà họ đại diện nếu đưa những giá trị vật chất nhất định hoặc lợi ích cá nhân khác cho người có chức vụ để đạt được mục đích của mình thì có thể phạm các tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ, tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Mức hình phạt cao nhất của nhóm tội này thông thường thấp hơn nhóm tội trên, nhưng riêng đối với tội đưa hối lộ thì mức hình phạt cao nhất vẫn là tử hình.

Ranh giới giữa lobby và tội phạm về chức vụ

Ranh giới ở đây chính là hành vi vận động nằm ở khía cạnh tích cực hay tiêu cực. Nếu hành vi ở khía cạnh tiêu cực theo đúng các điều kiện trong tội phạm của BLHS thì bị xử lý hình sự. Trong đó, hình thức công khai hay không công khai của việc vận động chỉ là biểu hiện của hành vi mà không làm rõ được bản chất hành vi tiêu cực hay tích cực.


Điều thể hiện rõ nhất để xác định có hành vi phạm tội hay không chính là mối liên hệ về lợi ích vật chất hoặc động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác giữa người vận động và người có chức vụ.


Những lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác được thể hiện bằng rất nhiều hình thức khác nhau như những khoản bồi dưỡng đặc biệt, những bữa tối sang trọng quá mức, những chuyến du lịch cho bản thân người có chức vụ hoặc những người thân quen, những công việc “ngon lành” cho người thân quen, những tấm vé xem môn thể thao ưa thích với người có chức vụ.


Ví dụ, một cuộc hội thảo được tổ chức nhưng ban tổ chức mời những người có chức vụ và các thành viên trong gia đình đến địa điểm hội thảo với chi phí toàn bộ do ban tổ chức gánh chịu. Từ những lợi ích vật chất nhận được như vậy, nên người có chức vụ sẽ bị tác động, ảnh hưởng tới chính sách, quyết định mà mình phải xử lý khi giải quyết một vấn đề sau này khi người trong ban tổ chức đó tác động. Đây rõ ràng là một điều không bình thường và có biểu hiện về tội phạm.


Đặc biệt đối với tội nhận hối lộ thì điều kiện của tội này chỉ yêu cầu giá trị tiền nhất định và việc làm vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Điều kiện của tội phạm này không xét đến lợi ích hoặc yêu cầu của người đưa hối lộ có phù hợp hay không phù hợp với lợi ích của xã hội hay những vấn đề khác.


Qua việc vận động hành lang, còn có một dạng có thể dẫn đến tội phạm khác, đó là thông qua việc tiếp xúc với những người có thẩm quyền, người vận động không chỉ tác động, ảnh hưởng mà còn đón biết được những thông tin về chính sách, quyết định mới của Nhà nước. Việc tiết lộ thông tin vô tình hay cố ý như vậy nếu thuộc vào những trường hợp bí mật công tác thì có thể cũng dẫn tới những tội phạm về chức vụ đã nêu ở trên.

Thời báo Kinh tế Việt Nam

LOBBY.VN
07-29-2009, 07:42 PM
Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ


Các nhóm lợi ích và “vận động hành lang” còn chưa phổ biến ở nước ta, và nhiều khi những khái niệm này được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Tuy nhiên, cần hiểu rõ ý nghĩa của các hoạt động vận động hành lang gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ để có thể áp dụng trong quan hệ thương mại song phương, nhất là qua các vụ tranh chấp thương mại quốc tế.

Các nhóm lợi ích

Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. “Ngày nay, có hơn 22. 000 nhóm lợi ích có tổ chức ở Mỹ, và hàng chục ngàn người đăng ký chính thức làm nghề vận động hành lang tại Washington”[1]. Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp Mỹ năm1787 trong bản sửa đổi đầu tiên, bằng việc khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và yêu sách hoà bình, đã cung cấp các cơ sở pháp lý cho cái gọi là “những nhóm lợi ích đặc biệt”. Theo đó, bất cứ một nhóm nào cũng đều có quyền yêu cầu các quan điểm của họ phải được sự lắng nghe của công chúng, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và các toà án. Đến năm 1946, Luật về nhóm gây áp lực được thông qua. Đến năm 1995, Quốc hội Mỹ đã biểu quyết chấp thuận một đạo luật mới quy định thể lệ hành nghề vận động hành lang[1] để thay thế đạo luật năm 1946. Các nhóm lợi ích, về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Do đó, các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng, nhiều nhóm có lợi ích đối lập nhau và thậm chí có mâu thuẫn với lợi ích của cả bản thân nước Mỹ.

Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế. Theo Madison, một trong những người sáng lập nền cộng hoà Mỹ, “nguồn gốc lâu đời và phổ biến nhất tạo nên các phe phái là ở sự phân chia khác nhau và không công bằng của cải”[1]. Cho đến ngày nay, các tổ chức về thương mại, kinh doanh và nghề nghiệp là những tổ chức đông đảo và có thế mạnh hàng đầu trong số các nhóm lợi ích ở Mỹ; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, đòi quyền bình đẳng của phụ nữ trong bầu cử ; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Đặc biệt, khi chính phủ mở rộng các hoạt động của mình thì đồng thời cũng xuất hiện thêm các nhóm lợi ích để gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ nhằm nâng cao lợi ích của họ. Chẳng hạn như sự ra đời của các tổ chức hưu trí, cựu chiến binh, hay cả những nhóm lợi ích thuộc chính phủ như Liên hiệp quốc gia các thành phố, Liên đoàn các thị trưởng Mỹ, Hội đồng chính phủ các bang ; thứ tư, các nhóm lợi ích ra đời cũng nhằm đối phó với những quy định của chính phủ. Khi có thêm các công việc kinh doanh và nghề nghiệp hoạt động dưới sự điều hành của nhà nước, nhiều tổ chức mới lại ra đời để bảo vệ những lợi ích của họ. Các nhóm lợi ích này thường là những hiệp hội nghề nghiệp có hiểu biết sâu về lĩnh vực của mình. Trong số này, có những nhóm lớn và mạnh như Hiệp hội y tế Mỹ, Hội luật gia Mỹ, Hiệp hội quốc gia các đài phát thanh

Nhìn chung, sự phát triển hết sức nhanh chóng của các nhóm lợi ích này có thể được giải thích bởi sự đa dạng về mặt xã hội và sắc tộc ở Mỹ. Việc đánh giá vai trò và tác động của các nhóm lợi ích là hết sức khác nhau, tuỳ theo đối tượng, lĩnh vực và trường hợp cụ thể. Nhìn tổng thể, các nhóm lợi ích đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Đối với các nhóm lợi ích có tổ chức, hoạt động vận động diễn ra liên tục, nhằm vào tất cả các cơ quan quyền lực của chính quyền và theo đuổi các mục tiêu của họ bằng tất cả những cách thức có thể. Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các uỷ ban hành động chính trị (PAC). Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Liên đoàn các trang trại (Farm Breau Fedaration); Tổ chức công đoàn AFL - CIO; Hiệp hội các nhà chế tạo quốc gia (National Farmers Union); Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union); Liên đoàn toàn quốc của những người đóng thuế (Natinonal Taxpayers Union) Các nhóm quyền lợi này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Điều này thường dẫn đến sự hình thành liên minh giữa các nghị sỹ của hai đảng có chung lợi ích để vận động và thông qua các dự luật có liên quan.

Vận động hành lang - Lobby

Vận động hành lang (sau đây dùng từ: lobby) là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích - hay nhóm gây áp lực. “Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình”[1]. Tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc của tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của tư bản. “Nói cách khác, tư bản đã bỏ tiền ra để sắp đặt người làm việc nhà nước , đôn đốc, theo dõi xem những người đó có phục vụ đúng quyền lợi của tư bản không”[1]. Ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề làm công nhân viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Tại đây, hiện có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề này và đội ngũ ngày càng thêm đông đảo. Năm 1981 có 5.662 người làm lobby đăng ký hợp pháp tại Văn phòng thượng viện, đến năm 1986 đã lên tới hai vạn người, chưa kể thủ phủ các bang và các thành phố trong cả nước. Trong đội ngũ lobby, một số không ít là luật sư (ở Washington cứ 40 người dân thì có một người là luật sư) và những cựu quan chức chính phủ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger có thời kỳ làm lobby cho nước Nhật, cựu Bộ trưởng lục quân Clifford Alexander làm lobby cho một tập đoàn đầu tư Những tổ chức doanh nghiệp, công nghiệp hoặc những công ty càng lớn thì đội ngũ lobby của họ càng mạnh.

Về hình thức hoạt động, lobby không phải ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Ngoài việc chiêu đãi tiệc tùng liên miên, đưa các nghị sĩ đi chơi đâu đó bằng máy bay riêng hay mời dự hội thảo, hội nghị, những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. “Cái tục lệ dùng tiền bạc để vận động tranh cử và vận động làm luật này, luật khác, xét về bản chất, có thể sánh với tục “mua quan bán tước” trong thời phong kiến. Nó gây nhiều lạm dụng, tệ đoan và tai tiếng”[1]. Bởi vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của những kẻ “đổi chác mua bán quyền thế ” ở thủ đô Washington. Từ những kẻ chạy vòng ngoài chiêu đãi công nhân viên nhà nước ở cấp thấp, cho đến những người có vây cánh giao dịch mật thiết và kín đáo hoặc công khai với những thượng nghị sĩ và các thành viên nhà nước cấp cao.

ở Mỹ, những lobby nhiều tiền và do đó nhiều thế lực nhất là những lobby đại diện cho các tập đoàn tư bản, tiêu biểu là:

Lobby công nghiệp quốc phòng: Có sức mạnh vô địch, chi phối Quốc hội và nhà nước. Nó đại diện cho đông đảo các công ty và các nhà thầu cực lớn, cung cấp máy bay, tàu chiến, súng, bom và mọi thứ hàng cần thiết cho quân đội Mỹ. Trong suốt thời gian của cuộc chiến tranh lạnh, đông đảo các nghị sỹ của cả hai phe đã liên hệ mật thiết với lobby của các công ty này. Trong kỳ tổng tuyển cử 1987 - 1988, những uỷ ban hành động chính trị của các công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng đã ủng hộ trên 7 triệu đô la tiền cứng, tức là tiền ủng hộ trực tiếp cho các cá nhân là ứng cử viên Thượng viện và Hạ viện.

Lobby dầu khí: Sức mạnh chỉ sau lobby công nghiệp quốc phòng. Sau cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990, lobby dầu khí vận động nhà nước có chính sách bao cấp để gia tăng sản xuất dầu khí trong nước nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.

Lobby phục vụ nước ngoài: Những người làm lobby phục vụ quyền lợi của chính phủ nước ngoài phải đăng ký hoạt động với nhà nước Mỹ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Công việc của họ trên hai phương diện: Cố vấn cho chính phủ nước ngoài về chủ trương, chính sách và xu thế của nhà nước Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến hai nước; vận động để Quốc hội và Tổng thống Mỹ theo đường lối hợp với nguyện vọng của chính phủ nước ngoài mà người làm lobby phục vụ. Trong lịch sử và hiện tại, rất nhiều chính phủ là khách hàng của các lobby Mỹ như Trung Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, ăng-gô-la, Nhật Bản, Hàn Quốc

Ngày 19/12/1995, Tổng thống Mỹ đã ký ban hành đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động lobby cả trong và ngoài nước Mỹ và quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả ”. Luật này đã có những quy định hạn chế cho những người làm lobby. Chẳng hạn, luật cấm các thượng nghị sỹ và nhân viên văn phòng thượng viện không được nhận quà hoặc chiêu đãi đáng giá trên 100 đô la mỗi người mỗi năm, cấm không được tham dự những chuyến đi giải trí do tư nhân đài thọ. Tuy nhiên, thể lệ về quà cáp và chiêu đãi cũng có tới 24 trường hợp ngoại lệ. Luật mới cũng buộc những người làm lobby mỗi năm phải báo cáo với nhà nước hai lần về số tiền họ nhận của các công ty, nhận để làm gì và thân chủ của họ là ai; và quy định rằng, bất cứ ai được trả tiền để vận động các nhà lập pháp và các quan chức chính phủ đều được coi là người làm lobby, nếu người ấy dùng ít nhất 20% thì giờ của mình để đại diện cho thân chủ trong mỗi thời gian sáu tháng. Luật cũng yêu cầu, cả những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới 5 vạn đôla.

Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại, “đồng thời cũng góp phần làm suy yếu các đảng phái chính trị”[1]. Trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, lobby Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang tính chất xã hội nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của lobby cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Hoa Kỳ.

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các hoạt động lobby nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ.

“ở khu vực Đông Nam á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Cam-pu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ”. Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ được hưởng quy chế “tối huệ quốc”, để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế, thương mại, vấn đề mua vũ khí và kỹ thuật cao của Mỹ Bên cạnh những hoạt động lobby của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước này cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty đó ở Mỹ.

LOBBY.VN
08-02-2009, 11:17 AM
Ngoại giao cho thuê

- Trên thế giới bắt đầu xuất hiện những nhà ngoại giao hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ một chính phủ hay định chế quốc tế nào. Họ sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ về quan hệ ngoại giao với mức phí thấp, nhưng đạt kết quả bất ngờ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/217885.jpg
J.Petersen (phải), thành viên ID trong một cuộc thương thảo Ảnh: AP

Independent Diplomat (ID) có trụ sở chính tại Mỹ có lẽ là tổ chức phi lợi nhuận duy nhất hiện nay trên thế giới chuyên cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, ngăn chặn xung đột; hỗ trợ các chính quyền lèo lái bộ máy hành chính phức tạp; tư vấn cho các định chế quốc tế trong việc giúp đỡ một quốc gia... ID là tập hợp của các nhà cựu ngoại giao, luật sư quốc tế và chuyên gia quan hệ quốc tế danh tiếng đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

ID bắt đầu nổi danh khi góp phần giúp tỉnh Kosovo thuộc Serbia giành được sự công nhận độc lập từ nhiều nước trên thế giới. “Chúng tôi nhận được sự hỗ trợ lớn từ họ (ID) vào thời điểm chúng tôi cần nhất”, đại diện Kosovo tại Liên minh châu Âu (EU), phát biểu với hãng tin AP.

Tuy nhiên, ID cũng đối mặt với làn sóng chỉ trích rằng các nhà ngoại giao hoạt động tự do không nên gia tăng ảnh hưởng.

“Chính phủ hoặc các quan chức quốc tế thường từ chối trao đổi với khách hàng của chúng tôi hoặc nếu có nói chuyện họ cũng không muốn cung cấp những thông tin cần thiết”, Nicholas Whyte, Giám đốc Văn phòng ID tại Brussels (Bỉ), giải thích với báo chí.

Cựu chuyên gia quốc tế người Ai-len (Ireland) này cũng cho biết thêm: “Về phía khách hàng của chúng tôi, họ thường thiếu kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và không có ai chịu trao đổi với họ”.

Hoạt động của ID chủ yếu dựa vào khoản đóng góp từ các quỹ và từ các chính phủ trị giá khoảng 1,8 triệu USD mỗi năm. Khách hàng cũng phải trả tiền khi cần thuê dịch vụ của ID, nhưng mức lệ phí thường tùy theo khả năng của họ. Với những nước nghèo, khoản tiền phải trả cho ID thường rất nhỏ.
Với văn phòng tại New York, Washington (Mỹ), London (Anh), Brussels (Bỉ) và Addis Ababa (Ethiopia), tổ chức độc lập này cung cấp cho khách hàng trên toàn thế giới phương cách để tiếp cận với chính phủ nước ngoài hoặc các định chế quốc tế như Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu.

ID cũng tư vấn cho các quốc gia trên những vấn đề mà họ thiếu chuyên môn. Cộng hoà Quần đảo Marshall được ID tư vấn để tham gia vào chương trình chống biến đổi khí hậu của UN. Trong khi đó, một số nước Đông Âu cần tới sự giúp đỡ của các nhà cựu ngoại giao, chuyên gia luật quốc tế của ID để tiến trình gia nhập EU trôi chảy hơn.

Cựu quan chức ngoại giao Anh Carne Ross, người sáng lập và hiện là Giám đốc ID, khẳng định tổ chức này tuân thủ chính sách nghiêm khắc trong việc từ chối những khách hàng có liên quan tới xung đột quân sự như Hamas ở dải Gaza (Palestine), Những con hổ Tamil ở Sri Lanka.

Tổ chức các nhà ngoại giao độc lập khẳng định họ có thế mạnh nổi bật trong vai trò trung gian, bao gồm việc tổ chức cuộc gặp gần đây giữa các quan chức EU và Tổng thống của chính phủ lưu vong thuộc Tây Sahara.

Vùng đất này thuộc về Morocco cách đây 35 năm, nhưng chính phủ lưu vong của Tây Sahara đang đòi độc lập. Những vùng lãnh thổ khác như Bắc Cyprus, Somaliland cũng nhờ tới sự giúp đỡ của ID. Những quốc gia độc lập có liên quan tới vùng lãnh thổ còn tranh chấp kể trên không hài lòng với sự tham gia của ID.

Phát biểu với AP, Robert Cooper, Tổng Thư ký Hội đồng châu Âu ở Brussel, cho rằng đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO), đạt được bất kỳ thành công nào trên các vấn đề quốc tế thường rất khó khăn.

“Một số NGO hoạt động hiệu quả và được tôn trọng, nhưng cuối cùng chẳng được gì cả”, ông Cooper nói.

Richard Dalton, cựu Đại sứ Anh tại Iran, lại nói rằng các hoạt động kể trên là nỗ lực của cá nhân, những người có thể tạo nên sự khác biệt. “Các quy tắc và triết lý của họ có thể phủ lấp lỗ hổng cho các nước, phong trào, nơi người ta chưa thể tiếp cận được với hệ thống quốc tế”, cựu Đại sứ Dalton phát biểu với AP.

LOBBY.VN
08-07-2009, 08:50 AM
Sức mạnh vận động hành lang

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/p21-FAN2013686_Veer.jpg

John Newhouse thuộc Viện An ninh Thế giới (Mỹ) viết trên tờ Foreign Affairs rằng, chính các hoạt động lobby của nước ngoài tại Mỹ đã góp phần làm giảm uy tín và ảnh hưởng của Washington trên thế giới.

Do biết sử dụng đồng tiền “đúng mục đích”, Nhật Bản cũng đã khá thành công trong lĩnh vực vận động hành lang (lobby) với mục tiêu bảo vệ tối đa lợi ích kinh tế của mình. Còn tại chính trường Mỹ, nổi lên các hoạt động vận động ồ ạt của các nước Trung và Đông Âu nhằm mục tiêu gia nhập NATO.

“Mua” cả Washington

Đó là phương châm lobby nổi tiếng của người Nhật trong việc vận động các chính sách kinh tế, thương mại tại Mỹ có lợi cho nước này. Theo thống kê của Bộ Tư pháp Mỹ, hiện ở Mỹ có khoảng 200 tổ chức chuyên vận động hành lang cho các cơ quan chính phủ, tổ chức thương mại và doanh nghiệp tư nhân của Nhật. Trung bình mỗi năm Nhật Bản chi khoảng 500 triệu USD cho các hoạt động này. Luật tranh cử Mỹ cho phép công ty nước ngoài thông qua Ủy ban vận động chính trị để quyên góp tiền cho ứng cử viên. Nhật Bản đã tận dụng “lỗ hổng” này và khuyến khích các tập đoàn bán lẻ, nhà cung cấp của Mỹ thành lập các Ủy ban vận động chính trị để tiến hành quyên góp chính trị.

Những năm 1980, thông qua Công ty Sony, Nhật đã huy động được 29 triệu USD quyên góp cho nghị sĩ của California để vận động bang này áp dụng chính sách thu thuế có lợi cho Sony. Ngoài ra, Nhật còn thông qua các công ty PR, ngân hàng, các tổ chức xã hội để chi tiền “thù lao” cho các quan chức chính phủ Mỹ khi họ thuyết trình, tham gia hội thảo…

Các hoạt động lobby của Nhật còn nhằm vào các trợ lý và các nhân viên làm việc trong Quốc hội vì đây là những người có ảnh hưởng tới các nghị sĩ. Các cơ quan nghiên cứu Nhật đã đi sâu tìm hiểu về đời sống, sở thích, phân bổ tuổi tác,... của các trợ lý nghị sĩ. Đại sứ quán Nhật thường tổ chức các buổi chiêu đãi, khiêu vũ, mời các trợ lý này sang thăm Nhật...

Lobby chính trị

Giữa những năm 1990, trong giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ nổi lên cuộc tranh luận về vấn đề mở rộng NATO. Năm 1991, lãnh đạo Liên Xô Gorbachev nhận được bảo đảm từ Mỹ là NATO sẽ không triển khai lực lượng dọc biên giới Đông Đức, đổi lại, Liên Xô sớm thừa nhận nước Đức thống nhất. Tuy nhiên, ngày 30/4/1998, Thượng viện Mỹ thông qua dự luật ủng hộ NATO mở rộng. Tháng 3/1999, CH Séc, Hungary và Ba Lan đã được chấp nhận gia nhập NATO. Tiếp đó, tháng 3/2004, là các nước Bulgaria, Romania, Slovakia, Slovenia và ba nước Baltic khác.

Có được kết quả trên là do các hoạt động lobby mạnh mẽ của các nước Trung và Đông Âu. Một trong những nhà vận động hăng hái nhất là Randy Scheunemann, người có chủ trương đem NATO đến gần nước Nga và từng là cố vấn chính sách đối ngoại cho ứng cử viên tổng thống Mỹ John McCain. Năm 2006, McCain trở thành đồng tài trợ cho dự luật đã thông qua tại Thượng viện ủng hộ NATO kết nạp Albania, Croatia, Gruzia và Macedonia. Đến đầu năm 2008, Scheunemann vẫn tiếp tục chiến dịch này, đồng thời là một cố vấn được chính phủ Gruzia trả thù lao.

Trong số các công ty tham gia vận động có Jefferson Waterman International (JWI) đại diện cho Bulgaria và Romania. Đây là công ty đã thu hút được nhiều cựu quan chức, nhân viên CIA và hoạt động rất hiệu quả. Samuel Hoskingson, Phó Chủ tịch và quản lý tài chính hàng đầu của công ty, cũng từng là cố vấn cấp cao cho ba cố vấn an ninh quốc gia là Henry Kissinger, Brent Scowcroft, và Zbigniew Brzezinski. Chính Hoskingson tháng 6/2007 tham gia thành lập nhóm gọi là Liên minh vì Kosovo mới để vận động Quốc hội và Nhà trắng công nhận Kosovo độc lập. Nhóm này đã thuê 8 người để vận động Quốc hội và Bộ Ngoại giao và kết quả là tháng 2/2008, Mỹ cùng một số nước phương Tây thừa nhận Kosovo độc lập.

LOBBY.VN
09-17-2009, 10:35 AM
Hàn Quốc sắp chính thức hoá vận động hành lang


Từ trước tới nay, nhiều hình thức vận động hành lang hay gây tác động ngầm đã tồn tại trên chính trường Hàn Quốc song nó chưa bao giờ được ghi lại. Chỉ khi một bí mật hay một hành động trái phép nào đó bất ngờ bị tiết lộ và phơi bày trên báo chí thì công chúng mới có dịp ''ngó'' vào thế giới bóng tối của những người vận động hành lang.

Bà Lee Seung-hee, một nghị sĩ thuộc đảng nhỏ đối lập Dân chủ Thiên niên kỷ (MDP) đã tìm cách thay đổi tình trạng trên bằng cách đề xuất một đạo luật về vấn đề này. Nghị sĩ Lee hy vọng bộ luật có thể đưa ra chỉ dẫn về các hoạt động của vận động hành lang.

Hôm qua, một cuộc tranh cãi nóng bỏng về đạo luật vận động hành lang đã diễn ra tại Quốc hội. Đây là diễn đàn đầu tiên trong một loạt diễn đàn tương tự do bà Lee mở ra để bàn về đạo luật này trước khi đệ trình nó lên cơ quan lập pháp.

''Lần tôi cảm thấy thất vọng nhất kể từ sau khi trở thành nghị sĩ đó là phải chứng kiến một đạo luật quan trọng được một vài người hấp tấp thông qua, chỉ bởi vì không có chuyên gia nào hay đảng phái nào có liên quan thu hút được đầy đủ sự chú ý'', nghị sĩ Lee nói trong bài phát biểu khai mạc.

Nhà lập pháp này thừa nhận, trước đây Hàn Quốc từng tạo ra một hình ảnh không mấy thiện cảm trong con mắt quốc tế. Tiêu biểu là, ông Park Tong-sun - một người vận động hành lang dưới thời cố Tổng thống Park Chung-hee đã gây ra vụ ''Korea Gate'' tại Quốc hội Mỹ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh những hoạt động kiểu trên ngày càng quan trọng Hàn Quốc phải tận dụng ưu thế của những nhà vận động hành lang trong và ngoài nước bằng cách đặt họ vào trong hệ thống, bà Lee nhấn mạnh. Quan điểm của bà Lee được nhiều người ủng hộ.

Theo dự thảo luật do Nghị sĩ Lee đệ trình, cá nhân hay tổ chức muốn tác động tới quá trình làm luật có thể vận động các quan chức chính phủ sau khi đăng ký tại Bộ Tư pháp. Những người, tổ chức này phải báo cáo hoạt động cho Bộ Tư pháp 2 lần trong năm.

Bà Lee dự định tổ chức 2 cuộc thảo luận tương tự về chủ đề này nhằm thu thập ý kiến của những người quan tâm như luật sư, các thành viên tổ chức dân quyền, các chuyên gia pháp lý vào 18 và 25/5.

LOBBY.VN
09-17-2009, 10:44 AM
VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG NỀN CHÍNH TRỊ MỸ
VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

TRẦN BÁCH HIẾU – Bộ môn Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật tại quốc gia này.Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật tại quốc gia này.

1. Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ

Vận động hành lang (lobby) được hiểu là những hoạt động hậu trường thường thấy ở nhiều nước trên thế giới. Qua hoạt động này, những người vận động (là người chuyển tải quan điểm của một bộ phận dân cư trong xã hội) có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới những thành viên của cơ quan lập pháp, thuyết phục họ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi lập pháp mới để đạt được kết quả như những người vận động hành lang mong muốn.

Có thể nói, Mỹ là nơi hoạt động vận động hành lang diễn ra sôi nổi nhất thế giới và vận động hành lang cũng được coi là một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, lập pháp). Xuất hiện từ khi nước Mỹ mới thành lập, lobby chính là một “thói quen chính trị trong việc hình thành các chính sách của Mỹ và thói quen này đã được luật pháp Mỹ quy định và bảo hộ (1). ở Mỹ, lobby được hiểu là sự vận động các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc hội Mỹ ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ đưa ra hay ủng hộ các đạo luật, các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có lợi cho các nhóm lợi ích khác nhau. Người làm nhiệm vụ này được gọi là nhà vận động hành lang. Người đó được trả lương để tác động tới bộ máy lập pháp hoặc dư luận. Hiện nay, phố K chính là nơi đặt trụ sở của các công ty lobby hàng đầu nước Mỹ.

Mỹ đã có nhiều văn bản pháp luật thừa nhận và quy định các hoạt động lobby. Đạo luật quan trọng nhất áp dụng cho hoạt động lobby ở Mỹ là Đạo luật vận động hành lang được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1946 (The Federal Regulation of Lobbying Act). Ngày 19/12/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành Đạo luật về Công khai hóa hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) điều chỉnh các mối quan hệ trong và ngoài nước ở Mỹ và quy định: “Bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hóa các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hóa các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả. Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang tồn tại như một loại hình kinh doanh mang tính chính trị – xã hội, có tác động mạnh mẽ vào quá trình hình thành chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ.

2. Vị trí, vai trò của các nhóm lợi ích trong hoạt động vận động hành lang ở Mỹ

Tại Mỹ, quá trình xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng khá mạnh từ hoạt động vận động hành lang mà những người thực hiện hoạt động này là các nhóm lợi ích. Do đó, cũng có thể nói việc xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng bởi sự tranh giành hay thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích là tổ chức của những người có cùng quan tâm, có cùng quan điểm với từng vấn đề xã hội khác nhau; cố gắng tác động đến việc xây dựng chính sách của Chính phủ và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành các chính sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà họ là người đại diện (2) . Ngoài ra, “các nhóm lợi ích vận động chính quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự do” (3). Lời khẳng định đó của Tổng thống Jefferson đã chứng tỏ các nhóm lợi ích có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. “Ngày nay, có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức ở Mỹ, và hàng chục ngàn người đăng ký chính thức làm nghề vận động hành lang tại Washington” (4). Có khoảng 60% dân Mỹ tham gia vào các nhóm lợi ích. Như vậy, sự tham gia của công dân vào chính trị nói chung và quá trình ra quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống dân chủ truyền thống Mỹ.

Có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau:

(i) Nhóm lợi ích về kinh doanh như các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia

(ii) Nhóm hiệp hội nghề nghiệp

(iii) Nhóm liên Chính phủ

(iv) Nhóm lợi ích công

(v) Nhóm công đoàn

Các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng và về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Họ đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của Chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Các nhóm này có tính chất phi tập trung hóa quyền lực chính trị với các bang và các địa phương, tức được hình thành ngẫu nhiên và dựa trên nhu cầu lợi ích xã hội. Các nhóm lợi ích này hoạt động rất năng động không chỉ dồn sức cho hoạt động chính trị mà còn cho cả những vấn đề mà họ quan tâm và thời gian tồn tại của những nhóm này là rất ngắn. Chúng xuất hiện khi có các vấn đề xuất hiện, rồi lại biến mất khi vấn đề được giải quyết.

Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của Chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các Uỷ ban hành động chính trị (PAC). Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là:

Tổ chức nông nghiệp Liên bang Mỹ

Tổ chức công đoàn AFL – CIO

Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union)

Các nhóm lợi ích này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó, trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Các nhóm lợi ích này thực hiện chức năng tiếp điểm, thể hiện quan điểm và đại diện cho lợi ích của các nhóm riêng biệt trong xã hội. Ngoài ra, còn cung cấp nhiều thông tin và kiến thức chuyên biệt về việc bố trí sắp xếp những thiết chế chính thức.

Nước Mỹ đứng trước sự trái ngược: vừa phải thừa nhận tính đa dạng về lợi ích; vừa phải ngăn ngừa các nhóm lợi ích này thông qua hoạt động vận động hành lang có thể gây lũng đoạn chính sách. Một mặt, họ tạo ra hàng loạt luật và án lệ mới bảo vệ hệ thống chính trị và các đảng phái khỏi ảnh hưởng lobby về tài chính (tiền chi cho vận động hành lang tại Mỹ vào năm 2004 lên đến 2, 1 tỷ USD)(5). Mặt khác, họ thừa nhận và luật hóa các nhóm lợi ích, các công ty vận động hành lang như đã nói ở trên. Chính sự tự do trong việc lobby chính sách đã tạo ra rất nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh và đối trọng lẫn nhau và đã có lúc cả hệ thống chính quyền Mỹ bị chao đảo vì các nhóm lobby. Một cơn sốc chính trị nổ ra trong Quốc hội Mỹ khi Abramoff, nhà vận động hành lang có thế lực nhất của Mỹ bị kết tội trong một loạt scandal chính trị cao cấp. Tại tòa án, Abramoff đã nhận tội biển thủ, gian dối tài chính và mua chuộc chính khách. Tạp chí Time gọi ông ta là “người đã mua cả Washington”. Trung tâm điều tra độc lập Center for Responsive Politics cho biết đã điểm danh được hơn 300 nghị sĩ của cả hai đảng từng hưởng dân huệ từ Abramoff từ năm 1999. Sau vụ khủng hoảng này, hàng loạt các kiến nghị cải tổ luật về các nhóm lợi ích được đưa ra. Luật Lobby sửa đổi ngày 18/1/2006 quy định cấm các hình thức quà cáp “bồi dưỡng” cho các nghị sĩ có giá trị từ 20 USD trở lên, tặng vé máy bay, chiêu đãi các kỳ nghỉ, các chuyến đi thực tế của các nghị sĩ theo lời mời của các tổ chức, cá nhân, mời cơm thân mật…

Nhưng bên cạnh đó, lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về những ảnh hưởng tích cực của các nhóm lợi ích với chính sách: Vào cuối thập kỉ 90, dưới sự lobby của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ rất ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc Mỹ, dưới sự tổ chức của các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc (trái phép). Phong trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn, nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người nghèo hay nới lỏng quy định nhập khẩu thuốc (6).

thoidaianhhung
09-17-2009, 10:48 AM
3. Hoạt động vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ

Vận động hành lang (lobby) là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, đã được thể chế hoá và gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích – hay nhóm gây áp lực. “Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình” (7). Các nhóm lợi ích thường gây ảnh hưởng mạnh tới các cơ quan làm luật ở cả cấp bang và liên bang, nhưng hoạt động của các nhóm lợi ích ở cấp bang mạnh hơn cấp liên bang. Các nhóm này vận động để thông qua hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Do tính chất của hệ thống chính trị Mỹ, không có một nhánh quyền lực nào có quyền lực tuyệt đối, các nhánh kiềm chế quyền lực lẫn nhau, khiến cho các nhóm lợi ích có thể tác động đến hoạt động lập pháp hay hoạt động hành chính của chính quyền về các khâu, các giai đoạn của quá trình làm luật và chính sách. Các nhóm này hoạt động trên phạm vi rộng lớn, tham gia làm lobby vào mọi loại hình và trong tất cả các giai đoạn của hoạt động chính trị. Những đối tượng cần đến các nhóm vận động là các tổ chức chính trị, các công ty, chính quyền tiểu bang, chính quyền nước ngoài và nhiều nhóm khác…

Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang là nhằm làm cho hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận động hành lang. Các hoạt động vận động hành lang được tiến hành theo quy trình: các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những người làm lobby tham gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo, những chất vấn chính thức và không chính thức với các quan chức nhà nước được bầu hay bổ nhiệm. Sau đó, họ gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà làm luật… Các nghị sĩ Quốc hội sau khi tiếp xúc với những người làm lobby có thể đệ trình các dự luật theo yêu cầu của họ. Và để hoạt động vận động hành lang thu được hiệu quả, một nhà vận động phải hiểu rõ hệ thống chính trị Mỹ, phải có quan hệ tốt với các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Chính vì vậy mà có rất nhiều nhà vận động hành lang giỏi lại chính là các cựu quan chức của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Không ai khác, họ là người có nhiều kinh nghiệm và xây dựng được nhiều mối quan hệ sau nhiều năm làm việc và công tác. Ví dụ điển hình là cựu Nghị sĩ Mỹ Bob Livingston đã trở thành một nhà vận động hành lang thành công sau khi rời khỏi chính trường. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm lobby do ông thành lập đã phát triển thành 1 trong 12 công ty lobby lớn nhất, với doanh thu gần 40 triệu USD tính tới cuối năm 2004. Những năm gần đây, không chỉ có những nhóm lợi ích thuê các nhà vận động hành lang để tiến hành vận động cho mình mà ngay cả Chính phủ và các công ty nước ngoài cũng tìm sự vận động theo hướng này. Những nhà vận động hành lang được coi là nhịp cầu nối giữa các nhóm lợi ích và các nhà chính trị, các nhà làm luật và hoạt động chính sách. Hoạt động của họ vừa có tính thuyết phục các nhà làm luật, vừa tạo điều kiện để họ hiểu được quan điểm của các nhóm lợi ích. Người dân Hoa Kỳ, các nhóm lợi ích cần các chuyên gia lobby để có thể nhận được sự chú ý nhiều hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình từ các cơ quan hành pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sỹ Hoa Kỳ cũng thấy các chuyên gia lobby thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua các dự luật và các quyết định quan trọng, bởi tình trạng quá tải về công việc của các nghị sỹ Hoa Kỳ trước yêu cầu cần được điều chỉnh của các quan hệ phát sinh trong xã hội hiện nay. Chính các chuyên gia lobby là người hướng các nghị sỹ Hoa Kỳ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội, người dân và những chủ thể có quyền lợi liên quan khác.

Nhưng mặt khác, điều không thể phủ nhận là vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập thông tin và tác động. Thực tế hiện nay, tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của các nhóm lợi ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Nhưng đồng tiền khi dính với quyền lực chính trị sẽ dẫn đến nguy cơ bè đảng, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng nói trong quá trình ra quyết định. Đây cũng là khe hở để các thế lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động và bóp méo công lý. Một số người vận động hành lang đã lợi dụng cơ chế này để đóng góp tiền cho các chiến dịch chính trị và dành cho các quan chức được bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn bộ những đóng góp này cũng luôn luôn kèm với kỳ vọng sẽ được đối xử thuận lợi trong một số vấn đề sau này. Và thực tế, có thể gọi chúng là “của đút lót tế nhị được nguỵ trang khéo léo”. Còn về hình thức hoạt động, lobby không phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Một số những chuyên viên vận động hành lang có những hành động kèm theo những quà cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện của khách hàng đến các nhà làm luật. Những món quà đó có thể là tiền bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi xa thật đắt tiền. Những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia lobby cũng bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong những người được mệnh danh là “ông vua lobby” của Hoa Kỳ, đã triệt để áp dụng nguyên tắc: “con đường ngắn nhất để đạt được sự ủng hộ của một nghị sỹ đối với một dự luật chưa được thông qua là đi qua dạ dày của ông ta” (8).

Chính vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của nó. Với khoản tiền thu hàng năm về tới 4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu tư, có thể nói ưu thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong vận động hành lang đã và đang có ảnh hưởng to lớn tới chính trường Mỹ và cụ thể là tới quá trình xây dựng chính sách và pháp luật nói riêng. Điều nguy hiểm ở đây là sự nhập nhằng ranh giới giữa việc đầu tư ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử với hối lộ; giữa nhận tiền tài trợ cho quỹ bầu cử với tham nhũng.

Ở Mỹ, những nhóm lobby mạnh nhất là những nhóm đại diện cho lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm tới 72%): Lobby công nghiệp quốc phòng, Lobby dầu khí, Lobby phục vụ nước ngoài. Chỉ có 8% đại diện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ dân quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho những nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật. Như vậy, số người hành nghề vận động hành lang đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm số lượng áp đảo. Các nhóm lobby này có một sức mạnh đáng kể trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật ở Mỹ. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri mới là nhân tố chi phối kết quả bỏ phiếu cuối cùng. Khi các nhóm lợi ích cùng kết thành một hiệp hội, có sự liên kết hơn, họ sẽ hình thành một tổ chức vận động hành lang có tính chất chuyên nghiệp. Với các chuyên gia chuyên vận động hành lang dựa vào mối quan hệ tương hỗ giữa các nghị sĩ, tiếng nói của họ sẽ được chú ý hơn trước Quốc hội, khiến cho Quốc hội khó có thể bỏ qua ý kiến của các liên minh trước những vấn đề chính sách lớn. Hoặc có trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì tiếng nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm, chính sách đó.

Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Ví dụ như, do đặc thù của việc bầu cử rất tốn kém, nên hệ thống chính trị cần nhiều tiền để thực hiện các hoạt động. Vì thế, khi các công đoàn, công ty và tổ chức đóng góp tiền bạc cho các đảng và các nhà chính trị thì đồng thời họ đóng luôn vai trò quan trọng trong việc định đoạt chương trình chính trị nhà nước. Mỹ có một hệ thống chính trị và pháp luật rất phức tạp và trong đó vận động hành lang là hoạt động liên quan trực tiếp đến cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống pháp luật, nên chính bản thân nó cũng hết sức phức tạp.

Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ đồng thời còn là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Thêm nữa, đây là một cơ chế quan trọng thể hiện được tính dân chủ rất lớn mà qua đó các công dân Mỹ có thể phản ánh trực tiếp những ý tưởng, nguyện vọng, nhu cầu và quan điểm của mình tới các vị quan chức được bầu. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang đậm tính chất xã hội, nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Bản chất của “vận động hành lang nhìn chung không phải là xấu …” (9), tuy nhiên, với muôn màu muôn vẻ của các kiểu vận động mà không có sự kiểm soát chặt chẽ, nó cũng không tránh khỏi việc bị lạm dụng, gây nhiều tệ nạn và tai tiếng.

4. Một số liên hệ tới Việt Nam

Các nhóm lợi ích và “vận động hành lang” còn chưa phổ biến ở Việt Nam, và đôi khi những khái niệm này còn được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Dù nền tảng Hiến pháp đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước, đặc biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với chính sách, pháp luật, nhưng việc thực hiện còn khá khiêm tốn và hạn chế. Cũng có khi các hiệp hội, tổ chức, cá nhân gặp gỡ người có thẩm quyền đề nghị xem xét lại chính sách, qui định… nhưng đây không phải là hoạt động lobby đúng nghĩa mà là sự “chạy chọt”. Cơ sở của lobby là quyền lợi mâu thuẫn nhau, đặt trên nền tảng đa nguyên. Mục đích lobby là vì lợi ích kinh tế. Và để thực hiện nó phải bằng tiền. ở Việt Nam, lợi ích là thống nhất nên việc lobby trong lập pháp thực chất không tồn tại. Tuy nhiên, lobby là một vấn đề mới và cần phải nghiên cứu để xây dựng một hành lang pháp lý cho hoạt động này ở nước ta (10).

Có một thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần, Việt Nam cũng thấy rõ một điều rất vô lý, khi phía Việt Nam thậm chí còn chưa kịp đưa ra các bằng chứng chống kiện, thì Quốc hội Mỹ đã thông qua dự thảo đánh thuế hàng hoá của Việt Nam. Lý do rất đơn giản: các tổ chức tại Việt Nam lúc này chưa hề nắm rõ thị trường Mỹ và cũng đã không có một ý tưởng nào về việc thuê các nhà vận động hành lang (Lobbyist) trong vụ kiện (chi phí thuê Lobby cho dù là có khá lớn, nhưng thực chất không ăn thua gì so với thiệt hại khoảng 20 triệu USD từ việc Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đánh vào sản phẩm cá tra, basa đông lạnh). Trong khi đó, những tổ chức như Liên minh Tôm miền Nam (SSA) và Hiệp hội Tôm bang Lousiana (LSA), ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine, họ còn sử dụng hàng loạt các công ty chuyên hành nghề lobby nổi tiếng tại đây như Livingston, Jones Walker, Waechter, Poitevent&Denegre… để vận động các quan chức hai viện Mỹ ủng hộ họ trong vụ kiện bán phá giá Việt Nam.

Theo tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, “ở khu vực Đông Nam á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campuchia, Hongkong, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Philippines đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động lobby ở Mỹ (11). Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là được hưởng quy chế “tối huệ quốc” trong vấn đề về thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ hay để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế… Bên cạnh những hoạt động lobby của Chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần Chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty này ở Mỹ.

Chính vì lợi ích do lobby mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cuba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam…

Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nayT, hoạt động vận động hành lang đã được các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận, còn các Chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ. Do đó, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ, thì phải biết lobby. Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không tính đến, cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn. Bên cạnh đó, cần hiểu rõ ý nghĩa của lobby là luôn gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ để có thể đưa ra những chính sách phù hợp để áp dụng trong quan hệ thương mại song phương, nhất là qua các vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Ra đời và tồn tại trong hơn 200 năm qua, hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ. Hoạt động này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền chính trị Mỹ đến mức, không ít nghị sỹ Hoa Kỳ đã từng phát biểu rằng, thật khó tưởng tượng được sự vắng mặt của các chuyên gia lobby đối với hoạt động của Quốc hội Hoa Kỳ.

Có thể nhận thấy, vận động hành lang là một hoạt động có hai mặt: một mặt, nó là phương thức có hiệu quả rất lớn để tác động đến hoạt động của Quốc hội, cũng như nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của đại biểu Quốc hội và cũng là một hình thức để giới lập pháp nhận được các thông tin và yêu cầu của một bộ phận trong xã hội. Nhưng, mặt trái của nó là dễ bị các bộ phận khác nhau lợi dụng, tác động trực tiếp vào quá trình lập pháp, uốn hoạt động lập pháp theo hướng có lợi nhất cho quyền lợi cục bộ của mình. Theo khía cạnh đó, vận động hành lang thường được đánh giá là một hiện tượng mờ ám mang tính mua chuộc, không minh bạch. Trong hoạt động vận động hành lang, các nghị sĩ cũng có thể bị các nhóm lợi ích mua chuộc. Khắc phục điểm yếu này, pháp luật phải có các quy định về tính minh bạch, công bằng của hoạt động lobby. Và quan trọng hơn là trách nhiệm của các nghị sĩ, một nghị sĩ chân chính cần cảm nhận được sức ép từ các cuộc vận động kiểu này để xác định và giữ vững lập trường của mình.

Vận động hành lang sẽ không dẫn đến việc lệch lạc của công tác lập pháp, nếu nó được sử dụng đúng đắn – tức là như một kênh để nắm bắt các nguyện vọng và đòi hỏi của một bộ phận dân cư. Nếu được tổ chức tốt, việc vận động cho sự ra đời hoặc vận động để ngăn cản sự ra đời của luật có thể lại là một yếu tố để phát huy phản biện xã hội, nâng cao tính dân chủ trong xã hội.

Chú thích:

(1) Lobby trong nền chính trị Mỹ: Chìa khóa để thành công, http://www.vietnamnet.vn/thegioi/vn_tg/2006/05/571 485/

(2) Nguyễn Tuấn Minh, (2004), “Hệ thống chính trị Mỹ và vận động hành lang”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 11), tr. 43-49.

(3) Làm ăn với Mỹ phải biết lobby, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/story/200 6/10/061012_transichuong_lobby.shtml.

(4) Lobby United States of America, http://espromote.com/forums/showthread.php?p=537.

(5) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?Chann elID=20.


SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/van-111ong-hanh-lang-trong-nen-chinh-tri-my-va-mot-so-lien-he-toi-viet-nam

thoidaianhhung
09-28-2009, 12:08 AM
“May áo” cho lobby


Những năm gần đây, việc các cơ quan quản lý lấy ý kiến người dân, DN, hiệp hội DN… khi xây dựng các văn bản pháp luật được xem như một xu hướng mới trong việc xây dựng chính sách. Hơn lúc nào hết, “vận động chính sách công” phải được xem như việc làm cần thiết và hợp lý - đó là ý kiến của nhiều chuyên gia nghiên cứu! Tuy nhiên, nhiều DN, hiệp hội… lại cho rằng tiếng nói của họ đang bị các cơ quan quản lý xem nhẹ.

Ngay từ năm 2001, với Chỉ thị 16 CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc vận động chính sách ở nước ta đã được thực hiện. Đó là việc tham vấn ý kiến của các DN, các hiệp hội DN, hiệp hội nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân về các văn bản luật, pháp lệnh, các nghị định của Chính phủ... Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) - đại diện của cộng đồng DN - được giao thực hiện nhiệm vụ này. Qua cầu nối VCCI, DN từ vị trí “đối tượng thực thi” đã có thêm vai trò phản biện và xây dựng chính sách ngay từ khi còn trứng nước. Tuy nhiên, theo nhìn nhận của nhiều chuyên gia, sự “lắng nghe và tiếp thu” những ý kiến này nhiều khi vẫn chỉ là hình thức. Vận động chính sách vẫn bị gán với một ý nghĩa khá tiêu cực đã trở thành trở ngại cho việc thừa nhận và xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động này.

“Việt Nam cần có quy định về hoạt động lobby và công khai hóa hoạt động này. Chỉ khi nào Nhà nước ra tay thì lobby mới có thể phát triển. Phân tích đúng và đủ giữa lợi ích liên quan, đó là một hoạt động kỹ thuật và cũng đầy nghệ thuật của lobby. Thông thường lợi ích của hoạt động lobby không phải là “phong bì” mà là lá phiếu và nó được xem như là một loại lobby tử tế. Đây là hai mặt của một vấn đề: muốn có lobby tử tế thì cần phải có hệ thống pháp chế tốt. Hệ thống pháp chế tốt khi có trách nhiệm và đáng tin cậy, đồng thời cũng phải công khai và minh bạch trong hoạt động. Nếu thể chế đó không tốt thì khó có thể có... lobby tử tế”.

Danh chưa chính

Phải khẳng định rằng, hoạt động "vận động chính sách" của DN đã có ở VN. Điều này có thể minh chứng bằng những điều chỉnh của Chính phủ về chủ trương trong hoạt động kinh doanh và khẳng định rằng kết quả này có sự tác động của công tác vận động. Tuy nhiên, điều đáng buồn là việc "lấy ý kiến DN..." vẫn mang tính hình thức. Vì thế tất yếu khi văn bản quy phạm pháp luật ấy ra đời, các DN, hiệp hội DN... vẫn bức xúc những điều đã... thắc mắc khi nó còn là dự thảo.

Trong một cuộc "lobby chính sách" đầu 2007, ông Phúc Tiến - Giám đốc Trung tâm đào tạo VN Hợp Điểm, cho rằng, cần “danh chính” cho các thuật ngữ "to lobby", "vận động chính sách" để DN thuận lợi hơn trong việc tổ chức các hoạt động kiến nghị, tác động đến Chính phủ xem xét điều chỉnh chủ trương, để giúp hoàn thiện luật pháp, cải thiện tốt hơn cho môi trường kinh doanh. Bởi “danh có chính, ngôn mới thuận...”. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng: "Không nên ngại từ "vận động chính sách" và ngại hoạt động này. Hơn nữa, còn phải lập quỹ để phục vụ cho tốt hơn". Nên thành lập một "Ban Vận động chính sách công" nhằm tạo bước đi tiên phong trong việc tác động để Nhà nước, xã hội công nhận hoạt động “vận động chính sách”.

Ngôn nhiều khi... bất thuận

Điều này là một thực tế, bởi chưa có văn bản quy định rõ ai sẽ là cơ quan tiếp thu tham vấn, thậm chí là phản biện của DN, Hiệp hội DN... nên trong quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện này vấn đề cần điều chỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành nào thì Bộ, ngành đó được giao chủ trì soạn dự thảo và tiếp thu ý kiến tham vấn. Nhiều chuyên gia cho rằng với cách thức này, “đối tượng bị quản lý” khó có thể được tiếp thu một cách triệt để và khách quan. Bởi về hình thức, chúng ta có một Ban dự thảo với đầy đủ thành phần của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan nhưng quyết định cuối cùng khi trình Chính phủ vẫn thuộc về đơn vị chủ trì. Vì vậy, thông qua văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hơn nữa quyền lực của Bộ, ngành và tư tưởng “không quản được thì... cấm” vẫn là một rào cản khó vượt qua của vận động chính sách. Hậu quả của tình trạng nêu trên là, nhiệt tình của nhân dân, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu, góp ý, phản biện cho các văn bản chính sách có thể mòn mỏi đi, Bởi vì, họ cho rằng, những góp ý đầy tâm huyết chưa được tiếp thu xứng đáng.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã khẳng định: Thực chất lobby là sự trao đổi lợi ích, là sự trao đổi quyền lợi khả thi và hiệu quả. Đó không chỉ là hoạt động của DN mà còn là công việc của quốc gia. Lobby hiệu quả sẽ tạo ra một sự đồng cảm giữa chính quyền và DN và từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế. Nói như Luật gia Vũ Xuân Tiền - đó chính là hướng tới một tương lai xa - tương lai của một “Nhà nước dịch vụ” xóa dần tư tưởng “Nhà nước quản lý” vẫn đang còn... rơi rớt từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp trước đây.

Bà Phạm Chi Lan - Chuyên gia kinh tế: "Nhiều cơ quan nhà nước chưa thực sự coi trọng tham vấn, tổ chức tham vấn một cách hình thức, hỏi nhưng không lắng nghe DN. Một số trường hợp cơ quan nhà nước coi quyền và lợi ích của mình là trên hết nên thiết kế văn bản pháp quy có lợi cho mình, tránh và khước từ tham vấn, hoặc chọn người tham vấn thuận lợi cho mình... Vì vậy, rất cần sớm có Luật về hội; Nghị định về Hiệp hội DN, văn bản pháp quy về vận động chính sách”.

Ông Nguyễn Tiến Nghi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép VN: “Có những việc “đúng luật” nhưng thiếu đạo đức kinh doanh cũng cần được lobby để xã hội có thái độ thích đáng. Đơn cử như vụ NK thép Trung Quốc của Cty CP Thép Việt Ý. Sau hàng loạt văn bản và kiến nghị của Hiệp hội Thép, văn phòng luật sư, Ban Pháp chế VCCI, cơ quan truyền thông và ý kiến của người tiêu dùng, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Thủ tướng đã kết luận: "Đây là việc làm đúng luật nhưng Thủ tướng không khuyến khích vì thiếu đạo đức kinh doanh, giao cho Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Hiệp hội Thép Việt Nam kiểm điểm, rút kinh nghiệm”

Ông Vũ Xuân Tiền - Chủ tịch Hội đồng thành viên - Cty tư vấn VFAM VN: Tôi cho rằng, hiện nay, có khá nhiều tổ chức đủ khả năng "nhận thầu" việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách, việc “lobby chính sách” như VCCI, Hội Luật gia VN, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật VN, một số viện nghiên cứu và một số Cty tư vấn, Cty luật... Tuy nhiên, "nhận thầu" việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách kinh tế - xã hội phải là hoạt động có điều kiện, trong đó, điều kiện về nhân lực nghiên cứu và quá trình hoạt động trong lĩnh vực pháp luật có vị trí quan trọng hơn cả. Vì vậy, trước hết phải quy định những điều kiện hoạt động của các tổ chức vận động chính sách chuyên nghiệp và bổ sung hoạt động này vào danh mục ngành nghề đăng ký kinh doanh.

LOBBY.VN
10-06-2009, 04:00 PM
Lobby không còn là nghề xa lạ

Nghề lobby (vận động hành lang) là một nghề khá phổ biến ở các nước phát triển nhưng còn mới mẻ và đôi khi còn được hiểu chưa chính xác ở các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam.

Đầu năm mới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với bà Maria Laptev - một nhà lobby chuyên nghiệp có hai quốc tịch Anh và Canada, xung quanh việc phát triển nghề mới này tại Việt Nam.

Bà Maria Laptev hiện là Giáo sư môn lobbying, Học viện quản lý kinh tế UBI, Bruxel, Vương quốc Bỉ. Bà đồng thời còn là Phó chủ tịch Tập đoàn quan hệ chiến lược Fleishman-Hillard; là sáng lập viên của Hiệp hội chuyên nghiệp EPACA; nguyên là thành viên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Liên minh châu Âu (EU).

Thưa bà, lobby vẫn là một khái niệm còn khá xa lạ trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Hiện tại, còn rất nhiều người đánh đồng một cách rất đơn giản là "lobbying" với việc đưa tiền để được nhận một sự ủng hộ hay giúp đỡ nào đó. Trên quan điểm của một nhà tư vấn quản lý chuyên nghiệp cho nhiều công ty đa quốc gia lớn, xin bà vui lòng cho biết thêm một số những nội dung cơ bản của lobbying?

Khái niệm "lobby" có thể được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định hoặc có thể mang một nghĩa rộng hơn thế nữa.

Tôi thì định nghĩa lobby là một cuộc đối thoại giữa một ngành hoặc những người có tiền khác với các nhà lập pháp, và tất nhiên mục tiêu của nó luôn là ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định. Tuy nhiên lobby nên là con đường hai chiều, tiếp thu và truyền đạt cho người khác hiểu được làm thế nào họ có thể tìm được một chính sách tốt nhất trong việc ban hành pháp luật.

Lobby là công cụ quản lý cần thiết cho tất cả các công ty, kể cả các hoạt động sản xuất nhỏ, riêng lẻ, công ty vừa và nhỏ, các tập đoàn lớn hay công ty đa quốc gia. Nó có thể là việc được thông báo ở giai đoạn sớm nhất về các chính sách có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của bạn hoặc hành động bạn thấy cần thiết để làm tăng lợi nhuận, hay đơn giản chỉ là việc xếp hạng doanh nghiệp - sự kiện thể hiện cam kết của công ty bạn với một số nội dung nào đó của chính sách, hay đặc biệt hơn là lobby quá trình lập pháp hay ngăn chặn những quy định cụ thể có thể ra đời thông qua tiến trình làm luật.

Vậy hoạt động lobby ở các nước đang phát triển thì sao?

Lobby còn là một khái niệm không chỉ xa lạ với Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay tại một số nước là thành viên mới của Liên minh châu Âu - EU, một số người vẫn còn nghĩ rằng một khi bạn trả tiền, nhất định bạn sẽ được nhận một kết quả cụ thể nào đó, ví dụ nếu bạn chi tiền để gặp một ai đó ở Bộ Giao thông, bạn sẽ buộc họ phải đồng ý dành cho bạn hợp đồng mà Bộ này đang mời đấu thầu.

Tuy nhiên, sự thật không phải như thế. Tiền của bạn không thể mua được quyết định, do đó bình thường cứ hình thức tài chính nào liên quan đến chính sách hay quá trình ban hành quyết định nên cởi mở và minh bạch hơn cho tất cả mọi người biết điều đó.

Ví dụ, cho đến tận bây giờ, ở rất nhiều quốc gia, đại biểu quốc hội vẫn có thể giữ vị trí lãnh đạo trong công ty và được trả lương cho việc đó. Rõ ràng khi người ta đang làm công việc như một người ban hành quyết định, họ sẽ đặt lên bàn tất cả những lợi ích của công ty mà người ta đang làm việc. Cảm giác chung là ở đâu việc đó diễn ra thì ở đó con người hiểu được lợi ích của bạn và tuyên bố nó một cách minh bạch (nói cách khác chỉ trước cuộc thảo luận liên quan đến công ty bạn), và đây là một hoạt động được chấp nhận.

Quan điểm hiện đại tại các nước phát triển đã thừa nhận lobbying là một nghề, mà đã là nghề thì thường có những quy định hành nghề (Codes of Conduct). Xin bà cho biết đôi nét về những quy định ấy ở các nước phát triển?

Khi nghề lobby đang trở nên phổ biến hơn và hoạt động lobby đang ngày càng được nói đến nhiều hơn, lobby đang được dạy trong các trường chuyên về kinh doanh như một môn học của chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), thì có nghĩa là hoạt động này đang được chuyên nghiệp hoá. Quy định về đăng kí và hoạt động lobby mới chỉ tồn tại ở Mỹ và Canada.

Tuy nhiên, hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề từ hàng chục năm nay. (Quy định hành nghề này được thông qua bởi Nghị viện châu Âu).

Theo tôi thì quy định hành nghề lobby ở đâu thì cũng cần phải dựa trên tính minh bạch cao và vì thế tất cả mọi người cần phải biết mình đang đại diện cho ai và vì lợi ích của ai.

Bà nghĩ thế nào nếu những người làm lobby (lobbyist) tại Việt Nam cần một số tư vấn của một người làm lobby chuyên nghiệp như bà?

Tôi tin rằng tôi có thể tư vấn được cho lobbyist ở Việt Nam nếu tôi được làm việc với họ. Có thể nói bao trùm công việc lobbying chính là phương pháp tiếp cận, cụ thể hơn đó chính là phương pháp tiếp cận một cách có hệ thống giữa hai hay nhiều bên. Theo đó mục tiêu cuối cùng là quá trình xây dựng chính sách. Tuy nhiên, quá trình đưa ra quyết định ở các nước khác nhau lại dựa trên những yếu tố văn hoá rất khác nhau.

Thực ra tôi chưa có nhiều thực tiễn làm lobby tại Việt Nam. Tuy nhiên, tôi muốn khẳng định rằng khía cạnh văn hoá trong lobby là vô cùng quan trọng, quyết định tạo nên một cách tiếp cận hiệu quả hay không.

Lobby và quan hệ công chúng (PR) hay bị lẫn lộn, bà nhìn nhận vấn đề này thế nào?

Lobbying và PR đều là hai hoạt động giao tiếp nhằm tạo nên ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là để thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định.

Điều này đồng nghĩa với việc người ta có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby.

Bà có thể nói rõ hơn về tính minh bạch của Lobby?

Tính minh bạch trong lobby là yếu tố quan trọng bậc nh t trong việc xây dựng lòng tin và tạo ra một nhà Lobby chân chính. Để có được một quan hệ có giá trị và bền vững, cả hai bên đều rất rõ ràng và cởi mở về mục tiêu và lợi ích của mỗi bên.

Theo quan điểm của bà, Việt Nam có nên có một bộ luật hay những quy định pháp lý về lobby hay không? Và tại sao?

Việc xây dựng một hành lang pháp lý đương nhiên phải dựa trên nhu cầu và phải có sự chuẩn bị và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, như thế mới đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng có liên quan.

Tôi cho rằng thực tiễn của hoạt động lobby tại Việt Nam đã có rồi và theo những cách rất riêng, với một hoạt động chưa có những quy định hành nghề thì không tránh khỏi những hiểu sai và cách tiếp cận vấn đề sai. Trước tiên cần phải có những quy định hành nghề đã, còn việc tạo ra những văn bản pháp lý hay bộ luật sẽ là công việc phải làm sau khi công nhận nó là một nghề.

LOBBY.VN
10-09-2009, 12:05 AM
Nghi án "vận động hành lang"

- Trong vòng ba tháng qua, Bộ Y tế đã cấp phép và cho lưu hành hai loại văcxin ngừa ung thư cổ tử cung vào VN là Gardasil và Cervarix. Xung quanh việc cấp phép hai loại văcxin này dư luận lại râm ran nhiều chuyện...

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/T.jpg


Vấn đề lobby là có chứng cứ !

Trao đổi với Tuổi Trẻ hôm 14-2, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết phía MSD chưa trả lời Bộ Y tế về vấn đề có lobby nhằm được cấp đăng ký lưu hành văcxin hay không, vấn đề này sẽ được cơ quan công an làm rõ.

Trước đó, liên quan đến vụ kiện cáo gửi tới Bộ Y tế xung quanh việc cấp số đăng ký lưu hành hai văcxin này, hôm 23-11, một quan chức Bộ Y tế đã có giải trình cho rằng vấn đề lobby trong quá trình xin cấp số đăng ký lưu hành là có chứng cứ người thật việc thật và đã được báo cáo bộ trưởng Bộ Y tế.

Ngày 24-7, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang có quyết định công bố văcxin Gardasil của Công ty Merck Sharp & Dohme (Mỹ, gọi tắt là MSD) được lưu hành tại VN. Theo MSD, Gardasil có chỉ định chích ngừa cho trẻ em và phụ nữ 9-26 tuổi để phòng ngừa ung thư cổ tử cung do bốn type HPV 6, 11, 16 và 18 gây ra. Giá chích ngừa khoảng 100 USD/mũi (chích ba lần).

Ngày 18-11, văcxin Cervarix của Công ty GlaxoSmithKline (Anh, gọi tắt là GSK) cũng đã được Thứ trưởng Cao Minh Quang có quyết định công bố cho lưu hành tại VN. Trong hai ngày 13 và 14-12 tại TP.HCM và Hà Nội, GSK đã họp báo và tổ chức hội thảo giới thiệu về văcxin Cervarix. Cervarix có chỉ định chích ngừa cho trẻ em và phụ nữ từ 10-55 tuổi để phòng ngừa ung thư CTC do hai type HPV 16 và 18 gây ra. GSK cũng thông tin rằng Cervarix là văcxin duy nhất được bào chế với một hệ thống chất bổ trợ mới gọi là AS04, mang lại đáp ứng miễn dịch mạnh và bền vững hơn so với chất bổ trợ truyền thống chỉ có muối nhôm. Giá chích ngừa một mũi Cervarix (chích ba mũi) là 37 USD.

Cáo buộc của thứ trưởng Bộ Y tế

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, trước khi Gardasil được Bộ Y tế cấp phép chính thức vào VN, ngày 18-7 ông Quang gửi văn bản bằng tiếng Anh (có chữ ký của ông Quang và dấu của Bộ Y tế) đến ông Richard T. Clark - chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc điều hành toàn cầu MSD và ông Ramesh Subramanian - chủ tịch vùng châu Á - Thái Bình Dương của MSD, về “những chính sách tiếp thị và nhân sự MSD tại VN”.

Nội dung văn bản này có đoạn nói rằng Bộ Y tế VN đã lưu ý những hành vi của bà Kha Mỹ Linh - giám đốc toàn quốc - và các nhân viên của MSD VN là không thể chấp nhận được. Trong văn bản còn ghi: “MSD VN đã cố gắng bằng mọi cách và phương tiện, bao gồm cả những hành vi phi đạo đức để đạt được mục đích của họ… Bằng việc sử dụng những vận động hành lang không phù hợp, MSD VN đã tự hủy hoại hình ảnh và danh tiếng của chính mình”. Ông Quang còn đề nghị MSD hợp tác, tiến hành điều tra xem MSD VN đã làm những gì để hiểu được tình hình và có sự phản hồi về Bộ Y tế.

Sự việc không dừng lại ở đó, một tuần sau, khi ông Quang ký quyết định công bố văcxin Gardasil được lưu hành tại VN (24-7), đồng thời ông ký một văn bản bằng tiếng Anh (có chữ ký của ông Quang và dấu Bộ Y tế) gửi các thành viên Pharmagroup (giám đốc toàn quốc của các công ty đa quốc gia tại VN) về “những hoạt động không thích hợp của một số công ty dược phẩm nước ngoài tại VN”. Nội dung văn bản này, ngoài việc thông tin cho các thành viên Pharmagroup biết về việc ông Quang đã gửi văn bản đến giám đốc điều hành toàn cầu của MSD và người phụ trách vùng châu Á - Thái Bình Dương, còn có đoạn nêu rõ: “Một số công ty dược phẩm đa quốc gia đã và đang cố gắng dùng cách hối lộ hoặc các hành động tương tự để nhận được sự chấp thuận của Bộ Y tế cho các hoạt động tiếp thị sản phẩm của họ ở VN…

Bộ Y tế đảm bảo rằng bất kỳ công ty nào muốn đi theo con đường hối lộ như của MSD VN hoặc các hành động tương tự sẽ bị xử lý theo cách như vậy và không bao giờ thành công tại VN bằng cách hối lộ”. Trong văn bản này, ông Quang cũng khẳng định sự đồng ý cho văcxin Gardasil lưu hành vào VN là dựa trên nhiều yếu tố khác nhau chứ không phải là kết quả của sự vận động hành lang.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/MSD.jpg
Văcxin Gardasil của MSD

MSD nói gì ?

Ngày 14-12, trả lời Tuổi Trẻ về vấn đề có hay không chuyện MSD hối lộ để Gardasil được cấp phép vào VN, bà Kha Mỹ Linh - trưởng văn phòng đại diện MSD VN - cho biết MSD đã xem xét cẩn trọng các cáo buộc của ông Quang.

Theo bà Linh, ngày 4-8, ông Quang đã làm việc với ông Craig Kelly - phó chủ tịch MSD tại châu Á và bà Hwee Ping Chua - cố vấn điều hành khu vực châu Á - Thái Bình Dương - để thảo luận về các vấn đề đã nêu trong hai lá thư của ông Quang. Tại buổi làm việc này, ông Quang cam kết cung cấp thêm các thông tin liên quan đến các cáo buộc để hỗ trợ MSD tiến hành cuộc thanh tra nội bộ. Ngày 11-8, Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Y tế) đã cung cấp các chứng cứ cụ thể được dùng để cáo buộc MSD VN. Ngày 18-8, MSD đã tiến hành thanh tra nội bộ về các tuyên bố mà ông Quang đưa ra.

Tuy nhiên, kết quả không tìm thấy bằng chứng nào liên quan đến việc MSD VN đưa hối lộ dưới hình thức bằng tiền hoặc hiện vật cho bất kỳ một ai trong việc xin cấp phép cho Gardasil. Cuộc thanh tra cũng không tìm thấy bằng chứng về các hoạt động vận động hành lang không hợp pháp của MSD VN. Chưa khi nào MSD đưa ra bất kỳ một đề nghị nào nhằm sử dụng sức ép hoặc ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến bất kỳ ai trong Bộ Y tế liên quan đến việc đăng ký lưu hành Gardasil tại VN.

Theo bà Mỹ Linh, sau khi có kết quả thanh tra, MSD đã gửi thư cùng kết quả điều tra chi tiết đến Bộ Y tế với mong muốn các vấn đề nêu trên được xem xét và giải quyết sáng tỏ. Hiện Bộ Y tế và MSD đang cùng nhau xem xét sự việc này.

Có hay không chuyện vận động hành lang hay hối lộ khi mà một bên nói có, một bên bảo không? Điều này chỉ có cơ quan chức năng mới có thể làm rõ và kết luận một cách chính xác nhất.


GSK cũng có chuyện

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Cer.jpg
Văcxin Cervarix của GSK

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong quá trình phê duyệt hồ sơ đăng ký lưu hành văcxin Cervarix (Hãng GSK), đã có một số chuyên gia về sản phụ khoa đề nghị chỉ nên cấp đăng ký lưu hành cho văcxin này ở lứa tuổi 10-25, tuy nhiên nhóm có ý kiến cấp đăng ký lưu hành cho Cervarix để tiêm ngừa trong độ tuổi 10-55 là cao hơn. Trong danh sách các nước đã cấp đăng ký lưu hành cho Cervarix, có 40 nước phê duyệt chỉ định tiêm ngừa ở nhóm 10 tuổi trở lên, 40 nước phê duyệt nhóm 10-25 tuổi, chỉ có hai nước phê duyệt nhóm 10-55 tuổi và sáu nước phê duyệt nhóm 10-45 tuổi.

Ngày 18-11-2008, Bộ Y tế VN đã cấp phép lưu hành một năm cho Cervarix với độ tuổi trong chỉ định là 10-55! Quyết định này thực hiện đề nghị của Hội đồng xét duyệt văcxin và sinh phẩm y tế Bộ Y tế, ý kiến của các chuyên gia, cơ sở các nước đã phê duyệt lưu hành văcxin này. Nhưng không hiểu sao có tới 40 nước phê duyệt ở độ tuổi 10-25, chỉ có hai nước phê duyệt chỉ định tiêm ngừa 10-55 tuổi nhưng Bộ Y tế lại không đặt câu hỏi(!).

Theo ông Goh Choo Beng - giám đốc vùng của GSK, chỉ có một hồ sơ xin cấp phép lưu hành Cervarix với những nội dung giống nhau gửi đến cơ quan cấp phép ở các quốc gia. “Hoàn toàn không có một nỗ lực đặc biệt nào gọi là lobby (vận động hành lang) của GSK trong việc cố gắng để có giấy phép của Bộ Y tế VN mà tùy thuộc sự quyết định đánh giá của Bộ Y tế VN. Bộ Y tế VN hoàn toàn có quyền, đó cũng là việc của Bộ Y tế trong việc hỏi ý kiến của tất cả các chuyên gia về vấn đề này” - ông Goh Choo Beng khẳng định.

LOBBY.VN
10-10-2009, 04:15 PM
About STRATFOR

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Friedman.jpg
George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor. Ông đã viết nhiều sách và bài báo về các chủ đề chính sách an ninh, truyền thông & công nghệ


STRATFOR is the world’s leading online publisher of geopolitical intelligence. Our global team of intelligence professionals provides our Members with insights into political, economic, and military developments to reduce risks, to identify opportunities, and to stay aware of happenings around the globe.

STRATFOR provides three types of intelligence products:

* Situational Awareness - News is a commodity that you can get anywhere on the Internet. Situational Awareness is knowing what matters, and an intelligence professional’s responsibility - STRATFOR’s responsibility - is to keep you apprised of what matters without wasting your time with clutter. We provide near real-time developments from street revolutionary movements to military invasions. OJ’s latest arrest and mudslinging in Washington and Brussels don’t make the cut.

* Analyses - STRATFOR tells its Members what events in the world actually mean. We also tell you when events are much ado about nothing. Oftentimes the seemingly momentous is geopolitically irrelevant and vice versa. We discern what’s important objectively - without ideology, a partisan agenda, or a policy prescription.

* Forecasts - Knowing what happened yesterday is helpful; knowing what’s going to happen tomorrow is critical. STRATFOR’s intelligence team makes definitive calls about what’s next. These aren’t opinions about what should happen; they’re analytically rigorous predictions of what will happen.

STRATFOR provides published intelligence and customized intelligence service for private individuals, global corporations, and divisions of the US and foreign governments around the world. STRATFOR intelligence professionals routinely appear at conferences and as subject-matter experts in mainstream media. STRATFOR was the subject of a cover-story article in Barron’s entitled The Shadow CIA.

STRATFOR was founded by Dr. George Friedman in 1996. STRATFOR is privately owned and has its headquarters in Austin, TX.

P.S: George Friedman là người sáng lập và lãnh đạo công ty thông tin tư nhân Stratfor

STRATFOR (http://www.stratfor.com/tour/)

LOBBY.VN
10-29-2009, 03:30 PM
Những người vận động hành lang ảnh hưởng đến việc cải cách y tế

Ủy ban Tài chánh Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua một dự luật cải cách bảo hiểm sức khỏe nhằm giảm chi phí bảo hiểm và mở rộng bảo hiểm đến cho nhiều người dân Mỹ hơn nữa. Tại cuộc bỏ phiếu của Ủy ban, Thượng nghị sĩ Olympia Snow là thành viên đầu tiên của đảng Cộng hòa bỏ phiếu ủng hộ việc cải cách bảo hiểm sức khỏe. Tuy nhiên những nhà lập pháp không phải là những người duy nhất có liên quan đến những cuộc tranh luận về bảo hiểm sức khỏe. Những người vận động hành lang cũng đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. những chuyên gia về chính sách công có nhận xét là những nhóm đại diện cho các công ty bảo hiểm, bệnh viện và ngành công nghiệp dược phẩm có nhiều quyền lực trong việc hình thành các luật lệ về chăm sóc sức khỏa. Những nhóm đại diện cho người tiêu thụ và công đoàn lao động cũng nỗ lực ảnh hưởng đến kết quả. Thông tín viên Elizabeth Lee của Ðài VOA giải thích.

Tại Washington, Tổng Thống Barack Obama đạt được thắng lợi khi dự luật bảo hiểm sức khỏe được thông qua tại Ủy ban Tài chánh Thượng viện và giúp ông tiến thêm một bước gần hơn đến việc cải cách được hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Mỹ. Dự luật mới này đòi hỏi hầu hết dân chúng Mỹ phải mua bảo hiểm nếu không sẽ bị phạt. Những công ty bảo hiểm không còn có thể từ chối bảo hiểm cho những người có bệnh từ trước.

Tuy nhiên biện pháp này vẫn còn gặp phải sự chống đối mạnh mẽ. Một bản phúc trình mới đây của một nhóm thuộc ngành bảo hiểm sức khỏe cho biết là nhìn chung, chi phí bảo hiểm hàng năm một gia đình phải trả sẽ tăng lên khoảng 4000 đô la trong thập niên tới.

Bà Karen Ignagni, chủ tịch của tổ chức Các chương Trình bảo Hiểm Sức khỏe Hoa Kỳ tuyên bố là dự luật được Thượng viện thông qua không bao gồm những khoản phạt đủ mạnh để bắt buộc những người không có bảo hiểm mua bảo hiểm.

Bà nói: "Nếu mọi người không bị bắt buộc thì sẽ xảy ra tình trạng là có người chỉ mua bảo hiểm một khi họ thấy cần."

Cách đây 7 tháng, nhóm các công ty trong ngành bảo hiểm hứa ủng hộ kế hoạch của Tổng Thống Barack Obama: "Chúng tôi cam kết ủng hộ, đóng góp và giúp thông qua luật bảo hiểm sức khỏe năm nay."

Giáo sư Judy Feder thuộc đại học Georgetown cho biết là những người vận động hành lang thường hay thay đổi quan điểm của họ khi những dự luật tại Quốc hội thay đổi: "Những nhóm có quyền lợi, như là ngành bảo hiểm, công nghiệp dược phẩm, bệnh viện và các bác sĩ có những may rủi lớn lao trong bất cứ những sự thay đổi nào trong hệ thống bảo hiểm sức khỏe của chúng ta và trong hệ thống hiện nay và họ luôn luôn theo dõi những thay đổi này để xem những thay đổi có lợi hay có hại cho họ."

Bà Feder nói là những quyền lợi đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại chương trình cải cách bảo hiểm sức khỏe khi Tổng thống Bill Clinton ngồi tại Tòa Bạch Ốc. Vào những năm đầu của 1990, ngành bảo hiểm sức khỏe nỗ lực làm cho dân chúng Mỹ lo sợ tránh xa các kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe bằng những chương trình quảng cáo thương mại.

Bà nói: "Một số những chương trình này có liên hệ đến những việc chống đối mạnh mẽ của những nhóm quyền lợi liên hệ đến ngành bảo hiểm cùng với những nhóm quyền lợi trong doanh thương, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ thường thực sự tấn công kế hoạch cải cách."

Hơn một thập niên qua, những tiếng nói ủng hộ cải tổ hệ thống y tế lại lớn hơn. Ngành công nghiệp dược phẩm cũng như hiệp hội bác sỹ lớn nhất của Hoa Kỳ đang ủng hộ Tổng thống Obama, để cân bằng lực lượng trong cuộc trnah đấu để cải tổ y tế. Giờ đây những chương tirnh quảng cáo cũ lại được làm sống dậy.

Bây giờ lại có những cách quảng cáo mới dựa trên nội dung quảng cáo cũ nhắm gây sợ hãi trong dân chúng về chuyện cải tổ y tế.

Các chuyên gia về chính sách công tuyên bố là việc gây áp lực đối với các nhà lập pháp và tạo nên sự sợ hãi trong dân chúng Mỹ là dụng cụ mà những nhà vận động hành lang áp dụng để ảnh hưởng đến kết quả của những chính sách đang được tranh cãi tại Quốc hội.

Và nỗi sợ hãi được cả hai phía áp dụng. Bà Feder nói: "Họ làm dân chúng hoảng sợ vì công chúng Hoa Kỳ hoàn toàn không đoan chắc được về hệ quả của một cải cách lớn lao."

Con đường đi đến cải cách bảo hiểm sức khỏe vẫn còn rất dài, Hạ và Thượng viện Hoa Kỳ còn phải phối hợp dự luật của mỗi viện. Còn về việc nhóm nào thắng trong cuộc tranh luận này thì còn tùy công luận chuyển biến như thế nào và còn tùy vào các nhà lập pháp cảm thấy là họ nên biểu quyết ủng hộ hay nên bác bỏ dự luật cải tổ.

LOBBY.VN
11-28-2009, 08:29 AM
Viet Nam businesses must learn to lobby

Vietnamese business associations still lack the experience and strategies necessary to effectively lobby State officials, economists said last week.

Nguyen Dinh Cung, director of the Central Institute for Economic Management’s (CIEM) Macroeconomic Policy Department, told a seminar in HCM City that business associations have yet to establish independent lobbying units or outline clear-cut objectives for their interactions with the Government.

Lobbying is an important part of policy-making, especially with regards to the development of new bills or legal documents, changes to the business climate or state measures on raising businesses’ competitiveness.

Before associations lobby, they should be aware of the rules of the game, Cung said, especially knowing which state agencies deal with which specific legal issue.

In addition to contacting these agencies, business associations can take the further step of approaching the policy makers, technocrats or specialists who draft the new policies – as long as lobbyists work only to persuade, not coerce, public officials, Cung said.

Businesses should also assemble lobbying task forces, as well as develop clear and concrete objectives. For example, HCM City’s Young Entrepreneurs’ Association established a Policy Lobbying Committee at an early stage and it was very successful, Cung said.

"No less important are the associations’ financial strength, passion and enthusiasm," he said.

Luong Trong Nghia, a lawyer at the HCM City-based Investment and Trade Promotion Centre (ITPC), said the most formidable legal obstacles to associations’ conducting effective lobbying were in the fields of taxation and customs laws.

ITPC, which lobbied for policies to raise the competitiveness of small- and medium-sized businesses, said the laws surrounding lobbying are often too complicated for many business associations to understand.

Nguyen Thanh Nhon, general director of the Technology Joint Stock Company, said that since lobbying is a sensitive procedure, it requires certain formal processes.

Meanwhile, Tran Hong Lac, vice president of the HCM City Informatic Association, said lobbying at the National Assembly would be better than the current situation.

A lawyer based in HCM City said lobbying, as a legitimate business activity, should be conducted by businesses in an appropriate fashion.

As businesses still lack regular contacts with administrators, associations should lobby to build connections between the State and the Vietnamese business community

LOBBY.VN
01-06-2010, 09:05 PM
Nền Dân Chủ Hoa Kỳ với các đảng
Cộng Hòa, Dân Chủ và đảng Tư Bản Lobby

Trên lý thuyết thì tại Hoa Kỳ có nhiều đảng phái, nhưng trong thực tế, với chính sách bầu bán của Mỹ thì chỉ còn lại hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ là có thể hoạt động hữu hiệu, nhưng cả hai đều phải có sự bảo trợ của nhóm Tư bản tài phiệt.

Tập đoàn tài phiệt qua trung gian các lobbyist dùng tiền bạc hay lợi lộc hối lộ hợp pháp hay phi pháp các nhân viên Chính phủ và Quốc Hội để họ điều hành hay ban hành các luật lệ có lợi cho các công ty tư bản, với điều kiện giản dị: hãy giúp Công ty chúng ta thì nhà ngươi sẽ được ủng hộ tài chánh khi tranh cử, khi về vườn sẽ được thuê làm cố vấn lương cao bạc triệu, hay bảo trợ đi thuyết trình với cả trăm ngàn đô la mỗi buổi, được mua các cổ phần đặc biệt của công ty, gia đình, con cái được bảo trợ giúp đỡ, v.v....

Do đó tất cả hai đảng đều bị nhóm tư bản tài phiệt chi phối, nghĩa là bị tiền bạc chi phối. Hơn nữa phần đông người làm chính trị là người giàu, có tiền đầu tư vào cổ phần các công ty nên họ cũng củng cố quyền lợi cá nhân của họ, cũng như người vô sản thì thích cộng tài sản của cả mọi người lại để rồi phân chia đồng đều.

Những người không thuộc hai đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa thường được gọi là "Độc lập", hay các đảng không mấy người biết đến tên, nếu mấy nhóm nầy có một hai người đắc cử vào Quốc hội, thì cũng bị đa số dùng biểu quyết dân chủ áp đảo thành ra đơn độc cũng không làm nên trò trống gì.

Trong các cuộc bầu cử ta thường thấy hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ kình chống lẫn nhau để dành phiếu, nhưng đảng nào khi thắng thế cũng đưa đến thi hành chánh sách của nhóm Tư Bản.

Vì sao ? Vì bất kỳ người nào ra tranh cử mà muốn được đắc cử đều phải có tiền, tiền quảng cáo để đề cao mình và hạ thấp đối thủ bằng mọi thủ đoạn, kể cả các thủ đoạn mà báo chí thường mệnh danh là "hạ cấp".

Muốn cho cử tri biết đến tên mình, muốn nhồi vào đầu óc cử tri việc không thành có, có thành không, để hạ đối phương, nâng cao thành tích của mình, thì phải trả tiền cho giới truyền thông ngày ngày lải nhải quảng cáo trên TV, radio, báo chí, gieo rải tin đồn thất thiệt, nhồi sọ cử tri, biến đổi sự thật. Do đó người làm chính trị cần phải có thật nhiều tiền, và khi đã nhận tiền của ai thì phải làm vừa lòng người ta, nếu không thì cũng chẳng đứng được lâu, được một kỳ là bị thải. Không có tiền thì làm sao mà ứng cử với đắc cử ?

Nhóm tư bản khôn khéo vừa ra tranh cử, mà mà còn đưa con rối của mình lên chính trường rồi giật dây bên trong do các lobbies điều khiển. Người dân đi bầu thường có ngạn ngữ " Đi bầu để chọn người ít xấu nhất trong đám xấu" (to select the bad rather the worst).

Người đang có điạ vị tại chính trường mà không theo hướng dẫn của Tư bản thì khó mà tái cử, vì tư bản sẽ không cấp tiền tranh cử, mà lại dồn tiền cho kẻ đối lập, dùng mỹ nhân kế gài bẫy để phế truất. Đấy là một cách tham nhũng hợp pháp chỉ có Mỹ mới dám công khai làm như vậy, và Mỹ đã dùng cách nầy để đảo chánh hạ bệ đối thủ tại các nước khác một cách hợp pháp.

Người ủng hộ tha hồ đóng tiền hay lập các tổ chức dùng để ủng hộ hay bôi nhọ người ra tranh cử, và chỉ có nhóm tài phiệt mới có nhiều để tiền trợ cấp vì khi phe ta mà đắc cử thì có dịp thâu lại hàng ngàn hàng triệu lần.

Hảng sản xuất khí giới, bom đạn, xe cộ, phi cơ, xăng nhớt, hóa chất muốn bán được hàng chỉ cần cho các lobbyist đến rỉ tai các cố vấn chính trị, là phải đánh chỗ nầy, tấn công nước nọ... bí mật cung cấp tin tức giả tạo... thì sẽ có chiến tranh ngay. Thế là toàn dân phải è cổ đóng thuế mua khí giới cho chiến tranh làm giàu cho các nhà thầu, nhà sản xuất khí cụ, máy bay, xe tăng v.v....

Tại Mỹ, tất cả trẻ thường phải học xong hết bậc trung học, việc học hành đều được hoàn toàn miễn phí, trẻ nghèo còn được trợ cấp đầy đủ để yên tâm theo học. Ngưòi nghèo, trẻ em, người già cả, người yếu đau đều được trợ cấp tiền bạc, thực phẩm, y tế và nhà ở rất đầy đủ.

Như vậy dân trí và kinh tế cá nhân rất là cao, nhưng phần đông lại bị ảnh hưởng của quảng cáo tuyên truyền mánh mung của chuyên viên bầu cử nên thường sai lầm khi xử dụng lá phiếu của mình. Đối với dân di cư
không rành tiếng Mỹ, việc sai lầm càng có độ rất cao, như một mặt thì thích hưởng trợ cấp xã hội cao, khai gian lận, nhưng mặt khác lại thích vào đảng của người giàu cho sang dù đảng nầy chủ trương cắt xén trợ cấp xã hội.

Do việc gia nhập đảng rất tự do và dễ dãi, nên cử tri Hoa Kỳ không thấy "Đảng" là quan trọng, vào đảng nào cũng vậy, chỉ được hãnh diện khi đảng ta thắng. Trên thực tế thì cử tri thường chọn đảng theo quyền lợi của mình, nhưng cũng có người chọn đảng theo lý tưởng xã hội hay tôn giáo.

Đại khái có thể tạm xếp loại như sau:

- Đảng Cộng Hòa - Republican: Đảng nầy được cho là bảo thủ, phần đông gồm các người giàu có, các nhà tôn giáo, những nhà kinh doanh, đầu tư tài chánh và chứng khoán; phần đông họ là những người giàu có, hay thừa hưởng tài sản giàu có, họ muốn giữ nguyên tình trạng đã đưa họ lên sự giàu sang, hoặc được sự kính nể và đóng góp tài chánh của những con chiên ngoan đạo, muốn bớt thuế trên số tài sản to lớn của họ. Một số người nghèo, hoặc một số năm nhận trợ cấp xã hội, làm việc nhọc nhằn đã tạo nên sự nghiệp có nhà, có xe, có tài sản, trở thành giàu sang (nếu so với mực sống tại các nước nghèo khổ của quê hương cũ), họ thích có được danh dự cùng đảng phái với những quan quyền, người giàu sang. Một số khác thường bị ảnh hưởng của tôn giáo mà chọn đảng mà họ cho là bảo vệ tôn giáo.

- Đảng Dân Chủ - Democratic: Thường đa số là những người phải làm việc mới có tiền sinh sống, nói nôm na là "tay làm hàm nhai". Vì phải làm để có tiền sinh sống họ ít có thời giờ, chỉ mong có luật lệ giúp đỡ cho những người kém may mắn, có công ăn việc làm đều đặn, có trợ cấp khi thất nghiệp, con em có cơ hội đến trường ĐH để sau nầy có một đời sống dễ chịu hơn, sung túc hơn, không luôn lo sợ cảnh tay làm hàm nhai, lâu lâu lại nhận được tờ giấy màu hồng báo thôi việc. Tuy nhiên vì lý tưởng hay vì lý do nầy nọ, nhóm người nầy cũng thích nhập đảng Cộng Hoà và nhóm người của Cộng Hòa nói trên cũng thích nhập đảng Dân Chủ.

Một số khác được thành danh với cấp bằng đại học, có việc làm quan trọng, hoặc trở nên rất giàu có, hiểu rằng cũng nhờ chánh sách trợ cấp xã hội cho người già, người nghèo, các sinh viên gặp cảnh khó khăn, nên họ mới có cơ hội hiên tại để đền ơn lại xã hội, họ có cái lý tưởng là làm việc gì để giúp lại cho người kém may mắn như mình ngày xưa, hơn là "qua sông rồi lại chặt cầu", để tự hào là giàu có giữa đám người nghèo khổ.

Đảng Tư Bản Lobby: Gồm nhân viên của nhóm tài phiệt của thị trường chứng khoán phố Wall, các công ty về dầu hỏa, ngân hàng, tài chánh, bảo hiểm, y tế, dịch vụ và sản xuất (xe hơi, khí giới,v.v..) gọi chung là Tập đoàn tài phiệt. Nhóm nầy thường xử dụng một lực lượng lobbyist hùng hậu lên đến cả hàng trăm ngàn lobbyist thường là những người có liên lạc mật thiết với các quan chức hành pháp, dân biểu, nghị sĩ, như là cựu đồng nghiệp, cựu công chức, thân nhân, v,v... Tư bản thuê các lobbyist với giá cao và thường trả thêm các phí tổn, để ngày ngày đến hành lang Quốc hội, Nhà Trắng, Lầu năm Góc hay các Công sở Liên Bang và các Tiểu Bang, để phục vụ chiêu đãi hết quan lớn đến quan nhỏ, rỉ tai hứa hẹn, hăm dọa, lén lút hối lộ và công khai đóng góp tiền tranh cử.

Trong thực tế thì Tập đoàn Tư bản đã nắm quyền điều khiển chính sách quốc gia bằng đoàn quân lobbyist hùng hậu trải đầy hành lang Quốc hội,(mà theo thống kê năm 2008 thì mỗi người dân cử trung bình có 85 người lobby chạy theo nâng bốc), và trong các dinh thự của Hành pháp thì số người lobbyist này càng đông gấp bội. Có báo chí cho rằng "Chính sách Năng Lượng " của ông Phó Tổng Thống đưa ra trước đây đã được chính lobbyist Tư bản Dầu hoả soạn thảo có lợi cho họ, nên chỉ có vài năm sau là giá xăng tăng gấp đôi, gấp ba, chỉ có hãng xăng dầu có lợi to, dân nghèo phải dành tiền mua xăng để đi xe nên không dám mua sắm, tiền chuyên chở cao vật giá tăng, đưa kinh tế Mỹ vào cảnh khủng hoảng năm 2008, ảnh hưởng đến cả thế giới.

Trước kia đã có một số luật lệ giới hạn để bảo vệ người xử dụng ngân hàng và các công ty đầu quyền thì có chánh sách thả lỏng kiểm soát để các công ty nầy tự do, tự điều chỉnh. Thế là các nhà băng, nhà đầu tư, tài chánh tha hồ lươn lẹo, cho vay cẩu thả để có nhiều lợi, chỉ cần có vài năm thôi là giá nhà cửa và giá xăng tăng lên gấp đôi gấp ba lần giả tạo, đưa đến sự sụp đổ nền tài chánh lớn nhất thế giới là Hoa kỳ. Không lấy gì làm lạ khi vào cuối năm 2008 dân chúng Hoa Kỳ đã bầu một ông Tổng thống thuộc về thiểu số da màu.

P/S: Bài viết được ban quản trị sưu tầm từ trên mạng, bài viết đã được chỉnh sửa, lược bỏ một số nội dung cho phù hợp với nguyên tắc thông tin trên internet tại Việt Nam. Bài viết cho chúng ta một góc nhìn về nền chính trị của Mỹ, ảnh hưởng của hoạt động lobby đến nền chính trị Mỹ như thế nào. Một tài liệu tham khảo cho sinh viên và các bạn muốn tìm hiểu về hoạt động Lobby trên thế giới, cả mặt tốt và mặt xấu của hoạt động lobby. Xin cảm ơn tác giả bài viết

thoidaianhhung
01-07-2010, 06:49 PM
Vận dụng nguyên tắc Lobby trong hoạt động kinh doang nói chung
và kinh doanh khách du lịch OUTBOUND nói riêng

Một số nước có nên kinh tế thị trường phát triển đã vận dụng nhiều công cụ, nguyên tắc kinh tế để đạt mục đích hiệu quả kinh doanh và được pháp luật thừa nhận, một trong những vấn đề đó là LOBBY. Vấn đề này, đối với Việt Nam phần nào đã có manh nha, nhưng trên thực tế chưa thể vận dụng được vì chưa có quy định bằng văn bản pháp luật. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập thị trường quốc tế thì vấn đề đó có muốn hay không thì cũng phải chấp nhận khi làm việc với đối tác. Vì vậy việc nghiên cứu các nguyên tắc LOBBY là một sự cần thiết đối với ngành du lịch

Phần 1: Một số vấn đề cơ bản về Lobby và Lobbyist

Trong tiếng Anh từ Lobby có nghĩa là hành lang của một toà nhà quốc hội của một quốc gia nào đó; trong một khách sạn hay một toà nhà lớn thì từ Lobby là tiền sảnh tầng 1 của toà nhà là nơi để khách chờ đợi để làm thủ tục làm việc hay xuất nhập vào khách sạn. Nhưng từ Lobby còn có nghĩa bóng nữa mà từ lâu các nước thường áp dụng trong nghiệp vụ kinh doanh; nước áp dụng nhiều nhất là Mỹ. Đối với nước Mỹ hoạt động Lobby được cho là hợp pháp và được quy định bởi luật ví dụ Luật Liên bang ban hành năm 1946 có quy định về hoạt động Lobby; Luật Đăng ký Tác nhân nước ngoài ban hành năm 1938 quy định phạm vi hoạt động Lobby nước ngoài; Đạo luật về Công khai hoá hoạt động Lobby ban hành năm 1995 điều chỉnh các môi quan hệ trong và ngoài nước của Lobbyist nội dung quy định bắt buộc nhưng người hoạt động Lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, công khai các nghiệp vụ, đối tác, các cuộc tiếp xúc và tiền công được hưởng từ các dịch vụ.... tại Mỹ phố K- Street tại trung tâm thủ đô Washington D.C được xem là trung tâm hoạt động của các văn phòng, công ty Lobby; nhiều chính trị gia là Nghị sĩ đã từ bỏ chính trị mà chuyển sang hoạt động Lobby; kể từ năm 1998 đến nay có 198 thành viên Quốc hội Mỹ sau khi rời bỏ chính trường đã đăng đàn nghề Lobby- phải chăng đây là nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận mà không cần đầu tư vốn ban đầu hay lấy "nó rán nó ".

Ở một số nước phát triển hoạt động Lobby còn mang tính chính trị- xã hội sâu sắc và có tác động nhất định đến hình thành nên các chính sách đối nội, đối ngoại thậm chí các dự án kinh tế lớn...Đối với nước ta khái niệm LOBBY còn mới trên lý thuyết và chưa có văn bản pháp luật nào thừa nhận đó là hoạt động hợp pháp, công khai và nộp thuế nên chưa có văn phòng, công ty LOBBY như các nước khác trên thế giới.Tuy nhiên loại hình này đã hình thành manh nha Lobby ở nước ta từ lâu trên nhiều góc độ khác nhau và tại nhiều lĩnh vực của xã hội mà thường gọi theo nghĩa đen là chạy "cửa sau".

Vậy nghiệp vụ Lobby và Lobbyist là

Hoạt động Lobby là sử dụng các phương pháp để tranh thủ vận động những người có chức có quyền, có thế lực để giúp cá nhân, cơ quan, công ty đạt được mục đích nào đó trong kinh tế, chính trị, xã hội...

Như vậy có thể hiệu được hoạt động của LOBBY là hoạt động cung cầu thông tin và người cần thông tin để thực hiện vấn đề nào đó chính là Lobbyist.

Các thông tin cần được lấy từ những người có uy tín, có vị trí xã hội và danh tính của họ có ảnh hưởng nhất định đối với một vấn đề nào đó. Vì vậy một số nước phát triển, phần lớn Lobbyist là những cựu quan chức, cựu Bộ trưởng, thủ tướng, tướng lĩnh, các cố vấn trợ lý của Tổng thống; các dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm chức vụ quan trọng trong Quốc hội, chính phủ sau khi về hưu họ đã gia nhập Lobbyist hoặc là các văn phòng, công ty kinh doanh lobby thuê, ký hợp đồng các chính trị gia này dưới dạng hợp đồng chuyên gia hay cố vấn cho từng lĩnh vực nào đó.

Vai trò của Lobbyist có một vai trò quan trọng nhất định đối với nhiều lĩnh vực của một số nước thậm chí có vai trò đối với chính trị, cũng như thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại... Phương thức thực hiện chính của lobbyist là thông qua những mối quan hệ với các chính khách để tạo ra được cái thế chính trị, cái lực ( bao gồm cái thực hoặc ảo) để đạt một vấn đề nào đó- chính là nghiệp vụ của lobby. Vì vậy, trong chính sách của lobby có một nguyên tắc cần phải tuân thủ là để có thế lực cần thiết để đạt các vấn đề cần phải có chiến lược lobby mang tầm cở và đa lĩnh vực hay nói cách khác đầu tư vào lobby là rất tốn kém nhưng đây là giải pháp trong lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả nhất thường là mua được những thông tin hay các hợp đồng ngon nhất, nếu như có được thông tin thông qua lobby thì sẽ tiên đoán được kết quả và chuẩn bị trước được các giải pháp nhằm mang lại hiệu quả cao đặc biệt có nhiều cơ hội để thắng đối thủ cạnh tranh trong một vấn đề nào đó.

Đối với Việt Nam, việc vận dụng nguyên tắc lobby trong hoạt động kinh doanh đang bị hạn chế do quan niệm Lobby là một hiện tượng không lành mạnh. Nhưng hiện nay nước ta đã gia nhập WTO hoà nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu nên dù có không muốn vẫn phải tuân theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường trong đó có Lobby. Hiển nhiên, ngành du lịch cũng vậy. Vấn đề này đặt ra cho các nhà hoạch định về chính sách pháp luật cần phải nghiên cứu khi đất nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

Phần 2: Vận dụng nguyên tắc Lobby đối với kinh doanh khách du lịch OUTBOUND

Khách du lịch OUTBOUND là người Việt Nam, người nước ngoài học tập công tác tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài theo chương trình du lịch du lịch quốc tế của các công ty du lịch Việt Nam.

Trong mấy năm qua khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng về số lượng khách; mức chi tiêu, ngày lưu trú dài hơn khi tham quan du lịch tại nước ngoài. Điểm lại thị trường tham quan của khách du lịch Việt nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng công, Ma cao ...và các nước khối ASEAN; ngoài ra một số công ty đã tổ chức một số đoàn đi các nước Bắc Á, Châu Âu, Úc và châu Mỹ.. nhưng số lượng đoàn còn hạn chế. Qua điều tra sơ bộ cho thấy: Trước năm 2004, số lượng khách Việt Nam đi du lịch Thái Lan, Singapor, Malaisia, Hồng Kông chiếm 65%, nhưng từ năm 2006 tập trung nhiều thị trường Trung Quốc, Singapor, Malaisia; còn đi Thái lan đã giảm hơn so với những năm trước. Số lượng khách đi theo đoàn nhiều nhất tập trung vào khối cơ quan xí nghiệp, công ty liên doanh, bên cạnh đó các đại lý bán hàng cho các hãng cũng được thưởng bằng chuyến đi du lịch nước ngoài thường có số lượng khách đông nhất.

Thường khách du lịch Việt Nam đi theo đoàn cơ quan xí nghiệp... thì nguồn kinh phí được trích từ hiệu quả kinh doanh như tiền thưởng, tiền phúc lợi, lợi nhuận... để lại cho cho nhiều mục đích trong đó có tổ chức cho cán bộ công nhân tổ chức đi du lịch trong và ngoài nước. Nhưng nguồn kinh phí đó thường do thủ trưởng đơn vị bao gồm: Giám đốc, Tổ chức công đoàn là người đại diện cho cán bộ công nhân viên quyết định về mức chi, thời gian và địa điểm tham quan... Vì vậy, để lấy được các đoàn khách du lịch quyết định bới các yếu tố là tranh thủ được các nhân vật trên với chương trình du lịch hấp dẫn, giá cả hợp lý thì mới có thể cạnh tranh được được đoàn; trong thực tế các công ty lữ hành đều có chương trình du lịch, giá cả tương đối giống nhau thập chí chỉ khách nhau tiêu đề và tên công ty. Vậy vấn đề quyết định cạnh tranh thị trường là vận động hành lang ( LOBBY) đối với người quyết định của các cơ quan xí nghiệp công ty.

Bất cứ công ty lữ hành nào có thị trường tiềm năng về khách du lịch OUTBOUND nào đó thì trước đó họ đã có thời gian vận động hành lang tranh thủ được thủ trưởng nơiđơn vị có cán bộ công nhân viên đi du lịch nước ngòai và hàng năm các công ty du lịch phải luôn thực hiện LOBBY đối với nhân vật đó để giữ được thị trường. Nếu có sự thay đổi lãnh đạo tại các cơ quan đó thì công ty lữ hành phải thực hiện lại vận động hành lang với người mới để cạnh tranh.

Đối với công ty lữ hành mới thành lập chưa có thị trường tiềm năng thì cần phải vận dụng nguyên tắc LOBBY để xâm nhập thì trường hoặc cạnh tranh thị trường với các đối thủ tiềm năng. Để tiếp cận được thị trường là phải vận động hành lang để tranh thủ với đối tượng quan trọng trong các cơ quan xí nghiệp là:

Thông qua mối quan hệ quen biết để tiếp cận người quyết định. Nghiên cứu các mối quan hệ của đối tượng để nhờ họ giới thiệu làm quyen; khi tiếp cận được đối tượng thì bắt đầu tranh thủ và vận động họ giúp đỡ.

Thông qua mối quan hệ cấp trên và cấp dưới cùng ngành, cùng lãnh thổ. Vấn đề này áp dụng nguyên tắc thủ trưởng " chỉ đạo" cấp dưới để tiếp cận ban đầu với đối tượng, sau đó tiến hành vận động hành lang tranh thủ cạnh tranh thị trường.

Thông qua những nhân vật có uy tín, có quyền hoặc thế lực để họ vận động những người quan trọng ưu tiên thị trường cho đơn vị mình. Giải pháp này khó khăn hơn hai giải pháp trên, nhưng nếu thực hiện được thì đảm bảo được thị trường tương đối lâu dài.

Để duy trì được thì trường tiềm năng các công ty lữ hành phải có mối quan hệ đặc biệt với người quan trọng thông qua việc trích các khoản hoa hồng hậu hĩnh dưới các hình thức khác nhau. Bên cạnh đó, để cạnh tranh được đối thủ khác mỗi công ty lữ hành giử khách luôn có nhiều sản phẩm mới tức là luôn có chương trình hấp dẫn khách; cần phải phối hợp với các công ty lữ hành đón khách có chất lượng dịch vụ tốt, thái độ phục vụ nhiệt tình đối với khách trong quá trình tổ chức các đoàn khách du lịch Việt Nam tham quan nước ngoài; đồng thời có giá cả hợp lý phù hợp với từng đối tượng khách du lịch để khách du lịch hoặc người Lãnh đạo các đơn vị họ có thể lưa chọn, có lý do khi thông qua lựa chọn công ty công ty lữ hành

Nguyễn Đăng Tuyền
T.S Võ Quế
Viện NCPT Du lịch (http://kdulich.duytan.edu.vn/Info/Detail.aspx?id= 241&lang=VN)

LOBBY.VN
01-16-2010, 03:12 PM
Có nên thừa nhận lobby ?

- "Cúm A/H1N1 bùng nổ như một đại dịch có thể chỉ là màn kịch của các hãng dược phẩm nhằm thu về hàng tỷ đô la từ sự sợ hãi của công chúng". Thông tin ấy đã làm choáng váng dư luận toàn thế giới trong mấy ngày qua.

Còn chưa có kết luận chính thức về mối nghi ngờ chấn động thế giới này, nhưng sự việc một lần nữa khẳng định sức nặng của hoạt động vận động hành lang (còn gọi là lobby). Với một số người, lobby là nghệ thuật kinh doanh hoặc vĩ mô hơn thì gọi đó là sách lược quốc gia, nhưng cũng có nhiều người coi đó là chuyện "đi đêm", "bôi trơn", là phi pháp. Ở Việt Nam, khái niệm lobby cũng không còn mới, nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa có một cái nhìn cụ thể hiện tượng này ở khía cạnh luật pháp.

Thực tế đang đặt ra câu hỏi: Làm sao để lobby luôn là hoạt động tích cực? Đã có nhiều quan điểm về mối liên quan giữa vận động hành lang với chuyện tham nhũng, khi có các quan hệ xã hội đã được người ta dùng tiểu xảo, đi cửa sau bằng các khoản hối lộ để giành lợi thế. Thực tế ở nhiều nước, doanh nghiệp được vận động chính sách trong khuôn khổ pháp lý, miễn sao có lợi cho doanh nghiệp mà không xâm phạm đến các lợi ích xã hội khác và không vi phạm quy tắc cạnh tranh lành mạnh. Lobby được xem là một bộ phận chính đáng, hợp pháp của thiết chế dân chủ, giúp cho các ý nguyện của người dân đến được với chính quyền một cách hiệu quả nhất.

Ở Việt Nam, vận động hành lang chưa được chính thức thừa nhận và cũng chưa có quy định cụ thể của pháp luật. Thứ mà hầu như dân ta đã khá quen thuộc đó là khái niệm "đi cửa sau", gắn với "phong bao, phong bì". Về bản chất thì đây là một sự thật tiêu cực của lobby. Tức là người ta vận động qua quan hệ cá nhân, qua con đường không chính thức, thiếu minh bạch nên xã hội không thể giám sát. Chính vì thế, ranh giới giữa vận động hành lang tích cực với vận động tiêu cực, giữa phạm tội hay không phạm tội (tham nhũng, lợi dụng chức vụ, hối lộ và nhận hối lộ...), thực tế rất mong manh. Thời gian qua đã có nhiều vướng mắc trong lĩnh vực kinh tế xảy ra liên quan đến lobby, đó là các vụ kiện Việt Nam bán phá giá cá ba sa, tôm, giày mũ da... hay cũng có lúc rộ lên thông tin ngành ô tô đã vận động để được hưởng chính sách thuế có lợi hoặc việc một số doanh nghiệp dược vận động để giành quyền phân phối vắcxin trên thị trường. Song cơ quan quản lý vẫn thực sự lúng túng trong giải quyết các vụ việc như thế này. Chính vì vậy, đã đến lúc cần nghĩ đến một văn bản pháp quy để quy định, hợp thức hóa hoạt động vận động chính sách, trong đó tôn trọng quyền của người dân được nêu ý kiến của mình với Nhà nước về các chính sách liên quan đến lợi ích của họ.

Việc thừa nhận chính thức và quy định cụ thể để đưa lobby chính sách vào khuôn khổ, minh bạch, có thể giám sát sẽ giúp loại bớt những ý kiến cực đoan trước khi tới cơ quan hoạch định chính sách. Việc chuẩn hóa hoạt động lobby sẽ góp phần triệt tiêu những chuyện lắt léo, tham nhũng. Khi hoạt động này được quy chuẩn thì sẽ là một rào cản quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp, Nhà nước có đủ thông tin để làm trọng tài công minh giữa các nhóm lợi ích, giúp xã hội phát triển lành mạnh, bền vững.

Hanoimoi (http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/luan_Ban_va_Han h_Dong/305595/co-nen-thua-nhan-lobby.htm)

LOBBY.VN
02-04-2010, 07:29 AM
Super Lobbyist Lý Gia Thành

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/LyGiaThanh.jpg

Lobbyist có nghĩa là chuyên gia vận động hành lang, nếu có cơ hội bầu chọn ai là nhân vật vận động hành lang ảnh hưởng nhất thế giới trong thế kỷ 20 tôi sẽ bầu cho tỷ phú Lý Gia Thành. Chúng ta hãy tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của tỷ phú, chuyên gia vận động hành lang Lý Gia Thành.

1. Cuộc đời và sự nghiệp kinh doanh của Lý Gia Thành

Trong văn hóa kinh doanh của người Hoa có một vị trí được cộng đồng doanh nhân xây dựng và tôn vinh là khái niệm “Ông chủ của những Ông chủ”. Khái niệm ông chủ một nhà hàng, ông chủ một nhà máy lớn, ông chủ của một tập đoàn kinh tế trong con mắt của người dân, người lao động bình thường họ đều là những nhân vật quan trọng. Hành động của họ, công việc kinh doanh của các tổ chức kinh tế mà họ điều hành có ảnh hưởng đến cuộc sống của một nhóm người nhất định có cùng lợi ích kinh tế trong tổ chức đó.

“Ông chủ của những Ông chủ” là nhân vật mà hành động của họ ảnh hưởng đến vận mệnh của các tổ chức kinh tế mà các ông chủ đang điều hành. Ông chủ của những ông chủ phải là những nhân vật nắm trong tay những lĩnh vực kinh tế huyết mạch của cả vùng, thậm chí mang tầm quốc gia.

Lý Gia Thành chính là “Ông chủ của những ông chủ” của giới kinh doanh Hong Kong cũng như giới doanh nhân người Hoa trên toàn thế giới. Lý Gia Thành nắm trong tay 5% nền kinh tế Hong Kong, những ngành kinh tế huyết mạch như Bất động sản, ngân hàng, hải cảng, đội tàu biển ở Hong Kong và Trung Quốc. Những tài sản quan trọng trong cộng đồng Hoa Kiều tại Canada, Mỹ, Singapo, Thai Land, Malaysia…

Tư tưởng, triết lý kinh doanh và hành đồng của Lý Gia Thành ảnh hưởng đến định hướng và quyết định kinh tế của các ông chủ nhỏ trong cộng đồng doanh nhân Hoa Kiều. Cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70 Lý Gia Thành nổi lên là doanh nhân người Hoa thành đạt giàu có bậc nhất tại Hong Kong. Trong kinh doanh ông là một ông chủ luôn vì lợi ích của người lao động và người tiêu dùng, trong cuộc sống ông là người sống ôn hòa được mọi người nể trọng. Ông luôn nhớ lại lời nói của người cha trước lúc mất, dù làm việc ở bất cứ nơi đâu hãy luôn nhớ về quê hương, mảnh đất Triều Châu nhỏ trong Đại Lục. Hướng về quê hương, mong muốn đóng góp cho quê hương phát triển giàu có…một người thành công trong xã hội tư bản ông đang xây dựng quan hệ để kết nối với nền kinh tế cộng sản…ông đã vượt qua những định kiến chính trị tràn ngập trong suy nghĩ của cộng đồng doanh nhân Hong Kong lúc bấy giờ…ông đã tạo ra sự khác biệt…ông chính là người mở đường cho chủ nghĩa kinh tế tư bản đến làm ăn tại Trung Quốc đại lục

Năm 1978 Đặng Tiểu Bình mở cửa nền kinh tế Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ đã nhận ra vai trò của của Lý Gia Thành trong nền kinh tế Hong Kong, chính phủ TQ đã chọn Lý Gia Thành trở thành người đại diện dẫn đường để giúp TQ tiến ra thế giới. Nền tảng từ suy nghĩ mong muốn TQ phát triển, Lý Gia Thành dự đoán được những thay đổi chính trị to lớn ở thị trường khổng lồ này, ông đã nắm được chìa khóa quan trọng…chìa khóa vàng mà bất cứ một doanh nhân hay các tổ chức kinh tế lớn nào trên thế giới đều muốn nắm giữ…lịch sử đã trao chìa khóa cho người đại diện vĩ đại Lý Gia Thành. Phải đánh giá chính xác rằng đây là thương vụ đầu tư chính trị qua trọng trong sự nghiệp kinh doanh của ông, một phần không nhỏ tài sản của ông đã được gây dựng từ mối quan hệ chính trị này.

Lý Gia Thành đã làm gì để được lịch sử và chính phủ TQ lựa chọn ? Ngay khi những điều kiện kinh tế cho phép ông đã trở về đầu tư đóng góp cho quê hương phát triển. Ông xây dựng các kênh mua bán hàng hóa từ quê hướng để xuất khẩu, đầu tư tạo công ăn việc làm cho người dân. Đóng góp xây dựng trường học, bệnh viện tại quê hương…đóng góp mà ông tâm huyết nhất đó là góp tiền xây dựng trường đại học Sán Đầu một trong những trường đại học hàng đầu TQ lúc bấy giờ. Mong muốn đóng góp cho quê hương từ tận đáy lòng, điều mà những ông chủ người Hoa lúc bấy giờ ở Hong Kong chưa dám làm…họ còn e ngại những vấn đề chính trị lịch sử tại TQ. Mảnh đất mà họ đã phải bỏ chạy sau cuộc cánh mạng văn hóa những năm 60…

Chính phủ TQ mời Lý Gia Thành làm cố vấn kinh tế đặc biệt, từ đây ông đã có thể dùng tài năng của mình giúp chính phủ quy hoạch phát triển kinh tế một cách khoa học hiệu quả…giàu có và thành công như những gì tập đoàn mà ông đã làm được. Các đặc khu kinh tế được mở ra, thị trường rộng lớn 1 tỷ dân mở cửa…đó là cơ hội lớn chưa từng có cho cộng đồng doanh nhân thế giới…doanh nhân Hoa Kiều là người nắm trong tay cơ hội lớn nhất. Lý Gia Thành là người lãnh đạo chỉ đường đối với cộng đồng doanh nhân này…

Những tập đoàn kinh tế lớn của thế giới tư bản đã thông qua Lý Gia Thành để tương tác với chính phủ TQ. HSBC đã mời Lý Gia Thành tham gia hội đồng quản trị của tập đoàn ngân hàng hàng đầu thế giới này, một điều chưa từng có trong lịch sử tồn tại, tập đoàn là hiện thân của giới tư bản Anh Quốc giờ đây có sự hiện diện của một người TQ. Chính chìa khóa chính trị mà Lý Gia Thành nắm giữ với chính phủ TQ đã tạo dựng vị trí quốc tế cho cá nhân ông và tập đoàn mà ông điều hành. HSBC đã có bước nhượng bộ đồng ý bán toàn bộ cổ phần nắm giữ tập đoàn Hòa Ký Hoàng Phố một tập đoàn thương mại hơn 100 năm tồn tại, tập đoàn thương mại hàng đầu của giới chủ tư bản. Lý Gia Thành đã nắm được một trong huyết mạch nền kinh tế Hong Kong với giá rẻ mạt…rất nhiều doanh nhân giàu có muốn sở hữu Hòa Ký Hoàng Phố và thời điểm đó tiềm lực tài chính họ có thể chiến thằng Lý Gia Thành…họ đã thất bại…Lý Gia Thành nắm trong tay chìa khoa chính trị…thứ tài sản mà họ không thể có.

Nắm được những tập đoàn kinh tế huyết mạch của Hong Kong và có vai trò quan trọng trong ngân hàng HSBC, Lý Gia Thành dẫn đầu đoàn quân khai phá thị trường TQ rộng lớn. Dẫn các nguồn tài chính tư bản khổng lồ cho nền kinh tế khát vốn mọi thứ đang cần đầu tư, nắm trong tay quyền được thực hiện xây dựng hạ tầng ngành năng lượng, dầu mỏ, hải cảng...Lý Gia Thành đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình...ông là chia khóa mở cửa nền kinh tế Trung Quốc với nền kinh tế toàn cầu.

Từ năm 1978 đến năm 1993 có hơn 75% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TQ là vốn của Hoa Kiều, nếu ví Lý Gia Thành là con Cá Mập thì khi con cá mập này đến khai phá miền đất nào đàn cá con sẽ bám theo để lấy phần và mong nhận được sự tre trở của cá mập. Ông đã thành công, tư bản Hoa Kiều với nét chung về văn hóa ngôn ngữ đã hòa nhập vào thị trường TQ nhanh và thành công hơn tư bản phương tây trong giai đoạn 10 năm đầu mở cửa. Môi trường kinh doanh mà tư bản Hoa Kiều tạo dựng giai đoạn đầu là điều kiện để đầu tư tư bản phương tây bùng nổ trong 2 thập kỷ sau đó tại Trung Quốc lục địa

2. Hệ tư tưởng Đất Mẹ của cộng đồng Hoa Kiều

Tôi muốn bắt đầu triết lý tư tưởng này bằng một chiến công của người anh hùng Heracles trong thần thoại Hy Lạp. Một câu chuyện thần thoại cho người đọc nhiều suy nghĩ. Xây dựng phép so sánh ở đây chúng ta coi thần Antaeus là hình đại diện của công đồng Hoa kiều trên khắp thế giới, nữ thần đất Gaia là hiện thân cho đất nước Trung Quốc

Heracles vượt qua miền đất xứ Libya. Tại đây chàng gặp thần Antaeus, con trai của Poseidon và Gaia. Antaeus thường bắt những người qua đường phải đánh vật với hắn, ai thua đều bị hắn giết. Gặp Heracles, Antaeus cũng bắt chàng phải vật nhau với hắn. Sở dĩ trước đây không ai địch nổi hắn vì một khi hắn còn chạm chân vào đất thì hắn còn được nhận sức mạnh từ mẹ hắn là nữ thần Đất Gaia. Heracles vật nhau khá lâu với Antaios và nhiều lần vật ngã được hắn nhưng hễ hắn ngã xuống là lại mạnh hơn trước. Thấy thế, chàng liền nhất bổng hắn lên và siết chặt hắn trên không.

Với rất nhiều quốc gia cộng đồng ngoại kiều có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, cộng đồng ngoại kiều giúp các quốc gia đó hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu nhanh chóng và thành công. Ví dụ điển hình nhất là cộng đồng Hoa Kiều và Do Thái, đây là những cộng đồng ngoại kiều rất thành công về mặt kinh tế và được cả thế giới ghi nhận.

Ngoại kiều khi đến sinh sống và làm ăn ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới họ mãi mãi chỉ là nhóm dân tộc thiểu số, họ có những bất lợi rất lớn khi cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh tế bản địa. Vậy làm thế nào họ có thể thành công rực rỡ về kinh tế và nhiều khi còn lẫn át cả doanh nghiệp bản địa. Thành công đó chỉ có được khi họ kết nối được sức mạnh của đất mẹ, tổ quốc nguồn cội của dân tộc đó, trong mọi cuộc chiến mỗi khi vấp ngã họ lại được đất mẹ tiếp thêm sức mạnh…nguồn sức mạnh vô tận đó là cơ sở để họ chiến thắng mọi đối thủ.

Hoa Kiều là cộng đồng thành công nhất, cộng đồng hoa kiều tại Mỹ, Châu Âu hay Đông Nam Á họ có tính cộng đồng rất cao, luôn luôn hỗ trợ và đùm bọc nhau để xây dựng các tổ chức kinh tế mạnh. Một doanh nghiệp tại Trung Quốc muốn đưa hàng hóa xâm nhập thị trường Mỹ, Châu Âu hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới…việc đầu tiên của họ không phải là phải đào tạo một đội quân học thật giỏi ngôn ngữ, học văn hóa…cách thức kinh doanh bản địa…việc này làm nhanh cũng phải mất nhiều năm…cơ hội thành công chưa hẳn cao. Việc đầu tiên của họ là kết nối với cộng đồng hoa kiều tại những quốc gia đó, cộng đồng sống hàng trăm năm ở quốc gia bản địa, họ hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phương thức kinh doanh bản địa…cộng đồng hoa kiều đã trở thành người đại diện bán hàng đối với các doanh nghiệp của đất mẹ xa xôi. Doanh nghiệp Trung Quốc giành thành công kinh tế nhờ họ tìm được những người đại diện hoàn hảo như thế tại một quốc gia xa xôi. Nguồn vốn của hoa kiều luôn muốn đầu tư sản xuất hàng hóa tại đất mẹ Trung Quốc nơi họ am hiểu với những lợi thế đặc biệt giúp cho họ có thể tăng lực cạnh tranh hàng hóa và cơ hội kiếm tiền nhiều hơn với các doanh nghiệp bản địa.

Lợi ích luôn có cho cả hai bên, ngoại kiều và đất mẹ. Giả sử rằng nếu cộng đồng hoa kiều không kết nối với đất mẹ Trung Quốc, họ sẽ như là vị thần Antaeus dễ dàng bị đánh bại trước những doanh nghiệp bản địa thiện chiến.

Người Do Thái cũng thế họ thành công vì họ xây dựng được các kết nối toàn cầu của cộng đồng người Do Thái, hỗ trợ nhau cùng nhau chiến đấu và chiến thắng trước kẻ địch.

Sự đồng điệu về văn hóa, ngôn ngữ…đã giúp cho cộng đồng doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục năm để thâm nhập và kinh doanh thành công tại thị trường toàn cầu.

3.Thời cơ lịch sử tạo nên huyền thoại Super Lobbyist

Theo lý thuyết những kẻ xuất chúng thì Lý Gia Thành sinh ra đúng thời, năm 1970 chính quyền Bắc Kinh từng bước mở cửa nền kinh tế, năm đó Lý Gia Thành ở độ tuổi 40, lứa tuổi chín nhất trong cuộc đời con người. Sau 20 năm lăn lội kinh doanh tại Hồng Kông ông đã xây dựng được cơ nghiệp khá lớn, ông là người nổi bật nhất trong giới kinh doanh Hoa Kiều tại Hồng Kông. Thời điểm đó hoạt động kinh doanh của Hoa Kiều vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong quy mô kinh tế Hồng Kông, những doanh nghiệp tiềm lực tài chính mạnh nhất, nắm trong tay những ngành kinh tế mũi ngọn đều nằm trong tay giới tư bản Anh Quốc và phương Tây.
Trung Quốc giành độc lập năm 1949, tự hào về sức mạnh chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh chính quyền Trung Quốc đưa ra hàng loạt kế hoạch tham vọng xây dựng lại nền kinh tế. Tầng lớp lãnh đạo không hiểu cách vận hành nền kinh tế đưa ra những chiến lược kinh tế mang tính hoang đường và chịu những thất bại nặng nề. Kế hoạch nhà nhà làm thép để trở thành nước công nghiệp, tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân năm 1964…chính quyền Bắc Kinh tập chung mọi nguồn lực cho mục tiêu ảo tưởng trên. Các ngành kinh tế khác không được đầu tư, hàng hóa khan khiếm, đời sống nhân dân đói khổ.

Đỉnh điểm các sai lầm của chính quyền Bắc Kinh là thực hiện cuộc cách mạnh văn hóa 1960 đến 1970 đã hủy hoại mọi giá trị của xã hội Trung Quốc, chính quyền không coi trọng tầng lớp tri thức, giới tư bản, xã hội mất niềm tin và chính quyền.

Từ năm 1949 tầng lớp tư bản, tri thức tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải và các thành phố lớn khác tiến hành di cư sang Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và Mỹ. Không có niềm tin vào chính quyền Bắc Kinh, sợ hãi trước chính sách và pháp luật chính quyền TQ thực hiện, họ ra đi tìm miền đất an toàn hơn để phát triển.
Cuộc di cư mang theo nguồn vốn và tầng lớp tinh anh nhất của TQ, cuối thập niên 60 xã hội TQ xơ xác, không vốn, không tầng lớp tri thức, mất niềm tin ở nhân nhân, không trông chờ gì sự giúp đỡ của phương Tây.
Chính quyền Bắc Kinh phải thay đổi, họ xóa bỏ những lý tưởng mà bao năm qua họ theo đuổi, họ nhận ra rằng ảo tưởng đó không bao giờ thành hiện thực. Một chính quyền mới ra đời, một chính quyền tư duy thực tế, chính quyền muốn TQ phát triển theo nền kinh tế tư bản.

Chính quyền Bắc Kinh phải đi tìm người thầy dạy mình hiểu về nền kinh tế tư bản, không thể dựa vào phương Tây, chính quyền TQ hiểu rằng người thầy của mình chính là cộng đồng Hoa Kiều đang sinh sống và làm ăn ở các nước Phương Tây, người thầy gần nhất chính là cộng đồng Hoa Kiều tại Hồng Kông. Cộng đồng đã mất niềm tin vào chính quyền Bắc Kinh, họ đã phải di cư để tìm con đường sống, lý do gì thuyết phục họ trở về.
- Làm thế nào để tiếp cận giới tư bản Hoa Kiều ?
- Làm thế nào để lấy được niềm tin tư bản Hoa Kiều ?
Lý Gia Thành từ bé đã được cha mẹ giảng dạy về giá trị văn hóa của quê hương và đất mẹ. Khi kinh tế ở Hồng Kông ông vẫn luôn tìm cách giữ liên hệ thông tin với quê hương, tìm mọi cách gửi tiền, về quê hướng đầu tư, về quê hương làm ăn…ngày đó hoạt đông kinh doanh Hong Kong và Đại Lục bị cấm. Ông vẫn vượt qua những khó khăn đó, ông hiểu những điều ông làm đã giúp rất nhiều cho quê hương đất mẹ, giúp đỡ cho người dân quê ông đỡ khổ.

Ông là một trong số ít doanh nhân Hong Kong duy tri hoạt động kinh doanh với Đại Lục từ năm 1949 nên ông luôn nằm trong hệ thống giám sát của chính quyền Bắc Kinh. Gần 20 năm quan sát Lý Gia Thành chính quyền Bắc Kinh hiểu được tài năng và tầm nhìn của ông, một người luôn hết mình vì nhân dân TQ. Chính quyền Bắc Kinh lựa chọn ông là người đại diện giúp đỡ chính quyền tiếp cận nền kinh tế tư bản.

Thời điểm này đã giúp Lý Gia Thành trở thành huyền thoại, ông trở thành chuyên gia vận động hành lang của chính quyền Bắc Kinh với thế giới tư bản. Không phải nói quá thời điểm đó uy tín của Lý Gia Thành với giới tư bản còn lớn hơn cả uy tín của chính quyền Bắc Kinh với giới tư bản. Lời nói và hành động của Lý Gia Thành được tôn trọng hơn cam kết của chính quyền Bắc Kinh.

Ông cố vấn giúp chính quyền Bắc Kinh xây dựng chính sách kinh tế phù hợp, đánh thức các tiềm năng như nguồn nhân lực giá rẻ, thị trường rộng lớn nhu cầu tiêu dùng cao, tài nguyên, khoáng sản phong phú. Những chính sách này nhận được sự ủng hộ của giới tư bản đầu tư Hoa Kiều và tư bản phương Tây. Trước đó giới tư bản không có cơ hội nói chuyện với chính quyền Bắc Kinh, họ không thể tác động đến các chính sách của chính quyền, Lý Gia Thành đã làm được điều mà họ đã chờ đợi bấy lâu.

Thời điểm Lý Gia Thành trở thành chuyên gia vận động hành lang trong lịch sử có lẽ phải hàng ngàn năm mới có. Chưa bao giờ chính quyền TQ lại khủng hoảng như thế, họ cần phải thay đổi nhanh để đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói. Có lẽ nhiều người phương Tây cũng không lạ gì cách làm của Lý Gia Thành nhưng họ không thể làm được đơn giản vì họ không phải là người TQ.

Lý Gia Thành là người đại diện vận động hành lang cho giới tư bản đầu tư phương tây và hơn 100 triệu Hoa Kiều trên khắp thế giới, những nhà đầu tư đã nhìn thấy miếng bánh tại thị trường TQ họ chỉ đợi minh chủ như Lý Gia Thành phất cờ dẫn đầu đội quân đầu tư này.

Lý Gia Thành mang vốn của mình tham gia các dự án khổng lồ của chính quyền Bắc Kinh, đây là cam kết lớn nhất để các nhà đầu tư khác đi theo. Thời điểm đó khi chính sách của chính quyền Bắc Kinh chưa hoàn thiện Lý Gia Thành đứng ra làm việc trực tiếp với chính quyền Bắc Kinh để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư làm ăn ở TQ. Nếu các nhà đầu tư nhỏ tự mang vốn vào đất nước mà chính sách chưa ổn định thì rất mạo hiểm, thậm chí còn vướng vào vấn đề phạm luật khi làm việc với giới quan chức địa phương thiếu hiểu biết. Lý Gia Thành làm việc trực tiếp với các siêu quyền lực tại Bắc Kinh là điều đảm bảo chắc chăn cho hoạt động đầu tư của giới tư bản.

Hoạt động vận động hành lang của Lý Gia Thành mang lại lợi ích cho nhân dân TQ và lợi ích cho giới tư bản Hoa Kiều. Hoạt động đầu tư mang lại cho ông 1 USD lợi nhuận thì đã mang lại cho nền kinh tế Trung Quốc và nên kinh tế thế giới 1000 lợi nhuận.

Giới tư bản Anh Quốc, Mỹ….đã phải nhường cho ông những miếng bánh trong thế giới của họ, liên kết làm ăn với Lý Gia Thành giúp họ tìm thấy cơ hội đầu tư vào TQ.

Phẩm chất giúp Lý Gia Thành trở thành huyền thoại vận động hành lang trong lịch sử vận động hành lang thế giới chính là khả năng dự đoán được vận mệnh đất nước Trung Quốc trong thời điểm quyết định của lịch sử.

Hai mươi năm sau khi trở thành chuyên gia vận động hành lang của chính quyền Trung Quốc và giới tư bản Hoa Kiều Lý Gia Thành đã trở thành tỷ phú được kính trọng trong giới tư bản toàn cầu.

Quan điểm chính trị về lợi nhuận và hệ tư tưởng đất mẹ mà ông đã thực hiện sẽ trở thành bài học lớn cho tầng lớp doanh nhân và chuyên gia vận động hành lang trẻ học tập.

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

LOBBY.VN
02-06-2010, 06:11 PM
“Đại gia” công nghệ Mỹ đua… lobby

Các hãng công nghệ ở thung lũng Silicon rút ra một kinh nghiệm xương máu: “thuốc đặc trị” nhiều chuyện đau đầu là đầu tư để lobby tại Capitol Hill – Văn phòng chính phủ Mỹ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/1265280505img.jpg
Google ngày càng trở nên “thân thiết” với chính quyền của Tổng thống Obama

Và Google đang là một ví dụ điển hình nhất cho bài học này. Trong vòng 5 năm qua, gã khổng lồ tìm kiếm từ chỗ gần như không có sự hiện diện nào tại Washington đã trở thành hãng công nghệ chi tiêu nhiều nhất cho các hoạt động lobby trong năm 2009.

"Sự gia tăng các khoản chi cho lobby phản ánh một cách chính xác sự phát triển của công ty, từ chỗ một “chú bé tí hon” trở thành một người khổng lồ", Dave Levinthal, giám đốc truyền thông của Trung tâm hồi đáp chính trị Mỹ nói.

Sự hiện diện của Google ở Washington không chỉ thể hiện ở việc họ “chi đậm” nhất mà người của hãng còn trở thành các “nhân vật thân cận” với các nhà lãnh đạo của chính phủ Mỹ, thậm chí có những nhân viên của Google đã trở thành quan chức nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền của Tổng thống Obama.

Hơn ai hết, Google hiểu rằng họ không thể lặp lại sai lầm mà Microsoft đã từng mắc phải trong những năm 90. Khi đó, Microsoft đã tự phụ về sức mạnh của mình và cố tình lờ đi quyền lực chính trị và cái giá phải trả là hàng loạt những vụ điều tra và phiên tòa độc quyền với những khoản phạt nặng nề.

Google luôn luôn tin rằng họ có một trách nhiệm đặc biệt trong việc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn và các chiến dịch lobby là một phần trong cuộc thập tự chinh ấy. Trên thực tế, những khoản đầu tư lên đến hàng chục triệu USD này chỉ phản ánh một điều duy nhất: Google đang đi theo bước chân của những đại gia công nghệ khác ở thung lũng Silicon.

Điều này không tốt mà cũng chẳng xấu vì đôi khi những chiến dịch lobby của họ cũng vì quyền lợi của người dùng. Trả lời câu hỏi này, Alan Davidson, người phụ trách các chính sách chính phủ của Google vẫn một mực khẳng định họ đổ tiền cho các chiến dịch lobby chỉ để chứng minh sự “khiêm tốn” của mình, "Chúng tôi hiểu rằng tăng trưởng luôn đi kèm với trách nhiệm và trách nhiệm của chúng tôi là phải thể hiện được tư cách của một hãng dẫn đầu ngành công nghiệp này”.

Bắt đầu thực thi các chiến dịch lobby của mình từ năm 2005. Trong năm 2009, Google đã chi 4,03 triệu USD, đứng thứ 2 trong số các hãng công nghệ Mỹ sau Oracle với 5,1 triệu USD. Bắt đầu từ quý IV/2009, Google đã vượt lên dẫn đầu với các khoản chi trị giá 1,12 triệu USD trong khi Oracle chi 1,05 triệu USD.

Thực ra không chỉ một mình Google “tăng tốc”, tổng số tiền mà top 10 hãng công nghệ hàng đầu thung lũng Silicon đã chi cho hoạt động lobby từ 12,4 triệu USD trong năm 2005 lên 26,4 triệu USD trong năm 2009.

Đại diện của Google không nói cụ thể những vấn đề mà Google đã và đang vận động để được giải quyết là gì nhưng ông này cũng viện dẫn những ví dụ khác như các hãng viễn thông AT&T, Verizon hay Comcast… cũng đã chi tới 17 triệu USD trong năm 2009 từ mức 12 triệu USD của năm 2005.

“Đầu tư cho các hoạt động lobby không có gì là sai vì nó thể hiện các doanh nghiệp và chính phủ đã gần nhau hơn nhưng thật nguy hiểm nếu các hãng lạm dụng việc này để che mắt khách hàng cũng như dư luận”, tờ New York Times có lần đã bình luận và lấy dẫn chứng là dự án Google Books.

Lobby & technoloby (http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=164703)

LOBBY.VN
02-06-2010, 06:14 PM
Lobby - Hợp pháp hay bất hợp pháp ?

Chủ đề chính trị luôn được coi là khô khan, và thực tế là rất nhạy cảm khi nói chuyện hay đề cập đến. Với người Mỹ mới thì dễ dàng hơn, dễ hơn chỉ 1 chút thôi, khi họ có thể thốt lên: "I hate Bush!" (Tôi ghét ông Bush) còn những con người đến từ UK nhất là England, Scotland thì điều tốt nhất là nói chuyện thời tiết ở Iraq bây giờ thế nào, chứ không nên động tới vấn đề chính trị với họ. Bởi nếu bạn hỏi 1 người già đến từ Anh Quốc: "Thưa ông, ông nghĩ thế nào về thủ tướng Tony Blair ?" thì họ sẽ gạt mà rằng: "Tôi không thích nói đến chính trị" . Còn đối với một người thế hệ sau này của cả Mỹ hay Anh Quốc, bạn sẽ nhận được câu trả lời: "Tôi không biết, mà tôi cũng chẳng quan tâm!"

Bài báo được đăng trên BBC nói về nghề lobbist có 1 câu "Làm ăn với Mỹ phải biết lobby vì đó là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài." Nếu như trong cuốn từ điển kinh tế có thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith, thì trong chính trường, vị tổng thống thứ 4 của Mỹ năm 1809, một trong những người thành lập quốc gia giàu có nhất thế giới này, James Madison là người phổ biến 1 thuyết "bàn tay vô hình" khác mang đậm màu sắc chính trị

Lobby/Lobbying (tiếng Việt được dịch là ‘Vận động hành lang”) còn được gọi với 1 cái tên khác: 'Interest representation'. Với ngôn ngữ chuyên nghiệp của 1 nghề, tiếng Mỹ sử dụng thuật ngữ 'public affairs'. Lobby có thể hiểu đơn giản và rất đặc trưng là 1 "hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành 1 quyết định". Khái niệm Lobby và PR là 2 khái niệm tách rời, và không nên đánh đồng với nhau, cho dù chúng có cùng 1 đích: tạo ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ của 1 vấn đề nào đó. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là để thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định. Và người ta hoàn toàn có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby

Đối với Việt Nam, hoạt động của một Lobbyist còn khá xa lạ và nhiều khi còn được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Tài liệu từ Tổng cục 3 - Bộ Công an (VN) có viết "ở khu vực Đông Nam á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ." Tuy nhiên, có 1 thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần thì chúng ta cũng hiểu tại sao nhiều khi tưởng chừng như rất vô lý, chúng ta thậm chí còn chưa kịp đưa ra các bằng chứng chống kiện, thì quốc hội Mỹ đã thông qua dự thảo đánh thuế hàng hoá của Việt Nam. Lý do rất đơn giản: Các tổ chức tại Việt Nam lúc này chưa hề nắm rõ thị trường Mỹ và cũng đã không có 1 ý tưởng nào về việc thuê Lobbyist trong vụ kiện (Chi phí thuê Lobby cho dù là có khá lớn, nhưng thực chất không ăn thua gì so với thiệt hại khoảng 20 triệu USD từ việc Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đánh vào sản phẩm cá tra, basa đông lạnh). Trong khi đó, những tổ chức như Liên minh Tôm miền Nam (SSA) và Hiệp hội Tôm bang Lousiana (LSA), ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine, họ còn sử dụng hàng loạt các công ty chuyên hành nghề lobby nổi tiếng tại đây như Livingston, Jones Walker, Waechter, Poitevent&Denegre... để vận động các quan chức lưỡng viện Mỹ ủng hộ họ trong vụ kiện bán phá giá Việt Nam. Và họ đã thắng

Pháp luật Mỹ đã công nhận Lobby là một hoạt động chính thức hợp pháp và công khai. Lobby được điều chỉnh bởi Đạo luật Công khai vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act 1995 - LDA) (trong đó có quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả…”.), Bộ luật về ngân sách Liên Bang (Internal Revenue Code - IRC), và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act - FARA). Chuyên gia vận động hành lang (lobbyist) được hiểu là cá nhân đại diện cho khách hàng của mình được thực hiện việc tiếp xúc trực tiếp với các quan chức có thẩm quyền. Họ thường là các cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền tiểu bang hoặc liên bang, những người đã từng giữ các vị trí tại Hạ viện, Thượng viện Mỹ. Chính vì vậy, họ đã duy trì được mối quan hệ và uy tín để có thể thực hiện các hoạt động lobby. Lobbyist là 1 nghề tại Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), và với tư cách là 1 nghề, 1 lobbyist cũng bị buộc phải tuân theo những quy định hành nghề đặc trưng (thuật ngữ 'Codes of Conduct'). Những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới $50.000.Hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề từ hàng chục năm nay và được thông qua bởi Nghị viện châu Âu. Những người Mỹ có câu "Ở đây, chỉ có Toà án là không thể lobby mà thôi!"

Thời báo Sài Gòn (Saigon Times) viết: "Các cuộc vận động hành lang đóng vai trò rất lớn trong chính trường Mỹ. Tuy nhiên, chúng ta không nên rập khuôn theo bất cứ một khuôn mẫu nào bởi Việt - Mỹ có những nét đặc thù khác hẳn xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử riêng trong quan hệ hai nước. Phương châm mà chúng ta theo đuổi sẽ là tiếp xúc rộng rãi, chủ động tiếp cận và đối thoại thẳng thắn không né tránh kể cả với những nhân vật có quan điểm khác biệt." Lobby rõ ràng là nhu cầu thiết yếu trong phát triển chính trị và kinh tế, nhưng nếu rập khuôn của Mỹ hay bất kỳ nước nào khác, thì cũng chẳng khác gì việc chúng ta bê nguyên bộ giáo dục của Liên bang Nga thời trước vào Việt Nam

Một ví dụ điển hình của Lobby chính trị từ nước khác vào Mỹ là năm 1994, khi Tổng thống Mỹ lúc đó là Clinton trao quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho Trung Quốc, đồng thời tuyên bố: từ nay sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm. Việc lobby đó được thực hiện ở đâu ? Đầu thập niên 1990, thời điểm Trung Quốc bắt đầu nổi lên tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã bắt đầu tỏ ra lo ngại trước cái mà họ coi là "mối đe doạ từ Trung Quốc". Trong quan hệ với Trung Quốc, Mỹ thường xuyên dùng chiêu "nhân quyền" để gây sức ép về thương mại, cụ thể là đe doạ miễn áp dụng quy chế MFN. Theo điều luật sửa đổi của Tu chính án Jackson-Vanik áp dụng cho những nước hạn chế tự do di trú, Tổng thống phải xác định xem các nền kinh tế bị Mỹ coi là "phi thị trường" có cho phép tự do di trú không trước khi ban cho họ quy chế MFN. Có được MFN đồng nghĩa với việc được hưởng mức thuế quan thấp nhất ở Mỹ. Thời hạn của việc áp dụng MFN chỉ trong vòng 1 năm, nên cứ sau 12 tháng, Quốc hội Mỹ lại sẽ bỏ phiếu để quyết định xem có tiếp tục trao MFN cho các nước hay không. Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống, điều này không những gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc khi muốn vào thị trường Mỹ, mà đặc biệt cản trở các tập đoàn lớn của Mỹ khi muốn làm ăn tại Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu Lobby của Trung Quốc tại thời điểm này là "làm sao gây ảnh hưởng để Trung Quốc được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) tại cuộc bỏ phiếu hàng năm ở Quốc hội" và trước tiên "tập trung nhằm thuyết phục Quốc hội và chính quyền Mỹ tách vấn đề nhân quyền khỏi việc áp dụng MFN."

Chẳng phải ngẫu nhiên khi cùng lúc các lãnh đạo Boeing công khai lên tiếng yêu cầu chính quyền Mỹ tiếp tục dành cho Trung Quốc quy chế MFN (Wall Street Journal trước đó đã đưa tin hãng Boeing đang sắp hoàn tất hợp đồng bán máy bay chở khách trị giá khoảng 5 tỉ USD cho Trung Quốc), chủ tịch Hạ viện Tom Foley công khai "đối đầu" với các thành viên đảng Dân chủ tại Nhà Trắng khi tuyên bố rằng Tổng thống Clinton "không nên gắn vấn đề nhân quyền với thương mại". "Đó là hành động thách thức và đối đầu", ông Foley nói. Thực chất, Hạ nghị sĩ Foley đại diện cho vùng Spokane, bang Washington - quê hương của hãng Boeing. Về phía Trung Quốc, sau khi nhận được những tín hiệu tích cực mở đường ấy, nhiều đoàn đại biểu cũng đã sang thăm Mỹ để đẩy mạnh hoạt động hành lang. Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung (UCBC) thành lập năm 1973 với mục tiêu ban đầu là giúp đỡ những doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại Trung Quốc trong điều kiện hai bên chưa thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Thế nhưng mục tiêu của tổ chức này lúc đó là gì thì ai cũng hiểu, đó là kêu gọi liên kết giữa các tập đoàn của Mỹ và Trung Quốc trong việc lobby quy chế MFN. Tới năm 2005, số thành viên của Hội đồng đã lên tới gần 250 công ty và sẽ tiếp tục tăng mạnh do tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và những thách thức doanh nghiệp Mỹ phải đối mặt tại thị trường này. Trong số các thành viên chủ chốt của Hội đồng, có rất nhiều tập đoàn khổng lồ, nổi tiếng thế giới như Boeing, Intel, IBM, Coca Cola, HP, Morgan Stanley, AIG, Exxon, Erricson, Motorola....) Kết quả thì ai cũng rõ Trung Quốc giành được quy chế Tối huệ quốc năm 1994 với lời bảo của Clinton "sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm"!

Tại Mỹ, khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng và ổn định chung là thương lượng, qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, mỗi bên có lợi một ít, không bên nào được lợi hết, hoặc thiệt hết. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thỏa thì mới “đụng trận” đem nhau ra tòa, hay để cho một phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn kém chi phí cũng như thời gian. Muốn có được cái thế lực cần thiết để thủ thân thì cần phải có một chiến lược lobby ở tầm quốc gia (về mặt chính trị) và ở tầm doanh nghiệp / hiệp hội (về mặt kinh tế thương mại). Cựu chủ tịch Hạ viện Mỹ, ông Thomas O’Neil đã nói một câu mà sau này rất hay được các nhà chính trị và vận động hành lang sử dụng: “Chính trị là việc địa phương” (“All politics is local”). Ý nghĩa của câu nói này là các dân biểu bị áp lực trực tiếp và thường xuyên từ cử tri của mình, và phải ưu tiên phục vụ đòi hỏi của họ; nếu không thì sẽ thất cử, khi ấy cho dù người dân biểu có mục tiêu phục vụ lý tưởng tốt đến đâu cũng không có đất để hoạt động

Một đoạn từ BBC "Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay một cách bài bản và có hiệu quả khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không biết lo xa tất sẽ có buồn gần; cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn."

Mashimaro (http://webdoanhnhan.com/diendan/index.php?action= printpage;topic=1792.0)

thoidaianhhung
02-06-2010, 06:26 PM
Tìm hiểu về lobby

Lobby (danh từ): hành lang; hành lang ở nghị viện (a lobby politician : kẻ hoạt động chính trị ở hành lang, kẻ hoạt động chính trị ở hậu trường); (từ Mỹ,nghĩa Mỹ) nhóm người hoạt động ở hành lang (nghị viện). Động từ lobby: (từ Mỹ,nghĩa Mỹ) vận động ở hành lang (đưa ra hoặc thông qua một đạo luật ở nghị viện); hay lui tới hành lang nghị viện; tranh thủ lá phiếu của nghị sĩ

Khái niệm "lobby" hiểu theo nghĩa đơn giản là “vận động hành lang” - là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ, gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích - hay nhóm gây áp lực. Lobby cũng có thể được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định - gây tác động đến các quan chức có thẩm quyền hoặc có thể mang một nghĩa rộng hơn thế nữa

Đây là một nghề được giới thượng nghị sỹ Mỹ lựa chọn sau khi nghỉ hưu và là một nghề khá phổ biến ở các nước phát triển

Quy định của pháp luật Mỹ

Về cơ sở pháp lý, Lobby được điều chỉnh bởi Đạo luật Công khai vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act 1995 - LDA), Bộ luật về ngân sách Liên Bang (Internal Revenue Code - IRC), và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act - FARA)

Hiến pháp Mỹ năm1787 trong bản sửa đổi đầu tiên, bằng việc khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và yêu sách hoà bình, đã cung cấp các cơ sở pháp lý cho cái gọi là “những nhóm lợi ích đặc biệt”. Theo đó, bất cứ một nhóm nào cũng đều có quyền yêu cầu các quan điểm của họ phải được sự lắng nghe của công chúng, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và các toà án. Đến năm 1946, Luật về nhóm gây áp lực được thông qua. Đến năm 1995, Quốc hội Mỹ đã biểu quyết chấp thuận một đạo luật mới quy định thể lệ hành nghề vận động hành lang để thay thế đạo luật năm 1946


Chính thức là vào ngày 09/12/1995, Tổng thống Mỹ đã ký ban hành Đạo luật về công khai hoá hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) - điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động lobby cả trong và ngoài nước Mỹ và quy định: “bắt buộc những người hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hoá các khách hàng, các tiếp xúc, công khai hoá các vấn đề lobby và số tiền công được chi trả…”. Luật này đã có những quy định hạn chế cho những người làm lobby. Chẳng hạn, luật cấm các thượng nghị sỹ và nhân viên văn phòng thượng viện không được nhận quà hoặc chiêu đãi đáng giá trên 100 đô la mỗi người mỗi năm, cấm không được tham dự những chuyến đi giải trí do tư nhân đài thọ. Tuy nhiên, thể lệ về quà cáp và chiêu đãi cũng có tới 24 trường hợp ngoại lệ. Luật mới cũng buộc những người làm lobby mỗi năm phải báo cáo với nhà nước hai lần về số tiền họ nhận của các công ty, nhận để làm gì và thân chủ của họ là ai; và quy định rằng, bất cứ ai được trả tiền để vận động các nhà lập pháp và các quan chức chính phủ đều được coi là người làm lobby, nếu người ấy dùng ít nhất 20% thì giờ của mình để đại diện cho thân chủ trong mỗi thời gian sáu tháng. Luật cũng yêu cầu, cả những lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng ký, nếu vi phạm có thể bị phạt tới 5 vạn đôla

Hoạt động nghề nghiệp này ở châu Âu cũng đã được điều chỉnh bằng các quy định hành nghề (được thông qua bởi Nghị viện châu Âu) từ hàng chục năm nay

Các nhóm lợi ích

Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. Các nhóm lợi ích, về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Do đó, các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng, nhiều nhóm có lợi ích đối lập nhau và thậm chí có mâu thuẫn với lợi ích của cả bản thân nước Mỹ

Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế. Theo Madison, một trong những người sáng lập nền cộng hoà Mỹ, “nguồn gốc lâu đời và phổ biến nhất tạo nên các phe phái là ở sự phân chia khác nhau và không công bằng của cải”. Cho đến ngày nay, các tổ chức về thương mại, kinh doanh và nghề nghiệp là những tổ chức đông đảo và có thế mạnh hàng đầu trong số các nhóm lợi ích ở Mỹ; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, đòi quyền bình đẳng của phụ nữ trong bầu cử…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Đặc biệt, khi chính phủ mở rộng các hoạt động của mình thì đồng thời cũng xuất hiện thêm các nhóm lợi ích để gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ nhằm nâng cao lợi ích của họ. Chẳng hạn như sự ra đời của các tổ chức hưu trí, cựu chiến binh, hay cả những nhóm lợi ích thuộc chính phủ như Liên hiệp quốc gia các thành phố, Liên đoàn các thị trưởng Mỹ, Hội đồng chính phủ các bang…; thứ tư, các nhóm lợi ích ra đời cũng nhằm đối phó với những quy định của chính phủ. Khi có thêm các công việc kinh doanh và nghề nghiệp hoạt động dưới sự điều hành của nhà nước, nhiều tổ chức mới lại ra đời để bảo vệ những lợi ích của họ. Các nhóm lợi ích này thường là những hiệp hội nghề nghiệp có hiểu biết sâu về lĩnh vực của mình. Trong số này, có những nhóm lớn và mạnh như Hiệp hội y tế Mỹ, Hội luật gia Mỹ, Hiệp hội quốc gia các đài phát thanh…

Sự phát triển hết sức nhanh chóng của các nhóm lợi ích này có thể được giải thích bởi sự đa dạng về mặt xã hội và sắc tộc ở Mỹ. Việc đánh giá vai trò và tác động của các nhóm lợi ích là hết sức khác nhau, tuỳ theo đối tượng, lĩnh vực và trường hợp cụ thể. Nhìn tổng thể, các nhóm lợi ích đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Đối với các nhóm lợi ích có tổ chức, hoạt động vận động diễn ra liên tục, nhằm vào tất cả các cơ quan quyền lực của chính quyền và theo đuổi các mục tiêu của họ bằng tất cả những cách thức có thể. Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các uỷ ban hành động chính trị (PAC)

Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Liên đoàn các trang trại (Farm Breau Fedaration); Tổ chức công đoàn AFL - CIO; Hiệp hội các nhà chế tạo quốc gia (National Farmers Union); Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union); Liên đoàn toàn quốc của những người đóng thuế (Natinonal Taxpayers Union)… Các nhóm quyền lợi này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Điều này thường dẫn đến sự hình thành liên minh giữa các nghị sỹ của hai đảng có chung lợi ích để vận động và thông qua các dự luật có liên quan.

Lobbyist - Họ là ai ?

Lobbyist (Chuyên gia vận động hành lang) được hiểu là cá nhân đại diện cho khách hàng của mình được thực hiện việc tiếp xúc trực tiếp với các quan chức có thẩm quyền. Họ thường là các cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền tiểu bang hoặc liên bang, những người đã từng giữ các vị trí tại Hạ viện, Thượng viện Mỹ. Các thượng nghị sỹ Mỹ sau khi nghỉ hưu 1 năm có thể làm nghề Lobby. Chính vì vậy, họ đã duy trì được mối quan hệ và uy tín để có thể thực hiện các hoạt động lobby.
Các chuyên gia và tổ chức lobby chuyên nghiệp tại Mỹ được khuyến khích đăng ký hoạt động chính thức. Họ phải thực hiện chế độ báo cáo hai lần một năm về các nội dung hoạt động và vụ việc mà mình tham gia. Riêng đối với các hoạt động lobby đại diện cho các chính phủ nước ngoài, theo quy định của FARA, phải báo cáo trực tiếp cho Bộ Tư Pháp Mỹ

Chuyên gia lobby hoạt động nhằm gây ảnh hưởng, tác động đến các quan chức, những người có thẩm quyền; các hoạt động chuẩn bị lên kế hoạch, nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ để thực hiện một mục đích nào đó...

Các lobbyist làm gì để gây ảnh hưởng? Họ tiếp xúc với các đối tác, các quan chức... mời đối tác đến những nhà hàng sang trọng nhất, mời đi hội thảo nước ngoài, phát các hồ sơ kỹ thuật, thi thoảng gọi điện thoại, hay bất chợt đến văn phòng làm việc tặng quà, mời các quan chức giữ vai trò cố vấn cho công ty...

Nghề Lobby và lợi ích mang lại từ công nghệ Lobby

Nguyên nhân của sự ra đời, tồn tại và không ngừng phát triển của nghề lobby ở Mỹ là chế độ đa đảng phái và các quy định liên quan đến hoạt động lập pháp của nghị viện gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ

Pháp luật Mỹ công nhận đây là một hoạt động chính thức hợp pháp và công khai. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh

Trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại, “đồng thời cũng góp phần làm suy yếu các đảng phái chính trị”. Trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, lobby Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Lobby không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang tính chất xã hội. Nhưng xét về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của lobby cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Hoa Kỳ

“Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình”. Tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc của tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của tư bản. “Nói cách khác, tư bản đã bỏ tiền ra để sắp đặt người làm việc nhà nước…, đôn đốc, theo dõi xem những người đó có phục vụ đúng quyền lợi của tư bản không”. Ngay cả một số cơ quan chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Tại thủ đô Washington, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề làm công nhân viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Tại đây, hiện có khoảng 5 vạn người sống bằng nghề này và đội ngũ ngày càng thêm đông đảo. Năm 1981 có 5.662 người làm lobby đăng ký hợp pháp tại Văn phòng thượng viện, đến năm 1986 đã lên tới hai vạn người, chưa kể thủ phủ các bang và các thành phố trong cả nước. Trong đội ngũ lobby, một số không ít là luật sư (ở Washington cứ 40 người dân thì có một người là luật sư) và những cựu quan chức chính phủ. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger có thời kỳ làm lobby cho nước Nhật, cựu Bộ trưởng lục quân Clifford Alexander làm lobby cho một tập đoàn đầu tư… Những tổ chức doanh nghiệp, công nghiệp hoặc những công ty càng lớn thì đội ngũ lobby của họ càng mạnh

Về hình thức hoạt động, lobby không phải ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Ngoài việc chiêu đãi tiệc tùng liên miên, đưa các nghị sĩ đi chơi đâu đó bằng máy bay riêng hay mời dự hội thảo, hội nghị, những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. “Cái tục lệ dùng tiền bạc để vận động tranh cử và vận động làm luật này, luật khác, xét về bản chất, có thể sánh với tục “mua quan bán tước” trong thời phong kiến. Nó gây nhiều lạm dụng, tệ đoan và tai tiếng”. Bởi vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của những kẻ “đổi chác mua bán quyền thế ” ở thủ đô Washington. Từ những kẻ chạy vòng ngoài chiêu đãi công nhân viên nhà nước ở cấp thấp, cho đến những người có vây cánh giao dịch mật thiết và kín đáo hoặc công khai với những thượng nghị sĩ và các thành viên nhà nước cấp cao

Ở Mỹ, những lobby nhiều tiền và do đó nhiều thế lực nhất là những lobby đại diện cho các tập đoàn tư bản, tiêu biểu là:

Lobby công nghiệp quốc phòng: Có sức mạnh vô địch, chi phối Quốc hội và nhà nước. Nó đại diện cho đông đảo các công ty và các nhà thầu cực lớn, cung cấp máy bay, tàu chiến, súng, bom và mọi thứ hàng cần thiết cho quân đội Mỹ. Trong suốt thời gian của cuộc chiến tranh lạnh, đông đảo các nghị sỹ của cả hai phe đã liên hệ mật thiết với lobby của các công ty này. Trong kỳ tổng tuyển cử 1987 - 1988, những uỷ ban hành động chính trị của các công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng đã ủng hộ trên 7 triệu đô la tiền cứng, tức là tiền ủng hộ trực tiếp cho các cá nhân là ứng cử viên Thượng viện và Hạ viện.

Lobby dầu khí: Sức mạnh chỉ sau lobby công nghiệp quốc phòng. Sau cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990, lobby dầu khí vận động nhà nước có chính sách bao cấp để gia tăng sản xuất dầu khí trong nước nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.

Lobby phục vụ nước ngoài: Những người làm lobby phục vụ quyền lợi của chính phủ nước ngoài phải đăng ký hoạt động với nhà nước Mỹ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Công việc của họ trên hai phương diện: Cố vấn cho chính phủ nước ngoài về chủ trương, chính sách và xu thế của nhà nước Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến hai nước; vận động để Quốc hội và Tổng thống Mỹ theo đường lối hợp với nguyện vọng của chính phủ nước ngoài mà người làm lobby phục vụ. Trong lịch sử và hiện tại, rất nhiều chính phủ là khách hàng của các lobby Mỹ như Trung Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, ăng-gô-la, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Ở Châu Âu, phải nói rằng hoạt động lobby phát triển mạnh mẽ nhất tại Bruxellers (Bỉ). Từ khi Liên minh Châu Âu chọn nơi này làm trụ sở, Bruxellers trở thành “miền đất hứa” đối với các lobbyist, bởi các công ty biết rằng nhất cử nhất động ở đây dều ảnh hưởng tới tương lai, tới chiến lược hoạt động lâu dài của họ. Các lobbyist sẽ hoạt động dưới những cái tên như: văn phòng đại diện báo chí, tư vấn, tìm hiểu thị trường, luật... Theo thống kê, hiện có khoảng 1000 nhà báo nước ngoài, 3000 hãng lobby các loại (văn phòng giao tế nhân sự, đại diện của các doanh nghiệp, liên đoàn nghề nghiệp...) với số nhân viên khoảng 15.000 người. Riêng số lobbyist ở Bruxelles đã tương đương với số nhân viên của EU. Điều này cho ta thấy các doanh nghiệp, các nước quan tâm đến hoạt động lobby như thế nào. Về lý thuyết, thể chế của Châu Âu hoạt động trên cơ sở công khai, mọi quyết định đều phải được 15 nước thành viên với hơn 600 dân biểu thông qua trước bàn dân thiên hạ; nhưng thực tế các cuộc vận động hành lang của các lobbyist có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định này.

Đơn cử như Pháp đã phải trả giá cho việc không quan tâm đến công nghệ lobby là việc hàng đống hồ sơ làm ăn của các công ty Pháp vẫn ằm phủ bụi trên bàn của các quan chức EU. Hay Scheider Electrics lên tiếng rằng học thiệt hại vài tỷ euro vì các quan chức Bruxelles không cho học sát nhập với Legrand vào năm 2001

Người Anh thì rất hài lòng với hoạt động lobby của họ tại Bruxellers. Họ có 2 công ty tư vấn là Hill & Knowton và Busson Marsteller; về luật thì có Cleary Gottlieb, Linklaters.

Qủa là lợi ích do lobby mang lại cực kỳ to lớn do vậy mà ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cu Ba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam…

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các hoạt động lobby nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ.

“Ở khu vực Đông Nam Á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Cam-pu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động lobby ở Mỹ”. Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ được hưởng quy chế “tối huệ quốc”, để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế, thương mại, vấn đề mua vũ khí và kỹ thuật cao của Mỹ… Bên cạnh những hoạt động lobby của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước này cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty đó ở Mỹ

Được biết trong vụ kiện tôm, Thái Lan đã phải chi khoảng 2 tỷ USD cho việc thuê các công ty lobby của Mỹ. Cũng trong vụ kiện bán phá giá tôm, Liên minh tôm miền nam (SSA) và Hiệp hội tôm Lousianna (LSA) ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine còn sử dụng hàng loạt các công ty khác như: Livingston, Jones Walker, Poievent & Denegre để tổ chức các hoạt động lobby nhằm tạo sự ủng hộ trong vụ này.

Hoạt động lobby ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, tại các thành phố lớn, chúng ta đã ít nhiều nghe nói đến hoạt động PR (Public Relations – Quan hệ công chúng), tuy nhiên, các hoạt động lobby còn quá xa lạ và nhiều khi được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Lobby và PR đều là hai hoạt động giao tiếp nhằm tạo nên ảnh hưởng và thay đổi những nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ. Điểm khác biệt ở đây chính là mục tiêu của lobby là nhằm thay đổi chính sách hoặc ảnh hưởng đến việc thay đổi quyết định. Điều này đồng nghĩa với việc người ta có thể sử dụng PR như một công cụ để phục vụ mục tiêu của lobby.

Theo bà Maria Laptev - nhà lobby chuyên nghiệp có hai quốc tịch Anh và Canada – trong một lần trao đổi với báo giới Việt Nam (TBKTVN) – đã chỉ ra rằng công việc lobby chính là phương pháp tiếp cận, cụ thể hơn đó chính là phương pháp tiếp cận một cách có hệ thống giữa hai hay nhiều bên. Theo đó mục tiêu cuối cùng là quá trình xây dựng chính sách. Tuy nhiên, quá trình đưa ra quyết định ở các nước khác nhau lại dựa trên những yếu tố văn hóa rất khác nhau. Và bà cũng khẳng định rằng khía cạnh văn hóa trong lobby là vô cùng quan trọng, quyết định tạo nên một cách tiếp cận hiệu quả hay không. Các quy định hành nghề lobby cần phải dựa trên tính minh bạch và tất cả các lobbyist cần phải biết mình đang đại diện cho ai và vì lợi ích của ai. Tính minh bạch trong lobby là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng lòng tin và tạo ra một nhà lobby chân chính. Để có được một quan hệ có giá trị và bền vững, cả hai bên đều rất rõ ràng và cởi mở về mục tiêu và lợi ích của mỗi bên. Việc xây dựng một hành lang pháp lý đương nhiên phải dựa trên nhu cầu và phải có sự chuẩn bị và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, như thế mới đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng có liên quan. Bà cho rằng thực tiễn của hoạt động lobby tại VN đã có rồi và theo những cách rất riêng, với một hoạt động chưa có những quy định hành nghề thì không tránh khỏi những hiểu sai và cách tiếp cận vấn đề sai. Trước tiên cần phải có những quy định hành nghề đã, còn việc tạo ra những văn bản pháp lý hay bộ luật sẽ là công việc phải làm sau khi công nhận nó là một nghề.

Thực tế, qua vụ kiện bán phá giá cá basa và vụ kiện bán phá giá tôm, các luật gia cho rằng, ý nghĩa đích thực của các hoạt động lobby cần được hiểu rõ để có thể áp dụng. Chúng ta không thể đứng ngoài xu thế hội nhập, và dĩ nhiên để có chỗ đứng ở thị trường nước ngoài, chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam có lẽ đã đến lúc cần phải quan tâm nhiều hơn đến điều này


HTH (http://my.opera.com/hathihong/blog/t)

LOBBY.VN
02-17-2010, 09:36 PM
Doanh nghiệp Việt trong “Thế giới phẳng”


- Trong cuốn “Thế giới phẳng”, cuốn sách gối đầu giường của doanh nhân, chính trị gia và các nhà nghiên cứu quốc tế, thông điệp của Thomas L. Friedman với độc giả là: toàn cầu hoá là xu hướng khách quan, đó chính là quá trình thu hẹp mọi khoảng cách, phá vỡ dần mọi rào cản - quá trình làm phẳng thế giới. Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam (DNVN), cũng đồng nghĩa với việc phải thích nghi với một thị trường toàn cầu với luật chơi quốc tế. Trước khi tận dụng được những cơ hội của toàn cầu hoá, DN phải biết đối phó với những thách thức của quá trình làm phẳng thế giới.

Sai một ly, đi một dặm

Hơn 15 năm làm công tác xuất nhập khẩu khẩu, đã từng đàm phán với các đối tác của hơn 20 quốc gia khác nhau nhưng ông Trần Bình Duyên, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty Dược Trung ương Mediplantex cho đến giờ vẫn không thể quên bài học “xương máu” đối với doanh nghiệp ông trong khi làm ăn với đối tác nước ngoài cách đây không lâu.

Ông Duyên kể, vì tin cậy nên Công ty đã ưu tiên cho một đối tác nước ngoài -tự “lựa chọn” phương thức thanh toán. Lúc đó, đối tác chọn phương thức thanh toán điện chuyển tiền, chứ không thanh toán theo phương thức L/C. Không may, khi thực hiện hợp đồng lớn này, đối tác mất khả năng thanh toán, giá trị hợp đồng lại lên tới hàng triệu USD. Hậu quả là Công ty Dược Trung ương Mediplantex mất quá nhiều thời gian và chi phí cho việc theo kiện và chỉ đòi lại được một phần giá trị hợp đồng.

Có thể thấy, câu chuyện kinh doanh thời hội nhập bây giờ sẽ hoàn toàn khác trước. Nguyên Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan đã từng nói: “DN hội nhập giống như con thuyền ra khơi mà ra khơi phải biết thời tiết sẽ như thế nào? Chính vì thế, DN không chỉ cần thu thập và hiểu rõ thông tin thị trường, bạn hàng, mà còn phải hiểu rõ luật pháp quốc tế, đặc biệt là tập quán kinh doanh, “luật chơi” của nước sở tại nhằm tránh rủi ro“.

Theo ông Emmanuel Moulin, luật sư điều hành của hãng luật Ngo, Miguérès & Associés, khó khăn lớn nhất mà các DNVN gặp phải hiện nay là khả năng thích nghi với thị trường quốc tế. “Lấy ví dụ việc xuất khẩu gạo của VN sang Nga chẳng hạn. Mặc dù Nga chưa gia nhập WTO, nhưng nước này lại áp dụng các qui định nhập khẩu gạo như của WTO. Theo qui định của WTO, bất kỳ nước thành viên WTO nào cũng có quyền quyết định cấm nhập khẩu mặt hàng nào đó, cụ thể là gạo, nếu thấy không an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì thế, khi các DNVN xuất khẩu vào thị trường Nga, cần nắm rõ các qui định này” - ông Emmanuel Moulin nói.

Ý tưởng mới là nhân tố quyết định

Lâu nay, không ít doanh nhân vẫn nghĩ: vốn liếng, công nghệ, mặt bằng, lao động là những yếu tố kinh doanh quan trọng nhất. Nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, những ý tưởng kinh doanh mới lạ, độc đáo còn quan trọng hơn nhiều.

Ví dụ, sau khi 2 hãng nước giải khát có gas lớn của thế giới thâm nhập vào thị trường VN là Cocacola và Pepsi thì sản phẩm có gas của công ty nước giải khát Sài gòn Tribeco không thể cạnh tranh được với sản phảm của 2 hãng này. Một thời gian sau, Tribeco quyết dịnh thay đổi nước uống có gas bằng các đồ uống khác hẳn như: sữa đậu nành đóng chai, các loại nước trái cây.... Và rõ ràng, sự khác biệt này đã giúp Tribeco có chỗ đứng ở thị trường trong nước và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Một ví dụ khác là cho đến thời điểm này, Phở 24 đã là một thương hiệu nổi tiếng của Tập đoàn An Nam. Giám đốc Tập đoàn này, ông Lý Quí Trung đã thành công khi lựa chọn mô hình bán loại đồ ăn giữa phân đoạn quán phở bình dân và nhà hàng sang trọng, điều chưa từng có trên thị trường. Chính sự lựa chọn độc đáo này đã giúp phở 24 có được một thị phần đáng kể, và quan trọng là cho đến giờ vẫn chưa có đối thủ cạnh tranh.

Kinh doanh cũng phải lobby

Với thế giới, thuật ngữ lobby (vận động hành lang) không mới, nhưng còn lạ lẫm với nhiều DN, doanh nhân VN. Thực tế là khi chinh phục thị trường quốc tế, các DN sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là những rào cản thương mại. Những vụ kiện bán phá giá cá da trơn, tôm vào thị trường Hoa Kỳ hay da giày vào thị trường EU... đã dạy cho các nhà quản lý VN rất nhiều bài học quí. Theo Tổng lãnh sự VN tại Francisco (Mỹ) - ông Trần Tuấn Anh, “lobby” cần phải đi trước một bước. Đặc biệt là ở Mỹ, nếu không lobby thì sẽ không bảo vệ được lợi ích của quốc gia, lợi ích của DN. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái lan, Philipin, Mailaysia… đều cho thấy Lobby là công cụ tối quan trọng. “Tất nhiên, lobby có nhiều cách và chúng ta phải làm một cách bài bản và cần phải làm thường xuyên và liên tục cả một quá trình, chứ để xảy ra chuyện bán phá giá hay sự cố, DN mới tiến hành lobby thì chẳng khác gì nước đến chân mới nhảy” - ông Trần Tuấn Anh nói.

Còn ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội thêu đan TP.HCM cho biết: “Liên quan đến cơ chế giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam mà Mỹ hiện đang áp dụng, Hiệp hội dệt may Việt Nam đã có một số hoạt động Lobby, cụ thể là đã gửi một bản điều trần tới Nhóm phụ trách giám sát bên Hoa kỳ; Hiệp hội dệt may VN cũng đã gửi người tham gia điều trần trực tiếp đối với Uỷ ban thương mại Hoa kỳ, chúng ta cũng liên tục thông tin về những bấtt hợp lý của cơ chế giám sát trên phương tiện thông tin đại chúng… Chúng tôi cũng tác động đến Hiệp Hội DN nhập khẩu Hoa Kỳ, và Hội người tiêu dùng Hoa Kỳ để họ hỗ trợ tác động tới Chính phủ Hoa Kỳ trong vấn đề chống giám sát này”

LOBBY.VN
02-17-2010, 09:41 PM
Lobby, một nghề ngoài tầm tay chúng ta ?


Ở Hoa Kỳ, lobby tức là nghề vận động hành lang (VĐHL) được coi là hợp pháp. Chúng ta cứ tập gọi “lóp bi” cho tiện bởi vì nếu dịch ra tiếng Việt rất là dài dòng.

Lương căn bản của nghề này khoảng $47.983/năm. Người ta ước tính hơn 10% trong tổng số những người hành nghề này kiếm nhiều hơn $100.000/năm. Người mới vào nghề tại các công ty tư nhân (private firm) cũng suýt soát gần $40.000/năm.

Theo đài truyền hình PBS gần đây, hiện nay có khoảng 37 ngàn người hành nghề lobby ở Thủ đô Washington.

Có người cho lobby là một hình thức “hối lộ”. Nhận xét này không đúng mà cũng không sai. Bởi vì nếu đúng là hối lộ, chắc chắn những người Mỹ sống bằng nghề này đã bị tù.

Chúng ta thấy Tổng thống Richard Nixon bị buộc phải từ chức về vụ Watergate. Tổng thống Bill Clinton bị thẩm vấn về vụ Monica Lewinski. Gần đây nhất, Thống đốc tiểu bang Illinois, Rod Blagojevich bị Thượng viện bang truất phế vì mưu tính hối mại chức quyền…

Trong khi đó, Tổng thống George H.W. Bush Senior sau khi rời khỏi Tòa Bạch Ốc, ông được công ty Carlyle Group mời làm cố vấn với đồng lương cao. Tưởng cũng nên nhắc lại, tập đoàn Bin Laden của Saudi Arabia có phần hùn trong công ty này. Lúc đó, chính phủ Saudi Arabia đã chi hơn 170 tỷ USD để mua vũ khí của Mỹ qua trung gian Carlyle Group.

Cũng thế, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara sau khi rời khỏi chức vụ, hai tháng sau đó ông được bổ nhiệm chức Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (Work Bank). Vì thế, viên chức cao cấp ở Mỹ không còn giữ chức vụ, chưa phải là hết cơ hội hái ra tiền.

Ở đất nước này, đại đa số viên chức hay những nhà lập pháp đương quyền hầu như không bao giờ họ nhận quyền lợi hay tặng phẩm từ nhóm lobby. Và ai là người cần đến vận động hành lang (lobby) để thông qua luật lệ có lợi cho họ? Thường là những công ty hay tập đoàn đấu thầu các dịch vụ liên quan đến quốc phòng, họ mới bỏ tiền ra trả lương cho những công ty hay văn phòng chuyên về vận động hành lang.

Hiện nay, tổ chức Organizing for America cho biết các công ty bảo hiểm sức khỏe đã bỏ ra hàng trăm triệu đô la để lobby ở Quốc hội và Thượng viện với hy vọng giết chết dự luật cải tổ y tế do Tổng thống Barack Obama đề nghị.

Trong tổng số 37 ngàn người nói trên, sống bằng nghề này, không biết có người Việt Nam nào không. Ngoài ra, cũng có những hình thức lobby khác nữa, có lẽ rất ít người Việt Nam ở Mỹ quan tâm tới

LOBBY.VN
02-25-2010, 07:15 AM
Hé lộ thêm về người từng 'làm mưa làm gió' ở Washington

Nhờ có nhân vật “hảo tâm” này mà nước Mỹ có một nguồn cung cấp dồi dào và ổn định cho các chiến dịch tranh cử, các cuộc du ngoạn tới Caribbe của những nhà lập pháp và các khoản chi phí cho những tổ chức vận động hành lang.

Đó chính là tỷ phú bang Texas R. Allen Stanford, người bị buộc tội gian lận thuế lên đến 8 tỷ USD hồi năm ngoái.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images1926792_thutrang.jpg
Allen Stanford (trái) và Barack Obama khi còn là Thượng nghị sĩ


Theo hồ sơ, nhà tài phiệt người Mỹ này cùng với các chi nhánh của công ty mình đã bỏ ra hơn 5 triệu USD để trả các khoản phí cho hoạt động vận động hành lang từ năm 2002.

Vị doanh nhân này và ban lãnh đạo công ty cũng đã đóng góp ít nhất là 2 triệu USD cho các ứng cử viên bao gồm các nhà lập pháp chủ chốt và thêm hàng ngàn đôla hỗ trợ chi phí máy bay và nghỉ ngơi tại các khu nghỉ dưỡng.

Từ các cuộc phỏng vấn với những chuyên gia vận động hành lang thì mục tiêu chính của Stanford trong mấy năm qua là giảm tối đa các khoản thuế phải nộp tại Sở Thuế vụ (IRS).

Cũng theo những người này, trong vài năm vừa qua, Stanford đã chuyển đến St. Croix ở Virgin Islands vận động hành lang để bảo vệ và mở rộng thêm các quy định về thuế nhằm cho phép ông này chỉ phải nộp thuế thu nhập ở mức tối thiểu của liên bang.

Trong khi đó, các đồng minh của ông này tại Quốc hội cũng đã cố gắng để lo liệu việc “tấn công” vào các quy định, tuy nhiên cho đến nay những nỗ lực đó đã không thành công.

Trong số những người nhận được sự “hào phóng” của Stanford có Chủ tịch Ủy ban Tài chính và Thuế vụ Charles Rangel. Rangel là người đã có chủ trương ủng hộ chính sách nới lỏng thuế đối với những cư dân ở Virgin Islands trong một thời gian dài.

Trong năm 2007, Rangel đã đưa ra một dự luật nhằm thi hành một quy chế là giới hạn việc giám sát của người dân với những khoản thuế thu nhập đã nộp. Cũng năm đó, Rangel đã tới Antigua tham dự một hội nghị nhằm phát triển các quỹ tài trợ của Stanford.

Và đến năm 2008, Rangel được trao tặng một phần thưởng hậu hĩnh là 28.300USD. Tuy nhiên, ông Rangel khi được hỏi đã nói rằng: “Tôi đã gặp Stanford vài lần, người này không bao giờ trao đổi về bất kỳ vấn đề pháp lý nào với tôi và cũng chưa từng có đại diện nào của ông ta bàn tới các vấn đề này”.

Vào năm 2002, Stanford đã ký hai tờ séc trị giá 250.000USD gửi cho đảng Dân chủ. Ông này cũng là một nhà tài trợ cỡ bự cho Gregory Meeks, một thành viên của Ủy ban Dịch vụ tài chính nhà đất chuyên giao dịch với các ngân hàng nước ngoài.

Gregory đã nhận được một khoản ước tính khoảng 17.600USD từ một quỹ quyên góp do Stanford đứng đầu được tổ chức tại Virgin Islands vào tháng 7. Theo những thông tin tài chính được tiết lộ, chiến dịch của Meeks sau đó đã hoàn trả cho các nhà tổ chức sự kiện 3.591USD phí thực phẩm và đồ uống.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images1926817_Sir_Allen_Stanford___.jpg
Tỷ phú Allen Stanford

Từ năm 2003 đến năm 2006, cứ đến tháng Giêng là Meeks cùng vợ lại có một chuyến “công tác” đến Caribbe. Theo hồ sơ liên bang cung cấp, những chuyến đi đều đã được chi trả thông qua hội đồng kinh tế các nước Bắc - Nam Mỹ, một tổ chức mà nhân vật đứng đằng sau không ai khác chính là Stanford.

Chuyến công tác đầu tiên với mục đích là “thâm nhập thực tế”, chuyến đi tiếp theo là để tham dự hội nghị bàn tròn giữa các doanh nghiệp. Trong các chuyến đi này, chi phí khách sạn và những bữa ăn lên đến hơn 2.000USD. Và có ít nhất 1 lần, việc đi lại là do máy bay của Stanford đảm nhận.

Chính ông Meeks từng nói: “Tôi chỉ có thể nói rằng Allen Stanford luôn luôn đối xử với tôi rất công bằng, tử tế và thẳng thắn. Tôi không hiểu chuyện điều tra này là về cái gì, nhưng nếu có ai hỏi tôi về người này, thì tôi xin nói rằng, đây là một người giàu có và tốt bụng luôn luôn giúp đỡ mọi người".

Theo hồ sơ vận động hành lang, tập đoàn tài chính Stanford còn tặng 10.000USD cho đại hội bóng chày vào tháng 7, một sự kiện được tổ chức hàng năm nhằm quyên góp cho các họat động từ thiện.

Cũng theo hồ sơ này, trong danh sách những người ủng hộ Standford còn có chuyên gia vận động hành lang và gây quỹ của đảng Dân chủ ở bang Texas, Ben Barnes, với chi phí lên tới 1,125 triệu trong suốt hơn 2 năm qua.

Trong quá trình vận động hành lang cho tập đoàn tài chính Stanford, Barnes cho biết ông làm việc vì mục tiêu “phát triển kinh tế cho Caribbe, đặc biệt là Virgin Islands”. Luật thuế mà Stanford vận động hành lang cho phép người dân ở Virgin Islands chỉ phải nộp thuế ở mức 3,5% và được giải thích rằng đây là một biện pháp phát triển kinh tế cho vùng đất này.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông Banes đã nói rằng, ông đã hỗ trợ cho Stanford trong việc thiết lập một mối quan hệ với văn phòng chính phủ Washington về rất nhiều vấn đề phát triển kinh tế khác nhau ở Caribbe.

Trong số những vấn đề đó, ông cho biết, Stanford đã không thành công trong việc thay đổi các quy định về thuế thu nhập từ nước ngoài của mình, bao gồm cả mức thuế suất thấp áp dụng cho cư dân đảo Virgin.

Ông Barnes cũng cho biết thêm, ông không hề có mối liên hệ nào đến các hoạt động kinh doanh của Stanford, mặc dù ông và Stanford đã làm bạn với nhau hơn 20 năm rồi.

Stanford đang chống lại án phạt của IRS về số tiền thuế phải hoàn lại lên tới hơn 20 triệu USD và hình phạt cho những vi phạm trong năm 2000 và 2001, theo tài liệu trong hồ sơ thuế tại Tòa án Thuế vụ ở Washington, DC.

IRS cũng đang truy thu tiền thuế từ khoản lợi nhuận 150 triệu USD mà Stanford thu được từ Ngân hàng Quốc tế Stanford trong 2 năm đó. Larry Campagna, luật sư của ông, cho biết rằng, thân chủ của mình chống lại những lời buộc tội kia.

Một trong những người được hưởng sự ưu đãi nhiều nhất từ Stanford là Thượng nghị sĩ Bill Nelson với số tiền 43.000USD và nghị sĩ Pete Sessions với 39.000USD. Nelson nói rằng, ông sẽ tặng số tiền đó cho quỹ từ thiện.

Còn ở cấp bang, người nhận trợ giúp lớn nhất từ Stanford là cựu Thống đốc bang California Gray Davis. Stanford đã hỗ trợ cho chiến dịch năm 2002 của ông này 200.000USD và thêm 100.000USD để giúp ông ta tái đắc cử trong lần bỏ phiếu năm tiếp theo.

Cả hai ông Sessions và Davis đã không hề có bất kì phản ứng nào khi được yêu cầu đưa ra ý kiến của mình trước giới truyền thông.

Minh Thu (theo Wall Street Journal)

LOBBY.VN
02-28-2010, 01:47 PM
Lobby không phải là chiếc bùa hộ mệnh trong vụ kiện cá tra


'Tôi không khẳng định việc VN thất bại trong vụ kiện cá basa là không sử dụng lobby mà tôi khẳng định VN không thể thắng kiện dù có dùng lobby. Vấn đề là ta phải dùng lobby để dàn xếp vụ việc ngoài toà án, tìm phương thức giải quyết cho các bên đồng có lợi''

TS. Thành cho rằng, tính đến thời điểm này, các DN Việt Nam đã "không còn phương pháp nào khác để thay đổi cục diện, dù chúng ta có bỏ ra 10 triệu USD để thuê luật sư, vì không tổng thống, bộ trưởng nào dám chống lại chế độ phổ thông đầu phiếu". Vậy, yếu tố lobby đóng vai trò như thế nào trong vụ kiện? Trên thế giới, đã có những vụ kiện nào mà bên bị giành thắng lợi nhờ vận động hành lang? TS. Bùi Tiến Thành sẽ giúp độc giả hiểu hơn về vai trò quan trọng của yếu tố này trên mạng VietNamNet.

Buổi bàn luận trực tuyến về vụ kiện cá tra, basa với Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản kiêm Chủ tịch VASEP Nguyễn Thị Hồng Minh sẽ tạm hoãn, do sáng nay, lãnh đạo ngành thuỷ sản sẽ báo cáo lên Chính phủ về diễn biến vụ kiện.

Sau đây là nội dung cuộc tranh luận

Hoàng Dương - Nam 34 tuổi - TP.HCM

- Nhiều người cho rằng, ở Mỹ, hình thức để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá tốt nhất là nên thuê lobby (vận động hành lang). Có phải tại Việt Nam thiếu kinh nghiệm trong việc này nên nhiều khả năng chúng ta sẽ thua trong vụ kiện cá tra, basa không ?

- Có thể nói không chỉ vụ kiện cá basa mà còn rất nhiều vụ tranh chấp khác ở Mỹ có thể tránh ra toà an để xử lý mà có thể dàn xếp tốt qua sử dụng lobby. Ví như vụ cá basa, khởi đầu từ 9/2001 bằng một dự luật do các đại biểu miền Nam nước Mỹ trình QH để tránh dùng từ Catfish cho việc mua bán cá basa trên thị trường MỸ. Vì đâu mà các ĐB QH Mỹ lại có hành động này? Chính vì họ đã bị áp lực của các lobby của tập đoàn nuôi cá da trơn của Mỹ buộc họ phải có tác động tới QH Mỹ ra nghị quyết cản trở nhập cá basa vào Mỹ. Như vậy, khởi thuỷ việc khởi kiện cá basa là do tác động của lobby để bảo về quyền lợi kinh tế của hiệp hội nuôi catfish ở các tiểu bang Mississipy, Lousiana, Askansa, Alabama. Các Đb Qh Mỹ, nhất là Hạ viện phải ra ứng cử theo định kỳ 2 năm một lần thì phải rất thận trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cử tri đơn vị mình. Thắng thua trong việc bầu cử của Mỹ chỉ có khoảng cách vài nghìn hay vài trăm phiếu, ví như trường hợp của ông Bush chỉ thắng Al Gore trên dưới 300 phiếu ở bang Florida. Vì vậy các ĐB các tiểu bang miền Nam kể trên không thể không bênh vực cho quyền lợi của các tập đoàn nuôi cá catfish. Nói rộng ra, cả TT Bush cũng không thể không quan tâm đến những lá phiếu của cộng đồng nuôi cá catfish vì trong năm nay đã bắt đầu khởi sự việc tranh cử TT sẽ được thực hiện trong năm tới.

Lê Vân - Nam 32 tuổi - quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

- Tôi không nghĩ cứ sử dụng lobby là chúng ta đã thắng lợi, vì số nghị sĩ Mỹ ủng hộ các DN Việt Nam không nhiều, và họ conf lo giữ cái ghế của mình. Vậy, song song với lobby, chúng ta cần sử dụng biện pháp nào khác nữa?

- Sử dụng lobby không phải chỉ để ảnh hưởng đến các nghị sĩ ủng hộ cho DN Việt Nam. Trong trường hợp cá basa và trong bối cảnh hiện nay, việc dùng lobby để tạo sức ép không còn kịp thời nữa, nhưng ta có thể dùng lobby để tạo điều kiện thương thảo với tập đoàn nuôi catfish, tức là tập đoàn đương đơn kiện VN. Mục đích ở đây là tạo một hoàn cảnh mới để có thể giải quyết vấn đề ngoài cách quyết định của tòa án. Hiện nay, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ còn đến ngày 31/7 để ra quyết định cuối cùng về việc nhập cá basa vào Mỹ có tác động tới quyền lợi của cộng đồng người nuôi catfish ở Mỹ hay không. Nếu không có dữ kiện gì mới, chắc chắn Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (USITC) sẽ có quyết định xác định án lệnh của Bộ Thương mại Hoa Kỳ

Như vậy, sự kiện mới mà ta có thể đề xuất là gì? Làm sao có thể bảo vệ được quyền lợi của cộng đồng nuôi catfish Mỹ đồng thời xuất khẩu được cá basa sang Mỹ? Phía VN có sáng kiến gì để hai bên cùng có lợi? Ta có thể đưa những đề xuất gì mà phía Mỹ bắt buộc phải quan tâm, vì quyền lợi kinh tế của cộng đồng nuôi catfish Mỹ. Với những sáng kiến đấy, tổ chức lobby có thể giúp cho VN thương thảo với tập đoàn nuôi cá nheo Mỹ; đồng thời, đề xuất với USITC cách giải quyết thích hợp

Hoàng Bảy - Nam 54 tuổi - Châu Đốc, An Giang

- Xin hỏi một câu riêng tư, tại sao ông lại quan tâm đến vụ kiện này, từ bao giờ? Theo cá nhân ông, nếu sử dụng yếu tố lobby ngay từ đầu, liệu chúng ta có thắng kiện? Nếu chúng ta đã gia nhập WTO, cơ hội thắng có nhiều hơn không?

- Tôi đã quan tâm đến vấn đề cá basa ngay từ tháng 9/2001 khi các ĐB QH miền Nam nước Mỹ đưa ra các nghị quyết ngăn cản việc nhập khẩu cá basa vào Mỹ. Tôi đã có trình bày một số ý kiến cho các nhà lãnh đạo VN và đã có đề xuất việc sử dụng lobby để tìm giải pháp tránh các vụ kiện mà chúng ta không thể thắng được. Như mọi người đều biết, các vụ kiện trước Bộ Thương mại Mỹ kết quả hơn 90% đều nghiêng về phía Mỹ. Vì vậy thay vì lao mình vào "cõi chết" ta nên tìm con đường sống bảo vệ quyền lợi của ta và đồng thời tạo điều kiện cho cả đối phương đồng có lợi. Bên Mỹ thuật Mỹ gọi là (Win - Win Situation: Mọi người đều thắng không có kẻ bại).

Việc gia nhập WTO không có ảnh hưởng gì đến kết quả của vụ tranh chấp này. Các bạn còn nhớ cách đây không lâu Mỹ đã đánh thuế 30% lên sắt thép của Châu Âu xuất qua Mỹ, bất chấp công ước quốc tế và những điều khoản của WTO. Tuy rằng, Mỹ bị xử phạt rất nặng nhưng Mỹ không hề lui bước trước việc đánh thuế để bảo hộ cho ngành sắt thép của mình.

Thanh Hảo - Nữ 26 tuổi - haotran1012@yahoo.com

- Thưa ông, đến thời điểm này, khi DOC đã ra quyết định với mức thuế cao như vậy, liệu các Việt Nam có lật lại được thế của mình hay không? Chúng ta có thể trông chờ gì từ phán quyết cuối cùng của Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ ITC?

- Nếu các DN VN cứ việc tiếp tục với phương thức kiện cáo hiện nay thì không có một gải pháp nào tránh quyết định của USITC, và lật lại được thế của mình. Khả năng duy nhất là tìm phương thức thương lượng, tuy rằng đã quá trễ. Làm thế nào để đưa ra cho phía Mỹ một đề xuất mà người ta không thể từ chối được hay là người ta bắt buộc phải quan tâm, ví dụ: Trong cuộc chiến này, quyền lợi của cộng đồng nuôi catfish Mỹ là yếu tố chính, vậy ta có phương thức gì để phát huy quyền lợi của cộng đồng này, đồng thời, bảo vệ hay phát huy quyền lợi cảu cộng đồng người nuôi cá basa VN? 4 tiểu bang Missisisipi, Loussiana, Arkansas, Alabama có rất nhiều con sông lớn, không kém gì Tiền Giang, Hậu Giang của Việt Nam, hoàn toàn có thể phát triển nuôi cá basa được.

Ví thử, Việt Nam đề xuất với phía Mỹ rằng hai bên sẽ hợp tác với nhau đề phát triển nghề nuôi cá basa trên sông Missisisipi, Missouri, Tennesi và xuất khẩu sản phẩm này ra khắp thế giới với thương vụ lên hàng tỷ USD, thì liệu phía Mỹ có quan tâm hay không? VN có khả năng xuất khẩu kỹ thuật nuôi và liên doanh đầu tư với Mỹ, phát triển, tạo công ăn việc làm cho một số lớn lao động Mỹ trong vùng bị ảnh hưởng trong vụ kiện này.

Thanh Thu - Nữ - mthu74@yahoo.com

- Thua ong, trong tra loi phong van cua VietNamNet, ong to ra la nguoi kha am hieu ve lobby? Vay, ong co the cho vi du ve nhung vu kien chong ban pha gia nao ma ben bi gianh thang loi, trong do, chu yeu la nho van dong hanh lang?

- Lobby không phải để thắng kiện mà là để dàn xếp tránh thua kiện. Ví dụ như các tập đoàn công nghệ ôtô Nhật trong những năm 70, 80 bị các tập đoàn công nghệ ôtô Mỹ chuẩn bị ngăn chặn việc nhập ôtô Nhật vào Mỹ vì lúc đó Nhật đã chiếm gần 20% thị trường hơn 10 triệu xe ôtô của Mỹ, khiến các tập đoàn công nghệ ôtô Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản. Nhật đã dùng phương thức lobby để một mặt thương thảo với các tập đoàn ôtô Mỹ để tự giới hạn mức xuất khẩu ôtô vào Mỹ; mặt khác tác động dư luận người tiêu dùng Mỹ về lợi ích của nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường để hiện đại hoá công nghệ ôtô của Mỹ và đưa đến những giá bán hợp lý đối với người tiêu dùng. Phương thức này đã tránh được cho các đại biểu Mỹ sức ép của các tập đoàn kinh tế Mỹ và tránh cho hành pháp Mỹ phải xử lý một sự tranh chấp mà hai bên đều có thể bị thiệt hại. Vì vậy, lobby đã đưa ra những sáng kiến để đi đến một giải pháp hai bên cùng có lợi mà người tiêu dùng trên thị trường Mỹ là người có lợi cuối cùng.

Hải Lý - Nữ 40 tuổi - Ho Nai - Thong Nhat - Dong Nai

- Trong trường hợp phía Mỹ vẫn đưa ra quyết định bất lợi cho phía Việt Nam, ngành thuỷ sản cũng như các DN làm thế nào để hạn chế thấp nhất mức thiệt hại, đặc biệt là đời sống của hàng trăm nghìn hộ nuôi cá tra, basa ở ĐBSCL?

- Quyết định áp dụng thuế biểu trừng phạt đối với VN sẽ có giá trị trong thời hạn 5 năm. Nếu Mỹ áp dụng quyết định này thì số lượng nhập khẩu cá basa vào Mỹ sẽ bị hạn chế, nhưng không phải là bị tắc nghẽn. Phía VN, một mặt, cần phải xây dựng và phát huy những thị trường khác, như Âu châu, Nhật Bản, Hongkong, Trung Quốc... Mặt khác, tổ chức vấn đề tiếp cần với thị trường Mỹ một cách có hiệu quả hơn, vì cá basa có thể bán trên thị trường với giá cao hơn mức giá hiện tại. Tuy sẽ bị ảnh hưởng mức thuế quan nhưng cá basa được đánh giá là sản phẩm chất lượng cao. Ở NewYork, có nhiều nhà hàng bán một đĩa cá basa với giá 20 USD, tương đương với giá cá hồi từ NaUy hay các nước khác.

Về đời sống của đồng bào ĐBSCL, vấn đề là tìm nguồn ra cho sản phẩm, tuy thị trường Mỹ rất lớn, nhưng đến nay, lượng xuất qua thị trường Mỹ chỉ vào khoảng 60-70 triệu USD. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải phát huy các thị trường khác.

Nguyen Trung Tin - Nam 30 tuổi - TP BMT

- TS khẳng định rằng VN thất bại trong vụ kiện cá basa là do không sử dụng yếu tố lobby,là một chuyên gia kinh tế cao cấp Ông nghĩa gì khi đề nghị sử dụng lobby không dược các nhà lãnh đạo VN sử dụng,có phải là " Con đâu không biết tìm thầy thuốc" trong khi thấy trong nhà mình.

- Tôi không khẳng định việc VN thất bại trong vụ kiện cá basa là không sử dụng lobby mà tôi khẳng định VN không thể thắng kiện dù có dùng lobby. Vấn đề là ta phải dùng lobby để dàn xếp vụ việc ngoài toà án, tìm phương thức giải quyết cho các bên đồng có lợi. Vì nhà nước Mỹ không thể xử cho VN thắng được trong cơ chế phổ thông đầu phiếu hiện nay, ĐB QH cũng như Tổng thống và dưới Tổng thống là các bộ, ngành phải bênh vực cho quyền lợi cử tri của họ. Dùng lobby là để tránh áp lực của các tập đoàn lobby khác đối với các nhà cầm quyền Mỹ có trách nhiệm phải giải quyết vụ tranh chấp.

Về việc sử dụng lobby ở Mỹ là một khái niệm còn mới mẻ đối với lãnh đạo VN, cho nên việc này cần phải có thời gian để tìm hiểu. Tôi mong rằng qua sự việc cá basa này, vai trò của các tổ chức lobby Mỹ sẽ được sáng tỏ hơn. Hiện nay tại Washington có thể nói rằng không có một quốc gia nào không sử dụng lobby để phát huy hay bênh vực quyền lợi của mình trong chính trường cũng như thương trường Mỹ. Nói rộng ra, lobby không chỉ là phương tiện dành riêng cho các chính phủ mà cho tất cả các tổ chức kinh tế XH để bênh vực hay làm rõ quan điểm và quyền lợi của mình đối với chính quyền cũng như đối với dư luận.

Bảo Quyên - HN - Nam

- Đến thời điểm này, DN Việt Nam có thể làm gì để cứu vãn tình hình? Liệu giải pháp khôi phục thị trường cũ có đảm bảo cho chúng ta tiêu thụ hết số cá đang vào kỳ thu hoạch hiện nay không, trong khi thị trường Mỹ chiếm gần 1/2 lượng cá tra xuất khẩu của Việt Nam?

- Vấn đề phát triển thị trường là trách nhiệm của các DN VN. Thị trường cũ hay thị trường mới đều cần phải phát huy mạnh mẽ, không nên chỉ bị ám ảnh bởi thị trường Mỹ. Ta không nên bỏ tất cả trứng của ta vào một rổ, cũng như ta không nên tập trung vào một nhà cung cấp hay một thị trường cho bất cứ một sản phẩm nào.

Bui Tuong Vu - Nam 30 tuổi - 84T/4 Trần Đình Xu - Q1

- Thưa ông, thiệt hại của nông dân và nhà XK thuỷ sản là có thật. Nhưng theo tôi, vẫn có một số lợi ích khác cho VN qua vụ kiện này (dù thắng hay thua). Ông có cho là có một số lợi ích? Theo ông đó là gì?

- Qua vụ kiện này, VN sẽ làm quen với cơ chế của Mỹ và những phương thức để giải quyết các vụ tranh chấp về kinh tế. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ gồm 50 tiểu bang độc lập, mỗi tiểu bang có luật lệ riêng mà ta cần phải thấu hiểu. Mỗi khi đi vào một thị trường mới, ta phải nắm vững các điều kiện pháp lý cũng như các phương thức để bảo vệ quyền lợi của mình.

Tôi thấy rằng về khía cạnh phát triển thương mại, VN quan tâm đến vấn đề "tiến" mà chưa quan tâm đầy đủ về mặt "thủ". Dẫn quân đi mà chưa tổ chức tốt để bảo vệ đường tiến cũng như lui của mình.

Hoàng Hà - Nam 32 tuổi - TP.HCM

- Thưa ông, ông đã theo dõi vụ kiện từ lâu và biết rõ tầm quan trọng của yếu tố lobby trong việc giải quyết tranh chấp vụ kiện cá tra, basa. Tại sao ông không kiến nghị hoặc gửi ý kiến của mình đến Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) - đại diện cho các DN VN trong vụ kiện, để giúp họ?

- Trong vụ việc này, tôi đã gặp và làm việc trực tiếp với lãnh đạo Bộ Thuỷ sản từ ngày đầu và đã có đề xuất một số ý kiến, nhưng tôi không có quan hệ với Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản VN (VASEP).

Bùi công tuyến - Nam 29 tuổi - thanh xuân bắc thanh xuân Hà Nội

- Trong vụ kiện này thực chất chúng ta không bán phá giá? Sản phẩm cá tra không được Nhà nước bảo hộ? Vậy các phán quyết của Bộ Thuơng mại Mỹ dựa vào đâu. Ong có nhận xét gì về quyết định này?

- Phán quyết của Bộ Thương mại Mỹ là dựa vào việc phải bảo vệ quyền lợi của cộng đồng nuôi catfish Mỹ, dù VN có bán phá giá hay không, bất chấp tất cả các vấn đề hay dữ kiện VN có thể đưa ra để chứng minh cho quan điểm của mình. Do đó, vụ kiện này là đã thua ngay từ ngày đầu. Có thể nói là chúng ta đi đấu bóng trên sân khách mà vừa trọng tài biên, trọng tài chính và luật chơi đều do phía đối phương đề ra.

Một trong những hậu quả của vụ kiện này là phía Bộ Thương mại đã thiết kế một tài liệu để "chứng minh" rằng VN là một nền kinh tế phi thị trường (non-market economy). Việc này có ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực khác của VN. Trong tương lai, nếu có xảy ra những vụ tranh chấp như lĩnh vực hàng may mặc với giá lao động VN thấp, thì ta có thể bị liệt vào nền kinh tế phi thị trường và sẽ bị áp dụng những biện pháp hay án lệnh không khác gì với vụ cá basa. Đây là một nguy cơ lớn cho việc phát triển thương mại VN qua thị trường Hoà Kỳ

LOBBY.VN
03-01-2010, 04:19 PM
Có phải các liên doanh xe máy giỏi "lobby" ?


Bộ Công nghiệp vừa kiến nghị Chính phủ không hạn chế việc thành lập các công ty sản xuất, lắp ráp xe máy. Một số doanh nghiệp tỏ ra nghi ngờ, liệu có phải các liên doanh xe máy giỏi "lobby" (chạy chính sách) để chiếm giữ thị trường béo bở ở thời điểm tốt nhất, đến nay thị trường gần như bão hoà mới "nhả ra"?

Điều kiện không dễ dàng ?

Bên cạnh việc bỏ tỉ lệ khống chế nội địa hoá bắt buộc, có thể nói, các quy định cho sự phôi thai DN sản xuất, lắp ráp xe máy ra đời tại thời điểm này không hề lơi lỏng. Những điểm rất mới và rất chặt trong quyết định này là: DN phải đáp ứng các quy định cụ thể như “xe máy sản xuất, lắp ráp trong nước phải được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và đăng kiểm chất lượng theo quy định của pháp luật”.

Các DN sản xuất, lắp ráp xe máy và động cơ xe máy phải có chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 phiên bản 2000 cho hệ thống sản xuất, lắp ráp xe máy và động cơ xe.

Ngoài ra, nếu đầu tư lớn cho sản xuất, thì liệu có thu hồi vốn trong 10 năm ?

Ông Đinh Quang Tuấn, Giám đốc marketting, Công ty liên doanh Yamaha cho biết, chi phí cho một mẫu xe mới gia nhập thị trường là trên 2 - 3 triệu USD. Thời gian nghiên cứu thị trường cũng mất ít nhất là 3 năm. Chẳng mấy DN nội địa dám chi ra khoản tiền khổng lồ đó mà chưa biết thắng thua ra sao. Trong khi với những đại gia liên doanh có công ty mẹ khổng lồ, vài triệu USD chẳng thấm vào đâu.

Đầu tư cho sản xuất, lắp ráp xe máy phụ thuộc lớn vào đầu tư, làm chủ công nghệ, mẫu mã. Phải sở hữu một năng lực dồi dào về nghiên cứu, phát triển mẫu mã, trong khi đó các DN nội địa thì hầu như chưa có nhiều kinh nghiệm.

Cho dù quy định có nới lỏng thế nào, thì thị phần của các liên doanh cũng sẽ không bị ảnh hưởng, vì bây giờ quy định có mở ra, thoáng hơn, thì không phải ai cũng làm được. Khó có DN nào có thể qua mặt được các liên doanh. DN nội địa gần như không có cơ hội phát triển nữa.

Thị trường, khách hàng đã thể hiện rõ sự lựa chọn của họ. Trong khi các DN nội địa sống dở chết dở, thì vừa qua, Yamaha cũng mới tăng công suất. Còn Honda cũng không giảm sút doanh số khi các mẫu xe mới liên tục được thị trường chấp nhận, còn các đại lý thường nâng cao giá bán hơn giá niêm yết mà vẫn bán được hàng.

Hiện nay, chỉ có Honda đã xuất khẩu được xe máy, Yamaha xuất khẩu một số chi tiết sang Nhật Bản. Về dự định tương lai, các liên doanh chú trọng chuyên môn hoá. để tận dụng hết công suất dây chuyền.

Một chuyên viên trong lĩnh vực ô tô, xe máy của Bộ Công nghiệp, cho biết, đến thời điểm này cũng chưa nhận được thông tin gì về việc liệu có đại gia sản xuất xe máy nào sẽ gia nhập thị trường nay mai hay không.

Doanh nghiệp nội đầu hàng vô điều kiện ?

Ông Minh, Giám đốc Công ty sản xuất lắp ráp xe máy Lý Hồng Kinh, cho rằng, với năng lực nội tại hạn chế, các DN trong nước chỉ biết đứng nhìn. Bằng chứng là hiện tại, trong số 52 DN được cấp phép sản xuất lắp ráp xe máy, nhiều DN có đầu tư lớn cũng còn chỉ tính đến chuyện “thu dọn” sản xuất, rút vốn về.

Theo ông Minh, thị trường xe máy đã sắp bão hoà, cùng lắm chỉ còn vài năm nữa thôi. Mà DN xe máy nội địa thì không còn ăn thua nữa rồi. Các DN đã nản, không muốn đầu tư thêm nữa. Thậm chí có DN rao bán cổ phần, cổ phiếu để thu hồi vốn về.

Ngoài ra, có khá nhiều DN đang nợ thuế nhập khẩu vài trăm tỷ đồng. Có DN nợ đến 700 tỷ. Bây giờ muốn nhập phải qua các công ty con, vì nếu nhập trực tiếp, sẽ bị hải quan thu giữ.

Bây giờ có những chiếc xe máy bán ra chỉ có 3,7 triệu đồng. Chưa tính được cụ thể chi phí, hao hụt, nhưng lỗ tương đối.

Một cựu lãnh đạo của Công ty Sản xuất XNK xe đạp xe máy Hà Nội (Lixeha) thừa nhận thực tế, hiện giờ các công ty chuyên gia công, sản xuất phụ tùng cũng không muốn hợp đồng với các DN xe máy trong nước, do yêu cầu kỹ thuật không giống ai. Nếu như các liên doanh, yêu cầu phụ tùng có kích cỡ, khuôn mẫu chuẩn và thống nhất, thì không ít DN Việt Nam lại yêu cầu phải nới ra, nới vào để làm các loại xe nhái, nhiều khi DN gia công lại bị phạt.

Ông Đinh Quang Tuấn, cho rằng, bây giờ DN thành lập mới cũng khó lòng tồn tại. Vì chưa có cơ sở sản xuất, đầu tư cho thương hiệu. Ngay các DN nội địa, đã thành lập từ lâu, hơn 50 DN đến nay cũng chỉ còn hơn chục DN tồn tại, sản xuất cầm chừng.

Không đồng tình với nhận định thị trường sắp bão hoà, ông Tuấn dự báo, thị trường còn khai thác được khoảng 10-15 năm nữa. “Ngay cả các nước phát triển hàng trăm năm rồi, họ vẫn phát triển công nghiệp ô tô, xe máy. Vấn đề là họ có thị trường, có thương hiệu và được khách hàng tín nhiệm”.

Các liên doanh giỏi “lobby” ?

Dư luận nghi ngờ, liệu có phải các liên doanh xe máy giỏi "lobby" để chiếm giữ thị trường béo bở ở thời điểm tốt nhất, để đến khi thị trường gần như bão hoà, các DN khác mới được vào cuộc? Với điều kiện cũng không dễ dàng gì.

Một số DN sản xuất lắp ráp xe máy trong nước cũng than thở rằng, các liên doanh khi nhập khẩu linh kiện cũng thực hiện thông quan nhanh chóng hơn.

Tuy nhiên, một chuyên viên Bộ Công nghiệp cho rằng, lý do mở cửa cho DN xe máy tại thời điểm hiện nay là chuẩn bị cho hội nhập WTO, có muốn cũng không thể tạm dừng thành lập DN mới được mãi. Còn lý do trước đây tạm dừng một phần là do ngành sản xuất này chưa có một chiến lược phát triển cụ thể, mục tiêu rõ ràng.

Ông Đinh Quang Tuấn khẳng định: "Không có chuyện đó, các DN nước ngoài không thể làm như vậy, vì đó không phải là tính cách của họ".

“Ngay 52 DN trong nước đã được cấp phép, họ không phát triển mạnh lên để khẳng định mình, mà tự mình “chết” thì không thể nói là có sự ưu ái dành cho các liên doanh". Một chuyên gia trong lĩnh vực này nhận xét

LOBBY.VN
03-01-2010, 04:28 PM
Câu Chuyện Của Một Người Lobby

Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt Virginia Foote nói rằng trong cuộc vận động cho quy chế PNTR, một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất chính là các cựu binh Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Bên cạnh những người như TNS Kerry, TNS Mc Cain, hay cựu Đại sứ Mỹ tại VN Peterson, có một nhân vật mà chúng ta không thể không nhắc đến: Đó là “ông Mỹ An Nam” Andre Sauvageot, người đã đóng góp rất tích cực trong quá trình bình thường hoá quan hệ hai nước từ cuối những năm 80. Để giúp độc giả hình dung được phần nào công việc “vận động hành lang”, cũng như những cách “người Mỹ lobby người Mỹ”, được thể hiện rất ấn tượng qua hai bài phát biểu của TNS Max Baucus, chúng tôi xin đăng tải câu chuyện Andre Sauvageot vận động Quốc hội Mỹ tạm dỡ bỏ Tu chính án Jackson-Vanik hàng năm suốt từ 1997 đến 2002, được ông kể lại với SGTT trước khi trở về Mỹ tiếp tục vận động cho PNTR.

Lobby đối tượng trung dung

Theo tôi trong khi vận động cũng không nên để ý đến những phần tử cực đoan, vì rất khó thuyết phục họ thay đổi chính kiến, vả lại số này cũng chiếm thiểu số thôi. Đối tượng chính là những nhân vật trung dung, có thể ngả sang bên này hoặc bên kia, bằng cách cung cấp thông tin và bày tỏ thiện chí với họ. Đối với những người ủng hộ mình thì càng không cần phải vận động, qua việc làm của mình đối với đối tượng thứ hai là đã củng cố thêm niềm tin cho họ rồi.

Cũng phải nhớ một điều rằng khi sa vào tranh luận kéo dài, phản ứng thái quá với những đối tượng cực đoan, quan điểm của anh cũng dần trở nên cực đoan thông qua những đòn “ăn miếng trả miếng”, và chính điều đó lại gây bất lợi về mặt tâm lý đối với những thành phần lưng chừng. Trong mọi chuyện, số đông là quyết định, và chỉ có thể thắng với đa số ủng hộ, chứ không bao giờ thắng tuyệt đối cả!

Tôi hay kể cho họ nghe những câu chuyện thực tế, bởi đối với người Mỹ, những câu chuyện về những cá nhân cụ thể có sức thuyết phục hơn nhiều so với những đường lối, chính sách tuyên truyền chung chung.

Sự vị tha của anh xích lô

Đó là người đạp xích lô luôn chở tôi đi chỗ này chỗ kia khi tôi mới làm cho Văn phòng đại diện của General Electric tại Việt Nam vào đầu năm 1993. Khi đã thân hơn, tôi mời anh ta đi uống cà phê, và anh ta (quê Nam Định) kể rằng bố anh đã bỏ mẹ anh, một người phụ nữ rất chịu thương chịu khó, để lấy một người phụ nữ trẻ hơn. Bà mẹ vẫn ở vậy nuôi con, nhưng rồi B52 đã thả bom giết người mẹ của anh.

Tôi nghẹn ngào mất mấy phút, rồi mới hỏi lại anh: “Bom B52 đã giết chết người mẹ mà anh rất yêu quý, tại sao anh không căm ghét những người Mỹ như tôi?”.

“Mẹ tôi không phải là mục tiêu”, anh xích lô trả lời.
“Vậy mục tiêu là gì?”, tôi hỏi tiếp.
“Nhà máy xi măng”, anh ta đáp.

Tôi kể lại chuyện này với các nghị sĩ Mỹ, và nói: “Ngay cả một người đạp xích lô bị bom Mỹ cướp đi người mà anh yêu thương nhất cũng sẵn sàng quên đi quá khứ để nhìn về tương lai, vậy các vị còn băn khoăn cái gì về những mất mát của Mỹ ở VN, vốn nhỏ bé hơn gấp nhiều lần mất mát của dân tộc này. Một nước hùng mạnh nhất thế giới về sức mạnh quân sự và kinh tế tại sao lại có cách cư xử hẹp hòi, định kiến về một dân tộc tử tế như vậy”.

Sự tỉnh táo của người Việt

Tâm lý của người Mỹ rất khác với người Việt, họ không muốn dùng bất cứ cái gì của kẻ thù. Chẳng hạn như trong thời gian Mỹ đánh nhau với Đức và Nhật trong Thế chiến Thứ hai, cha mẹ tôi thậm chí còn không thèm dùng cả bộ tách chén do Nhật sản xuất, mặc dù trước đó ông bà rất nâng niu chúng.

Trong khi đó, người Việt lại có cách xử sự khác. Trong chiến tranh họ chiến đấu không khoan nhượng, nhưng không vì thế mà họ coi thường những đồ dùng tốt do những nước là kẻ thù của họ sản xuất. Đại uý Liêm, quận trưởng của chế độ Việt Nam Cộng hoà (tôi là cố vấn cho ông ta khi mới sang VN năm 1964), là một người rất ghét Trung Quốc. Ông ta có thể kể không chán cho tôi về những câu chuyện lịch sử không hay ho gì liên quan đến thời kỳ người Tàu đô hộ VN, nhưng có một lần, khi chúng tôi đang đi bách bộ, gặp một cửa hàng bán bánh của người Tàu, ông ta rủ tôi vào luôn. “Bánh người Tàu làm chắc chắn ngon lắm đấy, anh nhất định phải nếm thử mới được”, ông ta nói.

Tôi rất hay kể ví dụ này với những nghị sĩ, hay quan chức Mỹ tôi gặp trong “chiến dịch gõ cửa” để chứng minh rằng người Việt rất thực tế, không hề cực đoan, định kiến. Họ biết phân biệt cái gì hay, cái gì dở đối với cuộc sống và tương lai của mình!

Lợi ích người lao động Mỹ

Trong bài thuyết trình của mình tại Tiểu ban Thương mại, tôi luôn nhấn mạnh rằng Quốc hội Mỹ nên chấp thuận quyết định của Tổng thống Mỹ để bỏ Jackson-Vanik, để VN được phép vay tiền của Eximbank và tạo việc làm cho người lao động Mỹ. Tôi lập luận rằng nếu VN có thể vay tiền mua Boeing, hay turbine hơi, turbine khí thì người lao động Mỹ sẽ có thêm việc làm. Quốc hội Mỹ không nên để cho người lao động Pháp, Đức, hay người Nhật được hưởng lợi, còn người lao động Mỹ thì không.

Tôi cũng đã kể tên những công ty Mỹ đã cung cấp linh kiện cho GE để sản xuất động cơ máy bay. Bản thân những hạ nghị sĩ ở Virginia, Ohio, hay California, nơi có những công ty kể trên, chắc cũng phải suy nghĩ bởi lá phiếu của những người lao động ở đó. Trong các buổi điều trần như vậy thường hay có Hạ nghị sĩ Sander M. Levin (Tiểu ban Thương mại, uỷ ban Tài chính & thuế vụ Hạ viện), bang Michigan, nơi có Trung tâm công nghiệp ô tô Detroit. Sau phiên điều trần cuối cùng vào tháng 7.2002, ông ta đã nói thẳng với tôi: “Tôi nhớ ông là nhân chứng ở đây từ bao năm rồi, và tôi rất cám ơn ông vì luôn nghĩ tới quyền lợi của người lao động Mỹ”

thoidaianhhung
03-11-2010, 04:41 PM
Welcome to the American League of Lobbyists

Welcome to American League of Lobbyists website. We are the preeminent national organization that represents government relations and public affairs professionals. Our mission is to "enhance the development of professionalism, competence and high ethical standards for advocates in the public policy arena, and to collectively address challenges which affect the First Amendment right to 'petition the government for redress of grievances.'"

As professional lobbyists, we perform a tremendously important service not only to our employers and clients but also to the public at large, in an ethical, legal and Constitutional manner. ALL members adhere to a principled Code of Ethics that focuses on promoting the highest level of ethical lobbying in the country. Additionally, the League stresses the importance of continued education of the lobbying community by promoting the Lobbying Certificate Program which helps those of all skill levels improve their knowledge of the legislative process and lobbying profession.

Over the next year, the American League of Lobbyist we will be working to educate people on the lobbying process, and why every American should be an advocate at some level. The government is too immense and complex, which makes it difficult for decision-makers to clearly see an issue from all vantage points and to identify the best course of action. Lobbyists serve as educators and information envoys to help legislators and the administration make informed and logical decisions. Lobbyists represent every walk of life in an effort to make sure their voices and issues are heard by decision makers.

The American League of Lobbyists believes that through transparency, continued ethical representation and a strong educational campaign, we will help Americans understand the critical roles that lobbyists play in our society. The right to petition the government is central to ensuring that this country will always be one of the people, by the people and for the people and lobbyists help convey that message.

Membership in the league is open to any full-time, professionally employed lobbyist, at either the state or federal level. Our membership keeps growing and we looking forward to providing more member value and opportunities to our members in 2010.

To join the League, click here. Also, feel free to send us your comments through the "Contact Us" page. Thank you for visiting our web site.


Dave Wenhold, CAE, PLC
President of the American League of Lobbyists (http://www.alldc.org/index.cfm)

thoidaianhhung
03-11-2010, 06:25 PM
Lobby tại Mỹ: Thả con săn sắt, bắt con... cá voi

Đầu năm 2004, Hải quân Mỹ trình lên Quốc hội đề xuất ngân sách chính thức cho năm tài chính tiếp theo. Những giới hạn chi tiêu đã buộc Hải quân Mỹ phải cắt giảm nhiều hạng mục dự kiến, trong đó bao gồm việc mua máy bay phản lực Gulfstream hiện đại vào loại hàng đầu thế giới.

Bởi thế, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ khi đó là Đô đốc Vernon E Clark, quyết định đi một con đường khác - xin ngân sách đặc biệt dành cho những nhu cầu cấp thiết. Ông tìm đến những nhà vận động hành lang trong ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ, trong đó có những người làm việc cho công ty hàng không vũ trụ Gulfstream và tập đoàn mẹ của công ty này là General Dynamics.

4 tháng sau đó, tới thời điểm dự luật ngân sách quốc phòng năm 2005 được thông qua, Hải quân Mỹ đã có được chiếc Gulfstream đúng như mong đợi.

1 "ăn" 28

Không chỉ có Hải quân Mỹ được lợi từ thỏa thuận sân sau này. Khoản phân bổ ngân sách được thông qua này đem lại cho Gulfstream hợp đồng cung cấp máy bay trị giá 53 triệu USD. Cũng trong năm 2004, bằng con đường vận động hành lang, tập đoàn mẹ General Dynamics và các công ty con đã giành được 29 hợp đồng từ ngân sách Chính phủ, thu về 169 triệu USD.

Đây thực sự là những vụ làm ăn “một vốn… mấy chục lời” vì số tiền mà tập đoàn này phải chi cho việc vận động hành lang (lobby) trong năm 2004 chỉ là 5,7 triệu USD. Nói cách khác, 1 USD bỏ ra cho việc vận động hành lang lại đem về cho General Dynamics gần 30 USD từ Chính phủ Mỹ.

Một trong những điều bí hiểm nhất của Washington là các công ty thu được chính xác bao nhiêu tiền từ những nỗ lực vận động hành lang trong Quốc hội Mỹ. Kết quả một cuộc điều tra do tạp chí BusinessWeek tiến hành đối với hơn 2.000 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt của Chính phủ Mỹ trong năm 2005 khiến nhiều người bất ngờ: Trung bình, các công ty thu về khoảng 28 USD tính trên mỗi USD bỏ ra cho hoạt động vận động hành lang.

Tuy nhiên, cá biệt có những công ty thu về 100 USD, thậm chí còn cao hơn, tính trên mỗi USD bỏ ra. Đây thực sự là một tỷ lệ lớn, vì ước tính, các công ty thuộc chỉ số Standard & Poor 500 của thị trường chứng khoán Mỹ chỉ thu được có 17,52 USD tính trên 1 USD tiền vốn bỏ ra trong năm 2006. Còn trong hoạt động tiếp thị trực tiếp, cứ 1 USD bỏ ra, công ty chỉ thu về được 5 USD.

Có thể nói, những công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ các hoạt động vận động hành lang. Trong số 50 công ty được hưởng nhiều nhất từ ngân sách đặc biệt trong năm 2005, phần lớn đều là những công ty công nghiệp quốc phòng như Raytheon và Lockheed Martin. Chỉ có một số rất ít những công ty ở các lĩnh vực khác lọt vào top 50 này.

Tính đến nay, Boeing là tập đoàn thu về nhiều nhất từ phân bổ ngân sách đặc biệt, trong năm 2005, tập đoàn này thu được tổng số 456 triệu USD từ 29 khoản phân bổ ngân sách đặc biệt dành cho các hạng mục từ công nghệ tên lửa tới máy bay trực thăng. Trong năm trước đó Boeing chỉ chi 8,5 triệu USD vào việc vận động hành lang.

Điều này có nghĩa là cứ 1 USD chi vào vận động hành lang cho ngân sách đặc biệt, Boeing thu về 54 USD. Mặc dù vậy, đây mới chỉ là một phần nhỏ trong cả chiếc bánh 28 tỷ USD tổng giá trị hợp đồng mà tập đoàn này ký kết với Chính phủ Mỹ trong năm 2005.

Nhưng thành công nhất trong việc vận động hành lang có lẽ phải kể đến Scientific Research, một công ty công nghiệp quốc phòng nhỏ bé ở Atlanta. Năm 2004, công ty này chi vỏn vẹn 60.000 USD vào vận động hành lang, nhưng đến năm tài chính 2005, đã giành được các hợp đồng với tổng trị giá lên tới 20 triệu USD. Như vậy, với mỗi USD bỏ ra cho vận động hành lang, công ty này thu về 344 USD!

Scientific Research gặt hái được hành công đến vậy là nhờ thuê được đúng công ty để vận động hành lang. Trong năm 2004, công ty này chỉ thuê duy nhất công ty Hurt, Norton & Associates để vận động hành lang cho mình. Đây là công ty nằm dưới sự điều hành của Robert H. Hurt, người trước đây từng có thời gian dài làm việc cho cựu Nghị sỹ đảng Dân chủ Sam Nunn khi ông này còn chức chủ tịch Ủy ban Các lực lượng vũ trang của Thượng viện.

Những vụ bê bối

Nhìn chung, các nhà vận động hành lang đều biện luận rằng, ngân sách đặc biệt là khoản chi tiêu hợp lý vào những dự án cần thiết mà vì một lý do nào đó bị giới cầm quyền không để ý tới. Lập luận này ngày càng được Quốc hội Mỹ chấp nhận rộng hơn. Vào năm 1987, Tổng thống Ronand Reagan phủ quyết dự luật ngân sách đường bộ đặc biệt bao gồm 157 hạng mục với tổng ngân sách phân bổ là 1 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2006, Quốc hội Mỹ đã gật đầu với 13.000 hạng mục ngân sách đặc biệt với tổng trị giá 67 tỷ USD.

Các nhà phê bình thì cho rằng, Quốc hội Mỹ đang chi tiền sai mục đích. Theo quy trình thông thường, các dự án đề nghị phân bổ ngân sách phải được xếp hạng ưu tiên và chỉ được phân bổ trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh. Với những khoản ngân sách đặc biệt cho những nhu cầu được coi là cấp thiết, điều này hiếm khi xảy ra. Các thành viên Quốc hội có quyền tự quyết khá rộng trong việc hướng ngân sách đặc biệt vào những dự án “cưng” của họ. “Những dự án như thế chủ yếu nhằm những mục đích chính trị và địa vị, thay vì những nhu cầu cần thiết,” Keith Ashdown, một chuyên gia về thuế nhận định.

Lịch sử đáng buồn của việc phân bổ ngân sách đặc biệt ở Mỹ là một danh sách dài những hành động lạm dụng: Ngân sách bị sử dụng để mua phiếu cho việc thông qua các đạo luật, ngân sách bị chuyển tới cho các nhà tài trợ chính trị, và ngân sách bị dùng cho việc hối lộ. Hôm 30/6 vừa qua, FBI đã bất ngờ khám xét nhà của Thượng nghị sỹ Stevens trong một cuộc điều tra về hành vi tham nhũng có liên quan đến ngân sách đặc biệt.

Trước tình hình những vụ bê bối có liên quan đến ngân sách gần đây, trong tháng 8, Quốc hội Mỹ đã thông qua một dự luật cải cách nhằm giảm tình trạng lạm dụng ngân sách đặc biệt bằng cách công khai quy trình phân bổ vốn bấy lâu nay nằm trong vòng bí mật. Liệu nỗ lực này có thành công hay không? Câu trả lời sẽ chỉ có được khi năm 2007 kết thúc.

Nghề béo bở

Tại Mỹ, vận động hành lang đã trở thành một ngành triển mạnh. Thống kê cho thấy, vào năm 1998, có tới 1.447 công ty và tổ chức thuê người vận động hành lang để giải quyết các vấn đề về ngân sách. Tới năm 2006, con số này đã tăng lên tới 4.516.

Không chỉ số lượng khách hàng tăng, số công ty chuyên về vận động hành lang cho ngân sách đặc biệt đương nhiên cũng tăng. Từ chỗ chưa có gì, tới nay đã có trên 10 công ty như thế. Trong lĩnh vực kinh doanh đầy lợi nhuận này, các công ty vận động hành lang này không cần phải mất công quảng cáo mà các khách hàng luôn tự tìm đến. “Ai muốn có kết quả tốt thì đều tìm đến tôi. Người nào thông minh thì biết được ai có thể đem đến điều đó cho họ,” một nhà vận động hành lang chuyên về ngân sách cho nhu cầu từng tuyên bố như vậy.

Trở lại với câu chuyện về chiếc Gulfstream mà Đô đốc Clark xin ngân sách ở đầu câu chuyện này. Năm đó, Clark đề xuất một chiếc C37 - phiên bản quân sự của chiếc Gulfstream G550 dân sự mà nhiều giám đốc điều hành trên khắp thế giới vẫn sử dụng để đi lại. Với lập luận rằng, chiếc máy bay này là cần thiết cho hạm đội của Mỹ ở Thái Bình Dương, nơi các sỹ quan phải đi lại trên những tuyến đường rất xa, các nhà vận động hành lang cho Gulf Aerospace và General Dynamics đã thuyết phục được Quốc hội Mỹ thông qua khoản ngân sách đặc biệt này.

Tuy nhiên, điều đáng nói là sau đó, chiếc C37 mới cứng chưa bao giờ tới phục vụ hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Sau khi tiếp nhận chiếc máy bay này, Hải quân Mỹ quyết định để chiếc máy bay này tại căn cứ không quân Andrews ở gần thủ đô Washington và phục vụ cho hai quan chức cao cấp là Bộ trưởng Hải quân và Tham mưu trưởng Hải quân. Còn chiếc máy bay được đưa đến Thái Bình Dương là một chiếc máy bay cũ, cùng chủng loại với những chiếc máy bay khác đã được sử dụng tại đó !

LOBBY.VN
03-15-2010, 04:23 PM
J Street và “cuộc chiến” vận động hành lang không cân sức

J Street - một tổ chức Do Thái mới nổi ở Washington DC - đang nuôi tham vọng làm một cuộc "cách mạng" trong làng vận động hành lang Do Thái, đồng thời trực tiếp đe dọa vị thế độc tôn của Ủy ban Công vụ Mỹ - Israel (AIPAC) - tổ chức Do Thái lớn nhất và quan trọng nhất - trên "sàn đấu" Washington.

So với thực lực quá hùng hậu của AIPAC và các tổ chức Do Thái truyền thống ở Mỹ thì J Street quả là quá "mỏng", như chàng tí hon David so với gã khổng lồ Goliath. J Street hiện còn quá non trẻ, mới được thành lập vào tháng 4/2008, xét về thời gian hoạt động thì không thể so sánh với AIPAC với bề dày lâu đời hơn nhiều (thành lập từ thập niên 50 thế kỷ trước).

Thành viên ban đầu của J Street cũng chỉ có 3 người, một năm rưỡi sau tăng lên được 6 người. Ngân sách hoạt động của J Street cũng hết sức "bèo": 1,5 triệu USD vào thời điểm thành lập, và hiện nay vào khoảng 5 triệu USD, được huy động từ các “Mạnh Thường Quân” thuộc đủ mọi giới, kể cả những cá nhân, tổ chức không phải Do Thái.

Với một điều kiện nhân lực và tài lực như thế chỉ nói đến việc tồn tại thôi đã khó chứ chưa nói đến phải "đấu" với AIPAC và các tổ chức Do Thái khác. Thế nhưng J Street đã tồn tại được và đang ngày càng lớn dần lên. Cho đến kỳ đại hội đầu tiên diễn ra từ ngày 25/10 đến 4/11 vừa qua, J Street đã thật sự trở thành tâm điểm chú ý khi thu hút đến 1.500 đại biểu, trong đó có cả Cố vấn An ninh Quốc gia James Jones.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/10_tu910-400.jpg
Isaac Luria, Giám đốc chiến dịch vận động; Rachel Lerner; Daniel Kohl và Giám đốc điều hành Jeremy Ben-Ami

Theo giới chuyên gia, điểm mạnh nhất của J Street là biết khai thác triệt để sự tiện lợi, nhanh chóng và tính tiết kiệm của Internet để phục vụ cho việc huy động lực lượng ủng hộ từ khắp nước Mỹ. Từ khi thành lập cho đến nay, tổ chức này vẫn chủ yếu dựa vào e-mail để giao tiếp và liên lạc với các mạng lưới chân rết khắp nơi.

Điều quan trọng làm mọi người chú ý đến J Street là ở chỗ tổ chức này vận động hành lang cho Israel nhưng không giống, thậm chí trái ngược với các tổ chức Do Thái truyền thống (như AIPAC). J Street không theo đường lối bằng mọi giá phải giành được sự ủng hộ cao nhất ở Washington cho Israel.

AIPAC thậm chí còn cài cả điệp viên vào bộ máy chính quyền Mỹ (vài vụ điệp viên Israel cài cắm trong Bộ Quốc phòng Mỹ bị phanh phui mấy năm qua là một ví dụ). Còn J Street thì khác, tổ chức này đang có được cảm tình của Nhà Trắng hơn bất kỳ tổ chức Do Thái nào khác hiện nay ở Mỹ do có quan điểm phù hợp với các chính sách của Tổng thống Barack Obama đối với khu vực Trung Đông.

J Street ủng hộ giải pháp "2 nhà nước" mà Tổng thống Obama quyết thực hiện cho bằng được. Đối với vấn đề hạt nhân Iran, J Street cũng chủ trương không ủng hộ Israel dùng vũ lực để ép Iran.

Những gì J Street đang tiến hành vận động cho thấy tổ chức này đang thúc đẩy một cuộc "cách mạng" trong giới vận động hành lang Do Thái "thân Israel". Cuối năm 2006, một nhóm hoạt động từ thiện người Do Thái theo tư tưởng tự do, trong đó có Jeremy Ben-Ami (hiện là Giám đốc điều hành), họp nhau lại bàn chuyện tập hợp các tổ chức Do Thái tiến bộ thành một tổ chức lớn hơn, mạnh hơn để hoạt động hiệu quả hơn.

Và cái tên J Street được đề cập như một bản sao của "K Street" (phố vận động hành lang nổi tiếng ở Washington). Sự ra đời của J Street gần như trùng hợp với sự xuất hiện của Thượng nghị sĩ Obama trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 2008. Khẩu hiệu mà J Street ngầm theo đuổi là "vì hòa bình và an ninh Israel" của mình.

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các tổ chức Do Thái tiếp tục hoành hành Washington, tiếp tục nắm lấy yết hầu của nước Mỹ mà lèo lái, thì sự vận động của J Street có thể được ví như "liều thuốc" nhằm trung hòa những "độc tố" do các tổ chức Do Thái truyền thống tiêm vào guồng máy chính trị Mỹ.

Tuy nhiên, tình hình chung cho thấy chỉ mỗi J Street thì khó mà tạo được sự thay đổi nhanh chóng chiều hướng vận động hành lang Do Thái, cũng như một mình Tổng thống Obama thì khó mà thay đổi được nếp nghĩ cùng với hành động của guồng máy chính trị Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến Israel và Trung Đông.

Việc nước Mỹ quá thân Israel không phải bây giờ mới có mà đã ăn sâu trong não của nhiều thế hệ chính khách nước Mỹ hàng chục năm qua, đến nỗi đã trở thành một thứ "luật" mà bất cứ tổng thống mới nào của nước Mỹ cũng đều phải ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc.

Cho đến nay, những chính sách, giải pháp mới của ông Obama ở khu vực Trung Đông vẫn chưa nhận được sự ủng hộ cần thiết của Quốc hội Mỹ, nơi mà lực lượng thân Do Thái không chỉ có ở đảng Cộng hòa mà cả một bộ phận khá đông trong đảng Dân chủ.

Và hiệu quả thúc đẩy hòa bình tại đây của ông cũng chưa thấy xuất hiện. Vì vậy, việc thay đổi nếp nghĩ "thân Do Thái" ở Washington, làm cho hòa bình thật sự ngự trị ở khu vực Trung Đông, để cho Israel không còn bị cô lập giữa cộng đồng khu vực như hiện nay, đối với nước Mỹ mà nói còn khó hơn là phóng tàu thăm dò lên sao Hỏa!

Nó đòi hỏi thời gian rất lâu và nhiều thế hệ "Obama" sau này với quyết tâm cao mới hy vọng thực hiện được. Nhưng với nhiều "J Street" cùng hỗ trợ thì mọi việc có thể sẽ diễn ra nhanh hơn chăng ?

Lobby Do Thái (http://antg.cand.com.vn/vivn/hautruong/2010/1/710 28.cand)

thoidaianhhung
03-15-2010, 04:31 PM
Vận động hành lang là nhu cầu của đổi mới

Quan sát cuộc đình công của các nhà viết kịch bản ở Mỹ gần đây cho ta thấy, đời sống xã hội bao giờ cũng tiến theo những tiến bộ khác, như sự phát triển khoa học công nghệ thông tin (Informatics & Internet) là một điển hình.

Vừa qua tại Hollywood, California, Hiệp hội các nhà viết kịch bản đã đình công để đòi hỏi phải trả thêm tiền cho tác phẩm của họ được phổ biến trên Internet và những phương tiện truyền thông mới.

Sau một trăm ngày lãn công, có thể đã có cuộc tiếp xúc hành lang (lobby), những nhà viết kịch bản Mỹ bắt đầu bỏ phiếu thuận trở lại làm việc. Họ cũng hy vọng sẽ đạt được thỏa thuận với Liên hiệp Điện ảnh & Sản xuất Phim truyện (Alliance of Motion Picture & Television Producers) sau ba năm thương thuyết.

Qua sự kiện này, người viết liên tưởng đến những cuộc bãi công ôn hòa đòi tăng lương hay cải thiện điều kiện lao động của công nhân, cũng đã xảy ra ở Việt Nam.

Chúng ta, từ giới làm chủ đầu tư và thành phần công nhân lao động ở các hãng xưởng, đều có thể rút ra bài học thương thuyết này. Bởi vì, theo thiển ý của tôi, bản chất của đình công là một hình thức thương thuyết trong khuôn khổ luật pháp.

Khi chúng ta cùng đồng ý với nhau trên căn bản nhận thức chung này (compromise), chúng ta sẽ thấy một nhu cầu khác không thể thiếu. Đó là khoa học “vận động hành lang” (lobby), mà trước đây, trong phần trả lời tuần báo VietWeekly ở California, một vị cựu quan chức cao cấp Việt Nam cũng đã đề cập tới: “Đã đến lúc chúng ta phải coi “hoạt động lobby” như là một khoa học cần nghiên cứu và ứng dụng”.

Cũng trong chiều hướng đó, chúng ta có thể quan sát kinh nghiệm lập pháp ở Mỹ, việc vận động hành lang rất phổ biến và hợp pháp (legal).

Căn cứ vào điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay, Nhà nước không có đủ ngân sách để “biên chế” cho mỗi đại biểu Quốc hội một luật sư phụ tá, để hỗ trợ cho tiến trình làm luật hoặc tu chính các bộ luật không còn phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập. Vì thế, chúng ta cần sớm nghiên cứu và ứng dụng khoa học mới này vì lợi ích “sống và làm việc theo hiến pháp”.

Nguyễn Á Độc Lập (http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Nguoi-Viet-o-nuoc-ngoai/Viet-cho-Que-Huong/2008/04/2FEC3041/)

thoidaianhhung
03-15-2010, 04:45 PM
Người Mỹ vận động hành lang cho PNTR

Chính trường nào cũng phải có lobby, mà tiếng Việt gọi là vận động hành lang, để đạt lợi ích cao nhất cho tập đoàn, công ty, hay quốc gia, và điều này lại càng đúng tại Hoa Kỳ.

Theo chuyên gia đầu tư Trần Sĩ Chương thì đây là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau.

Giữa tháng 11 tới nhiều khả năng quốc hội Mỹ sẽ mang quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn với Việt Nam ra bàn tại quốc hội, và ngay từ bây giờ, một tổ chức có tên là Hội thân hữu Mỹ Việt vì một nước Việt Nam giàu mạnh đã ra đời và các thành viên dự tính sẽ lên Capitol Hill để vận động cho quy chế PNTR cho Việt Nam.

Hoa Kỳ cần xây dựng một liên minh vững chắc với Việt Nam và các nước thành viên của tổ chức ASEAN để phục vụ cho lợi ích về chính trị, quân sự, kinh tế, và chiến lược. Trong bối cảnh này thì thúc đẩy tự do thương mại, chia sẻ giá trị chung để cùng phát triển kinh tế là các biện pháp cần thiết để xây dựng mối quan hệ hai chiều có hiệu quả.

Thế thưa ông ông có quan tâm đến quan ngại của một số nghị sĩ Mỹ về công ăn việc làm trong ngành dệt tại tiểu bang Bắc Carolina sẽ bị cạnh tranh một khi hàng may rẻ từ Việt Nam tràn vào nước Mỹ?

Trong suốt 25 năm qua tôi chứng kiến ngành dệt may tại Bắc Carolina thu hẹp quy mô và giảm bớt mức độ cạnh tranh tại thị trường Hoa Kỳ, và tôi quả thật cũng có lúc chia sẻ tâm trạng đau khổ trước tình cảnh lợi nhuận giảm và công nhân may mặc mất việc làm.

Chuyện nước Mỹ bị mất nhiều công ăn việc làm và công việc của người Mỹ chạy ra ngoại quốc không chỉ xảy ra ở tiểu bang Bắc Carolina, mà đây là vấn đề của toàn quốc, và không dễ gì mà tìm ngay ra được giải pháp.

Tuy nhiên tôi cũng đã nói chuyện với nhiều người, ở Mỹ cũng như ở Việt Nam, về hậu quả có thể xảy ra nếu quy chế PNTR không đươc̣ thông qua, và tôi thấy ai cũng muốn đưa ra một hành động thỏa hiệp, tức là làm sao giảm bớt thiệt hại đối với ngành may của Mỹ.

Thế theo ông thì làm sao để cho hai bên, Hoa Kỳ và Việt Nam cùng ký vào PNTR và cùng cảm thấy vui?

Tôi tin rằng một giải pháp dành cho công nghệ may mặc và bông sợi của Mỹ sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên, điều cần thiết để cho thương mại phát triển. Và một khi có quan hệ mậu dịch gần gũi rồi thì hai phía sẽ cùng lắng nghe để giảm bớt những tác hại có thể xảy ra trong tương lai.

Vận động cho Việt Nam

Trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ rất ít tổ chức ủng hộ cho mối giao thương Việt Mỹ ra đời - từ trước đến nay.

Trong quá khứ cá nhân nào kêu gọi Mỹ giao thương với Hà Nội đã từng bị biểu tình và chụp mũ. Vậy tình hình nay đã khác?

Theo ông Lê Phước Sang, Chủ tịch của Hội thân hữu Mỹ Việt vì một nước Việt Nam giàu mạnh, tổ chức mới ra đời để vận động cho quy chế PNTR, thì sau 31 năm hoạt động cho cộng đồng phật giáo Hòa Hảo tại California, ông tin rằng nay là thời điểm để nghĩ đến tương lai của dân tộc, trên tinh thần tôn trọng quan điểm của nhau.

Trước tiên ông nói về mục đích của Hội:

Hội của chúng tôi, là tổ chức bất vụ lợi hoạt dộng ở Huê Kỳ, Việt Nam và các nơi có nhu cầu. Nhân sự gồm những người Mỹ và Việt Nam quan tâm đến công cuộc phát triển cho Việt Nam. Và chúng tôi sẽ làm những việc sau đây:

1- Kết hợp những cá nhân, tổ chức người Mỹ và người Việt khắp nơi nhằm huy động nhân vật lực ở Huê Kỳ và nước giúp VN phát triển.

2- Tạo điều kiện cho người dân hai nước Mỹ /Việt hiểu biết nhau hơn nhằm hỗ trợ cho mục tiêu của Hội

3- Vận động Lập Pháp, Hành Pháp và công luận Huê Kỳ thông qua qui chế PNTR cho Việt Nam.

4-T ổ chức mời các cá nhân, tổ chức ngoài chánh phủ ở Huê kỳ thăm VN và ngược lại để tìm hiểu nhu cầu phát triển của VN.

Thưa ông thế còn việc thúc đẩy kinh tế theo hiệp định PNTR thì sao?

Chúng tôi hy vọng sẽ hình thành và phát triển công tác “kết nghĩa” địa phương-địa phương, trường học-trường học, bệnh viện-bệnh viện ... trong chiều hướng phát triển giáo dục, y tế, xã hội từ thiện... ngoài chánh phủ, để nâng cao phúc lợi người dân Việt Nam.

Vận động các tổ chức NGO của Huê Kỳ cung cấp học bổng, phương tiện cho việc phát triển nhân tài Việt Nam theo đà phát triển nhân loại.

Tìm hiểu nhu cầu về thị trường lao động, dịch vụ, sản phẩm...ở Huê Kỳ để giới thiệu với người Việt Nam trong nước, tạo điều kiện phát triển Việt Nam.

Lobby xứ Mỹ

Không phải ai cũng hiểu tại sao ở một nước thể chế minh bạch như Mỹ lại cần phải đi vận động hành lang.

Theo ông Trần Sĩ Chương, nhà tư vấn, và từng là trợ lý lập pháp, ngoại giao và ngoại thương tại quốc hội Hoa Kỳ 20 năm trước đây thì tuy chính trường Mỹ minh bạch nhưng hệ thống vận hành lại phức tạp, chằng chịt, và không phải lúc nào cũng công bằng

Trong lĩnh vực chính trị, ngay cả những nước thân thiện với Mỹ và có văn hóa gần gũi với Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Úc cũng phải cần chuyên gia lobby để vận động thường xuyên với chính khách Mỹ. Ở Á châu, các nước đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phải có một đội lobby hùng hậu ở Mỹ.

Trong mười năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho nhu cầu hiểu biết về người Mỹ đồng thời thực hiện các hoạt động lobby rất tinh vi ở Mỹ; do vậy Trung Quốc có được một quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, mặc dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc đãđến mức rất lớn và cực kỳ phức tạp.

Thưa ông văn hóa Mỹ hay nói đến win win situation, tức hai bên cùng thắng. Có phải những người lobby Mỹ sống với khẩu hiệu này?

Tại Mỹ khi có xung đột quyền lợi một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng và ổn định chung là thương lượng, qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, mỗi bên có lợi một ít, không bên nào được lợi hết, hoặc thiệt hết.

Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thỏa thì mới “đụng trận” đem nhau ra tòa, hay để cho một phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn kém chi phí cũng như thời gian.

Cho nên vai trò người lobby ở đây rất quan trọng: giúp thân chủ tránh được những đối đầu không cần thiết, và chỉ đến khi không còn đường giải quyết nữa mới nói đến vấn đề tranh tụng.

Phạm Khiêm - BBC

thoidaianhhung
03-15-2010, 04:51 PM
Tường thuật trực tuyến Hội thảo Quốc tế
"Vận động chính sách - Thực tiễn và Pháp luật"

Vận động chính sách - đang trở thành một nhu cầu tự thân tất yếu ở VN. Nhưng để hoạt động này trở nên chuyên nghiệp, các tổ chức xã hội, Hiệp hội ngành nghề... phải có chỗ trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Muốn vậy cần sớm có một Luật về Hiệp hội...

Vận động chính sách – lobby đã và đang có những tác động nhất định tới tình hình chính trị, kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, một định danh – một khung khổ pháp lý cho hoạt động này vẫn chưa có. Hội thảo khoa học “Vận động chính sách: thực tiễn và pháp luật” do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo Diễn đàn Doanh nghiệp và Viện tư vấn phát triển (CODE) đồng tổ chức từ ngày 7 - 8/12/2007 nhằm góp phần tạo ra “chiếc áo” pháp lý vừa vặn cho hoạt động này !

Ông Govert van Oord - Chuyên gia tư vấn với hai mươi hai năm kinh nghiệm trong lĩnh vực lobby ở Hà Lan và Châu Âu, đồng sáng lập Viện tư vấn Phát triển CODE chia sẻ kinh nghiệm về vận đông chính sách:

Trước tiên là Xuất xứ vận động hành lang - Những thách thức trên chính trường:

• Từ những năm 90, quá trình lập định chính sách mang tính thực tiễn và cởi mở hơn, đã giảm bớt vai trò của các hệ tư tưởng.

• Nhu cầu mới của Khu vực công về sự tham gia của khu vực tư nhân vào xã hội mang tính thị trường đa dạng.

• ‘Những thay dổi’ trong giới lãnh đạo chính trị.

• Xuất hiện vai trò của tầng lớp trung lưu.

Những thách thức trong nội bộ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp

• Khái niệm vận động hành lang được thảo luận và phổ biến rộng

• Chuyển đổi theo diện rộng từ ‘hoạt động tư vấn’ và ‘chiến dịch vận động’ sang ‘đối thoại với cơ quan có thẩm quyền’

• Vấn đề toàn cầu hóa, WTO đã biến Vận động hành lang thành một vấn đề có tính chất xuyên biên giới.

• Sự cấp thiết có những công cụ mới để đối phó với thực trạng tham nhũng.

Vận động hành lang ở Châu Âu

• Đa số được thực hiện bởi các liên minh; Các tổ chức hoặc doanh nghiệp đơn lẻ vận động hành lang thường khó đạt được kết quả.

• Định hướng cho một hiệu quả lâu dài trong vận động hành lang cần phải dựa trên những nghiên cứu và các tài liệu mang tính thuyết phục cao.

• Có được số lượng nhất định các thành viên của các liên minh tham gia.

• Rủi ro của Vận động hành lang trên nền tảng yếu.

• Các tổ chức xã hội thường than phiền về sự ảnh hưởng quá lớn trong Vận động hàng lang đối với khu vực các ngành công nghiệp.

• Đối với công chúng, hình ảnh các liên minh ‘kiểu cũ’ thường thiếu năng động và dễ bị tổn thương.

• EU tìm một phương pháp tiếp cận cân đối hơn và ít mang màu sắc chính trị.

• Các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp xuất hiện nhiều hơn nhằm đảm bảo tính liên tục của mạng lưới.

• Xu thế mới là tạo ra những liên minh khác nhau có sự hỗ trợ chuyên nghiệp:

- Linh động hơn
- Vấn đề cụ thể
- Dựa vào nhiều đối tác

Các liên minh vận động hành lang khác nhau - Ba loại liên minh đang hoạt động ở Châu âu:

• Doanh nghiệp tư nhân, chẳng hạn doanh nghiệp hóa học, than, thép, v.v.

• Doanh nghiệp tư nhân liên kết với các tổ chức NGOs, ví dụ: các liên minh bảo tồn thiên nhiên, năng lượng, v.v.

• Các tổ chức NGO’s– e.g. các tổ chức bảo tồn thiên nhiên, các tổ chức phát triển, xã hội,.v.v.

Xu thế quan trọng trong lobby

• Các nhà lobby cố gắng giải quyết các vấn đề trong từng lĩnh vực và với các tổ chức xã hội trước tiếp cận các nhà lập định.

• Liên minh theo chiều ngang - đại diện cho toàn bộ chuỗi từ sản xuất, tiêu thụ đến vấn đề môi trường.

• Cung cấp những giải pháp hoàn chỉnh bao gồm sự ủng hộ của công chúng

Các bài học trong VĐHL

• Hầu hết các nhà lobby khởi đầu với công tác tư vấn (advocacy) - giải thích các vấn đề và nhu cầu cho các nhà lập định chính sách và đôi khi cả với công chúng

• Chiến lược thực hiện chuyển thành một lobby năng động, sáng tạo - cung cấp các giải pháp có tính thực tiễn và với sự ủng hộ của công chúng, nhưng không quên mục tiêu dài hạn của các tổ chức.

• Thông qua cung cấp các giải pháp đầy đủ cho các nhà lập định chính sách, liên minh các nhà vận động hành lang đã đạt được một vị trí vững vàng hơn và được nhận diện bởi khu vực công.

Tại sao cần có VĐHL – Các bài học từ Châu Âu

1. Nhu cầu – Ngày càng có nhiều các nhóm lợi ích tiếp cận các nhà lập định chính sách- Như vậy cần có một đối tượng đảm nhận công việc đó một cách chuyên nghiệp.

2. Cơ hội – Các nhà lập định chính sách cần xã hội dân sự để hiểu được tình hình thực tiễn

3. Khát vọng – VĐHL chỉ thực hiện tư vấn (advocacy) thôi thì chưa đủ, mà nó cần phải trở thành một phần của quá trình ra quyết định.

4. Tham nhũng – Một điều rất quan trọng là tìm ra được cách làm tránh được sự tham nhũng.

Điều gì là quan trọng cho VĐHL chuyên nghiệp ?

• Các kỹ năng thông tin và giao tiếp, để nắm được các dự định và dự án của nhà nước kịp thời và đầy đủ.

• Các kỹ năng phân tích, để tránh các hành động cảm tính và nhận biết được khi nào nên hành động, khi nào nên dừng lại.

• Các kỹ năng quản lý: để chuẩn bị tốt, diễn tập trước và đặt kế hoạch thực hiện chu đáo là những phần đặc biệt quan trọng.

• Khả năng học hỏi, để gặt hái được những kinh nghiệm trên chính trường.

Những tích cực của VĐHL là gì ?

• VĐHL nghĩa là hành động sớm: tạo ra nhiều phương án lựa chọn hơn để can thiệp.

• VĐHL là tổng hòa các lợi ích: đặt các hoạt động của quý vị trong tổng thể xã hội.

• VĐHL phát triển/tăng cường tổ chức của quý vị

Hành động sớm nhiều phương án lựa chọn hơn

• Có được các thông tin sớm sẽ tạo cơ hội cho quý vị cung cấp những đầu vào cho quá trình ra quyết định:

(Nếu chậm trễ nghĩa là: phải thực hiện lại từ đầu; hoặc là sẽ giảm các giải pháp lựa chọn của quý vị hoặc là việc các quí vị thực hiện như một sự gây áp lực và phi đạo đức).

• Cần có thời gian để khẳng định vai trò và tính ảnh hưởng của quý vị đối với quá trình ra quyết định:

Các giải pháp chiến lược của quý vị là gì: ‘mua bán’, ‘trò chơi quyền lực’ hay ‘thuyết phục’?

Tổng hoà các lợi ích

• VĐHL đặt các mục tiêu của quý vị như một phần của mối quan tâm chung và nhu cầu của công chúng:

Kết quả là sự cân bằng các lợi ích, cung cấp cho quý vị quyền phát ngôn và một ‘Giấy phép hành nghề’.

• Sự ủng hộ dành được từ phía lĩnh vực công phụ thuộc vào sự đóng góp của quý vị cho xã hội, không phải từ ‘sự chiếu cố, thiên vị’

Thoát khỏi sự thiên vị sẽ chống được sự tham nhũng!

Học hỏi từ VĐHL có nghĩa:

• Phát triển một cách nhìn rộng hơn về vai trò của các mục tiêu của quý vị - vượt qua các lợi ích cá nhân.

• Tạo được niềm tin và sự cởi mở từ phía quý vị đối với Khu vực công

• Sẵn sàng hành động trong một hoàn cảnh khó khăn

• Sẵn sàng phát huy hơn nữa các khả năng VĐHL chuyên nghiệp.

Kiến nghị: Xây dựng mạng lưới

• Mỗi cuộc vận động phụ thuộc vào các mạng lưới vững mạnh:

- Mạng lưới nội bộ

- Mạng lưới hợp tác với các tổ chức dân sự , các nghị sĩ quốc hội, các bộ, v.v.

- Mạng lưới với các chuyên gia, với những người được thông tin đầy đủ, phục vụ như những nhân lực nguồn.

- Mạng lưới với báo chí đánh tin cậy

- Mạng lưới với các đại sứ quán, những người hiểu và rất thân thiện với của quý vị.

Kiến nghị: lựa chọn phương pháp tiếp cận chuyên nghiệp

• Những lý do chính để phát triển một phương pháp tiếp cận VĐHL chuyên nghiệp:

- Có một ‘hệ thống thông tin sớm, kịp thời’

- Đối mặt được với quá trình lập định chính sách phức tạp

- Có những kỹ năng hiểu được ngôn ngữ và thực tiễn chung của Khu vực công

- Linh động hơn trong quá trình VĐHL

thoidaianhhung
03-15-2010, 04:57 PM
Ông Obama phản đối bỏ hạn chế vận động hành lang

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên tiếng phê phán quyết định mới đây của Toà án Tối cao Mỹ, dỡ bỏ những hạn chế về tài chính mà các công ty Mỹ được sử dụng để vận động chính trị, cho rằng điều này sẽ dẫn đến việc không ngăn chặn được ảnh hưởng của các nhóm đặc quyền.

Trong bài phát biểu hàng tuần trên đài phát thanh ngày 23/1, ông Obama khẳng định đã giành chiến thắng trước các nhóm đặc quyền trong một năm tại vị vừa qua.

Cụ thể, ông đã "đóng cánh cửa đang xoay chuyển giữa các công ty vận động hành lang và chính phủ" ngay trong ngày đầu tiên giữ cương vị tổng thống bằng một sắc lệnh hành chính, trong đó nghiêm cấm các cận sự vận động hành lang chính quyền một khi họ đã ra khỏi hàng ngũ nhân viên của ông.

Theo ông, quyết định nói trên của Toà án Tối cao sẽ làm đảo ngược tất cả những tiến bộ đã đạt được.

Trước đó, ngày 21/1, Toà án Tối cao Mỹ đã ra quyết định cho phép các công ty và hội đoàn "chi tiền không hạn chế" cho các ứng cử viên mà họ ủng hộ hoặc phản đối. Tuy nhiên, quyết định này cũng đòi hỏi các công ty và hội đoàn phải công khai các khoản chi của họ.

Hầu hết các nghị sĩ Cộng hoà đều hoan nghênh quyết định này, cho rằng nó sẽ thúc đẩy tự do ngôn luận và cho phép các đảng chính trị tăng chi tiêu. Một trong số ít người của đảng này phản đối là Thượng nghị sĩ John McCain.

Trong khi đó, các nghị sĩ đảng Dân chủ nói họ sẽ ủng hộ các dự luật nhằm hạn chế tác động của quyết định này. Ông Charles Schumer, Chủ tịch Uỷ ban Quy tắc Thượng viện, thậm chí còn gọi quyết định này có tính "phi Mỹ"

LOBBY.VN
03-15-2010, 05:21 PM
Đổi mới công tác vận động đầu tư “Muốn hơn thì bắc cầu Kiều”

Dù được công nhận là nước có môi trường đầu tư hẫp dẫn và được dự báo 10 năm tới là nơi đầu tư tốt nhất Châu á nhưng Việt Nam vẫn xếp thứ 75 trong bảng xếp hạng về chỉ số tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài trong số 80 nước. Dòng chảy FDI đang ồ ạt đổ vào Trung Quốc đã đặt Việt Nam trước áp lực cạnh tranh và yêu cầu phải đổi mới phương thức vận động đầu tư. Môi trường đầu tư tốt chưa đủ, điều quan trọng là các nhà đầu tư biết được họ sẽ có lợi gì khi đầu tư vào Việt Nam.

Xu thế cạnh tranh thu hút FDI đang ngày càng rõ nét và quyết liệt hơn. Trong hơn 100 nước đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài chỉ đổ vào hơn 20 nước tại khu vực Đông á, đầu tư nước ngoài phân bổ rất không đều. Riêng Trung Quốc hàng năm thu hút hơn 40 tỷ USD chiếm hai phần ba lượng FDI đổ vào Đông á. Việc Trung Quốc gia nhập WTO càng làm thị trường này thêm sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Nhiều dự báo cho rằng 5 năm tới FDI vào Trung Quốc có thể tăng gấp đôi. Nhiều nước trong khu vực đặc biệt là các nước ASEAN lo ngại khả năng luồng vốn đầu tư nước ngoài chuyển mạnh sang Trung Quốc. Theo báo cáo của UNCTAD, các dòng FDI vào khu vực Châu á - Thái Bình Dương đã phục hồi với 107 tỷ USD năm 2003 và Trung Quốc đã trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới. Điều này đã từng xảy ra với Indonexia và Philippin. Ngoài ra, Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh trực tiếp của các nước láng giềng Đông Nam á - những nước đang phát triển và có nhu cầu FDI rất lớn. Không tích cực và chủ động thúc đẩy, vận động, kêu gọi đầu tư thì khó có thể thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn.

Những năm trước năm 1996, làn sóng đầu tư đổ vào Việt Nam xuất phát từ lòng tin của các nhà đầu tư về một thị trường mới, miền đất mới. Nhiều nhà đầu tư trong đó có những tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam chỉ nhằm tạo chỗ đứng trên thị trường, chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả kinh tế, chính vì vậy lượng vốn đầu tư vào Việt Nam rất lớn. Sau nhiều năm thực hiện, các nhà đầu tư đã thực tế hơn, đầu tư thận trọng hơn, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực. Những nước chờ đón đầu tư sau cuộc khủng hoảng đã thay đổi rõ rệt quan điểm đối với đầu tư nước ngoài và đã rất chú trọng khuyếch trương cho mình và xúc tiến đầu tư. Hàn Quốc là một điển hình về cải cách thủ tục đầu tư, coi trọng công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài và đã thành lập cơ quan dịch vụ đầu tư Hàn Quốc. Từ sau năm 1997, đầu tư vào Hàn Quốc liên tục tăng.

Còn ở Việt Nam sau một thời gian nguồn FDI giảm sút, Việt Nam mới chợt nhận thấy tầm quan trọng của việc vận động để thu hút được FDI. Mấy năm nay Việt Nam đã lấy lại được nhịp độ tăng trưởng cao, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường đầu tư được cải thiện đáng kể, tiếp tục duy trì thành công sự ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam đã nổi lên là địa chỉ an toàn hàng đầu cho đầu tư. Nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá Việt Nam sẽ là địa bàn quan trọng trong chiến lược đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro sau khi họ đã đầu tư vào Trung Quốc và khu vực Đông Nam á. Việt Nam đã thay đổi nhanh nhờ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư. Nhờ vậy, sau một thời kỳ giảm sút tình hình đầu tư nước ngoài đã có dấu hiệu khả quan (tháng qua đã có 518 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD, vốn bình quân một dự án là 3,1 triệu USD so với mức 2,5 triệu USD cùng kỳ năm trước. Nhưng tốc độ vẫn chậm khiến Việt Nam chưa bắt kịp các nước xung quanh. Chưa xua được sự lo ngại về khả năng thực hiện mục tiêu trong 5 năm 2001-2005 thu hút được 12 tỷ USD vốn FDI cấp mới và 11 tỷ USD vốn FDI thực hiện.

Sự nỗ lực trong những năm qua của Chính phủ nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư và thực hiện xúc tiến đầu tư theo phương châm “hôm nay tốt hơn hôm qua” và hướng tới nhu cầu của các nhà đầu tư đã tạo nên kết quả hôm nay. Nhưng ngày hôm nay và những ngày sau hoạt động theo phương châm này không đủ mà phải đặt mục tiêu mình phải bằng và tốt hơn các nước khác. Cần sớm bắc thêm nhịp cầu thu hút đầu tư bằng cáchchuyển phương thức vận động đầu tư từ việc tạo môi trường đầu tư tốt hơn hôm qua sang cách làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam tốt hơn và có ưu thế cạnh tranh so với các nước trong vùng và Quốc tế. Giảm thuế, giảm tiền thuê đất, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa... là những việc làm cần thiết và đã cải tạo cơ bản môi trường đầu tư của Việt Nam nhưng chưa đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư đến đây. Không chỉ vì ở đâu việc bắt đầu làm ăn dễ dàng hơn, tiền thuê nhà thuê đất rẻ hơn mà nhà đầu tư lao vào nếu họ không biết chắc họ sẽ thu lợi được bao nhiêu. Với nhà đầu tư, khoản lợi nhuận là điều quyết định có đầu tư hay không, điều kiện thuận lợi chỉ thêm phần thuyết phục hơn. Nhiều khi nếu biết chắc sẽ thu được khoản lợi lớn, không chỉ vì thủ tục kéo dài vài chục ngày hoặc không được hưởng chút ít từ giảm tiền thuê đất mà Nhà đầu tư từ bỏ ý định.

Trong bản báo cáo về FDI ở Châu á do Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc - UNCTAD công bố, Việt Nam vẫn ở thứ 50 trong số 55 nước xếp hạng về chỉ số hoạt động đầu tư. Bởi vì mọi nỗ lực của các cơ quan chức năng mới chỉ làm được việc cải thiện môi trường đầu tư cho hôm nay tốt hơn hôm qua. Theo ông Trần Tuấn Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Bộ Ngoại giao “Giới kinh doanh và đầu tư quốc tế chưa có hình ảnh đúng đắn và khách quan về Việt Nam. Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên về sự khác biệt giữa những gì họ chứng kiến với những suy nghĩ từ hình ảnh không đầy đủ về Việt Nam trước đó”. Điều này phản ánh sự hạn chế về công tác tuyên truyền hình ảnh Việt Nam và công tác vận động đầu tư của Việt Nam. ở các trung tâm tài chính hàng đầu thế giới như NewYork, London, hầu như không có thông tin gì về môi trường đầu tư Việt Nam. Ông Trần Tuấn Anh dẫn lời Chủ tịch khu công nghiệp MTA: “Trong vòng 10 năm tới Việt Nam sẽ là một điểm quan trọng nhất Châu á. Chỉ có điều đáng tiếc là chúng ta chưa chuyển được thông điệp của mình ra bên ngoài”. Còn theo ông Lê Hữu Quang Huy - Văn phòng Kinh tế Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc thì quan trọng nhất là Việt Nam chưa chứng minh được đầu tư vào Việt Nam có lợi gì hơn so với đầu tư vào Trung Quốc và các nước trong khu vực. Có lẽ vì vậy mà Việt Nam vẫn xếp thứ 75 trong bảng xếp hạng về chỉ số tiềm năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài gồm 80 nước của UNCTAD.

Thành phố Hồ Chí Minh đã thành công trong việc vận động và thu hút đầu tư. Sáu bài học từ thực tiễn thu hút đầu tư nước ngoài của Thành phố này là: Chuyển từ triết lý thu hút đầu tư bằng nỗ lực hoàn thiện môi trường đầu tư tốt hơn hôm qua sang triết lý môi trường đầu tư của ta phải có ưu thế cạnh tranh hơn các nước khác; tách phần lớn các dịch vụ xúc tiến đầu tư ra khỏi cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư; có tổ chức chuyên trách đánh giá mức độ cạnh tranh của môi trường đầu tư của Việt Nam và từng địa phương; có chương trình biện pháp gắn xúc tiến đầu tư và xúc tiến xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả đầu tư nước ngoài ở các khu chế xuất, khu công nghiệp. Xúc tiến đầu tư phải đảm bảo độ sâu và tính chuyên nghiệp, trước hết nhằm vào các dự án quan trọng và quy mô lớn, nhằm vào các đối tác nước ngoài cụ thể.

Vụ Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng phục hồi, tỷ lệ số dự án đầu tư tăng so với năm trước nhưng vẫn thấp hơn tiềm năng thực tế của đất nước. Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại có xu hướng giảm tốc độ tăng vốn FDI thực hiện chậm hơn tốc độ tăng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Vì vậy điều quan trọng nhất để tăng FDI vẫn là xây dựng và quảng bá một hình ảnh Việt Nam đầy tiềm năng với một định hướng phát triển rõ ràng. Cần chỉ ra cho các nhà đầu tư vì sao nên đầu tư vào Việt Nam? Vì Việt Nam không chỉ là nơi có nguồn nhân công rẻ, tài nguyên phong phú... mà quên quảng bá rằng Việt Nam là một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng hòng thu hút những nhà đầu tư với mục tiêu xuất khẩu tại chỗ.

Một kinh nghiệm đã trở thành luôn đúng trong các cuộc vận động là đừng quên giới vận động hành lang - đó là những luật sư và các công ty luật, các giới chức, giới lãnh đạo và báo chí cùng những nhóm có quyền lợi khác liên quan đến Việt Nam

LOBBY.VN
03-15-2010, 05:24 PM
Toyota gửi nhiều nhân viên đến Washington vận động hành lang ở Quốc Hội Mỹ

- Alesia Murdoch có 11 năm làm nhân viên bộ phận lắp ráp hộp số của nhà máy Toyota ở Buffalo, West Virginia. Hôm qua cô biết mình có một nghề mới: đi vận động hành lang.

Murdoch là một trong số 23 nhân viên của Toyota được hãng cử đi vận động hành lang ở Quốc Hội Mỹ trước khi có một cuộc diều trần trước Quốc Hội về số xe Toyota bị thu hồi.

Cô cho hay cùng với các đồng nghiệp, cô muốn nhắc nhở với các nhà lập pháp Hoa Kỳ là mặc dù Toyota là của Nhật, song những người bị lệnh thu hồi gây ảnh hưởng lại là người Mỹ đang làm việc trong các xưởng xe lắp ráp của Toyota.

Murdoch nói: Chúng tôi ủng hộ sản phẩm của chúng tôi làm ra. Có thể chúng tôi đang bị khó khăn nhưng Toyota sẽ vững mạnh trở lại.

Có ít nhất 3 Ủy Ban của Quốc Hội hoa Kỳ có kế hoạch tổ chức các buổi điều trần để xem xét liệu cuộc thu hồi có được tiến hành nghiêm chỉnh hay không.

Toyota cử các nhân viên của mình từ 8 tiểu bang có nhà máy lắp ráp xe Toyota và bảo trợ mọi chi phí cho họ. Lẽ ra cuộc điều trần đầu tiên đã diễn ra thứ tư 10/2, nhưng đã được hoãn lại tới 24 tháng 2 do bão tuyết quá lớn.

Tài liệu của Thượng Viện năm 1999 cho thấy Toyota đã bỏ ra 685,684 đô la để vận động hành lang ở Washington, còn năm 2009 là 5.2 triệu đô la, gấp 7 lần con số năm 1999, vượt qua cả Chrysler.

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:19 PM
Bài học lobby của người Trung Quốc
Hongkong và các 'chiêu' lobby cho Trung Quốc


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/LyGiaThanh.jpg
Lý Gia Thành - nhà tỷ phú tiếng tăm nhất Hongkong

Không chỉ từ phía Đại lục, hoạt động lobby của Trung Quốc còn bao gồm cả từ phía Đặc khu hành chính Hongkong. Thậm chí, trong nỗ lực gây ảnh hưởng với chính giới Mỹ và tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận Mỹ, Đặc khu hành chính Hongkong dường như "mạnh mẽ" hơn Đại Lục.

Nỗ lực không mệt mỏi của HKTDC

Báo cáo của The Center for Public Integrity cho thấy trong nỗ lực gây ảnh hưởng với chính giới Mỹ và tìm kiếm sự ủng hộ của công luận Mỹ, Đặc khu hành chính Hongkong dường như "mạnh mẽ" hơn Đại Lục.

Kể từ tháng 7/1997 khi Hongkong được trao trả về cho Trung Quốc, Hội đồng Phát triển Thương mại Hongkong (HKTDC) đã dành một khoản tiền lớn hơn bất kì khách hàng Trung Quốc nào khác (khoảng 7,2 triệu USD) để lobby Quốc hội Mỹ về các vấn đề ảnh hưởng tới Hongkong như việc Trung Quốc gia nhập WTO và dịch SARS năm 2003.

Để công việc được suôn sẻ, HKTDC đã thuê 7 công ty lobby có uy tín tại Mỹ. Gần đây, HKTDC đã đẩy mạnh chiến dịch lobby liên quan tới vấn đề hàng dệt may giữa Mỹ và Trung Quốc.

Hutchison Whampoa Limited là một trong những tập đoàn lớn nhất niêm yết trên Sàn chứng khoán Hongkong. Tập đoàn do nhà tỉ phú Lý Gia Thành, người giàu nhất Trung Quốc lãnh đạo.

Hiện, công ty có hơn 157.000 nhân viên làm việc tại các chi nhánh trên toàn thế giới.

Các lĩnh vực hoạt động của Hutchison Whampoa Limited bao gồm:

- Kênh, cảng và các dịch vụ liên quan tại Hongkong, Panama Canal, Rotterdam, Thượng Hải, Thâm Quyến, Ninh Ba, Jakarta và Dar es Salaam... Công ty kiểm soát 12% công suất của các cảng chuyên chở container trên toàn thế giới.

- Viễn thông: có Hutchison Telecommunications, 3 mạng viễn thông và 1 hệ thống di động CDMA tại Australia theo giấy phép của Tập đoàn Orange, điều hành hoạt động địa ốc và khách sạn tại Hongkong, Ấn Độ, Israel, Anh, Italia và Đức...

- Bán lẻ và sản xuất: các cửa hàng tạp phẩm Park'N Shop, thiết bị điện tử gia dụng và các cửa hàng tư nhân của Watson tại chau Á. Ở châu Âu có chi nhánh Savers and Kruidvat Group.

- Năng lượng và hạ tầng cơ sở: Hongkong Electric là nhà cung cấp năng lượng chính cho Hongkong, ngoài ra còn công ty Husky Energy tại Canada.

Hutchison Whampoa cũng là một trong những nhà cung cấp truyền hình vệ tinh lớn nhất châu Á cho tới khi họ bán cổ phần tại kênh Star TV cho tập đoàn News Corp của Rupert Murdoch.

HKTDC không có văn phòng đại diện đặt tại Washington, nhưng có các chi nhánh tại New York, Chicago, Los Angeles và Miami. Các hoạt động lobby của HKTDC được phối hợp thông qua Văn phòng Kinh tế và Thương mại Hongkong tại Washington.

Theo những thông tin lobby được tiết lộ cho Bộ Tư pháp Mỹ mà The Center for Public Integrity nghiên cứu, các công ty được HKTDC thuê đều phải "xác định những mục tiêu vận động quan trọng nhất tại Quốc hội và chính quyền Mỹ. Đó là những người có thể liên quan tới chính sách hay đạo luật gây ảnh hưởng tới lợi ích của Hongkong".

Đặc biệt, đại diện cho Văn phòng Thương mại và Kinh tế Hongkong tại Washington là Burson-Marsteller, một trong những công ty PR lớn nhất thế giới. Chính công ty này đã dàn xếp một cuộc gặp giữa Thống đốc Arnold Schwarzenegger và một quan chức trong chính quyền Hongkong để thương lượng về cơ hội kinh doanh cho các công ty California.

Ảnh hưởng của các tỷ phú Hongkong

Một gương mặt nổi trội trong giới doanh nghiệp Hongkong có chiến dịch lobby mạnh nhất tại Mỹ là tập đoàn Hutchison Whampoa của nhà tỉ phú Lý Gia Thành. Tập đoàn này đã thuê công ty Public Policy Impact Strategies để triển khai chiến dịch PR nhằm phổ biến hình ảnh và thương hiệu của họ trên đất Mỹ.

Bắt đầu từ năm 2004, Public Policy Impact Strategies đã dàn xếp những cuộc thăm viếng "xã giao" cho quan chức Hutchison Whampoa và các nghị sĩ Mỹ để thảo luận về "quan hệ thương mại Mỹ-Trung, vấn đề thương mại và viễn thông quốc tế". Trong số nghị sĩ Mỹ từng tiếp xúc với Hutchison Whampoa có Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Bill Frist - đảng Cộng hoà và Hạ nghị sĩ Joe Barton, đảng Cộng hoà - người đứng đầu Uỷ ban Thương mại và năng lượng Mỹ.

"Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp chính giới Mỹ hiểu về Hutchison Whampoa và công việc họ đang làm", William Nixon, Giám đốc Public Policy Impact Strategies phát biểu. Theo ông Nixon, đã có thời gian người ta lầm tưởng Lý Gia Thành đại diện cho Trung Quốc, bắt đầu từ cuối thập niên 1990 khi ông Lý đấu thầu các dịch vụ cầu cảng tại Kênh đào Panama. Nixon cho biết cho đến nay, những cuộc gặp giữa quan chức Hutchison Whampoa và các nghị sĩ Mỹ đã đem lại kết quả rất "tích cực".

"Ông Lý không lobby cho một đạo luật và không có kế hoạch đầu tư vào Mỹ ngay lúc này. Nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu trong tương lai, Hutchison Whampoa tỏ ý muốn mua các tiệm thẩm mỹ hay cơ sở y tế ở đây...", Nixon nói. Chủ tịch công ty PR còn cho biết thêm hồi tháng 6 vừa qua, tỷ phú Lý đã hào phóng tặng Đại học California-Berkeley 40 triệu USD đểãyay dựng toà nhà nghiên cứu y tế và y-sinh học. Đây là món quà có giá trị nhất trong lịch sử đại học này. "Ông Lý là một người ngọt ngào. Tôi hy vọng sẽ làm việc lâu dài với ông ấy", Nixon nói.

Trên thực tế, từ tháng 5/2004 tới tháng 4/2005, công ty PR của Nixon đã thu được 300.000 USD nhờ vận động cho Hutchison Whampoa.


Vận động hàng dệt may - không còn bỡ ngỡ !

Trong bối cảnh thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc đang tăng, dệt may trở thành một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước. Hệ thống quota cho hàng dệt may và quần áo dành cho Trung Quốc 30 năm đã hết hạn vào ngày 1/1/2005 và giá trị hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng 97%, lên 7,4 tỉ USD.

Trước những lời phàn nàn của nhà sản xuất trong nước, chính phủ Mỹ đã ra hạn chế mức tăng hàng năm đối với một số mặt hàng dệt may nhập từ Trung Quốc như áo sơ mi và quần trong khoảng 7,5%. Ngay lập tức, phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối. Hiện, hai bên đã tiến hành nhiều cuộc thương lượng về việc hạn chế số lượng lớn hàng nhập khẩu may mặc tới năm 2008.

Song song với việc thương lượng, Trung Quốc cũng xúc tiến những hoạt động lobby tại nghị trường nước Mỹ. Theo báo cáo của The Center for Public Integrity, Bộ Thương Mại Trung Quốc đã nhờ sự tư vấn của công ty luật McDermott Will và Emery LLP. Giám đốc quan hệ chính phủ của công ty này, Paul Hatch từng là cố vấn cho đội ngũ vận động tranh cử Bush-Cheney năm 2004.

Bên cạnh nỗ lực của Đại lục, Đặc khu hành chính Hongkong đóng vai trò không nhỏ. Trong một lá thư gửi cho The Center for Public Integrity, Stephen Wong, Giám đốc khu vực thuộc Hội đồng phát triển thương mại Hongkong (HKTDC) đã nhấn mạnh rằng tổ chức của ông chỉ tập trung vào việc "bảo vệ lợi ích của Hongkong". "Trong vấn đề dệt may, Hongkong với tư cách là một khu vực sản xuất và xuất khẩu dệt may, rất lo ngại về những quyền hợp pháp và lợi ích thương mại theo quy định của WTO. Trước thực tế một số lượng lớn doanh nghiệp Hongkong đang đầu tư cho hoạt động sản xuất hàng dệt may ở Đại Lục, chúng tôi rất quan tâm tới tác động của những biện pháp mà Mỹ áp dụng đối với lợi ích của chúng tôi".

Xuất phát từ lý do trên, HKTDC đã tiến hành một chiến dịch lobby khá quy mô, góp mặt nhiều công ty vận động hành lang danh tiếng của Mỹ. Theo thông tin đăng ký với Bộ Tư pháp Mỹ được The Center for Public Integrity thu thập, cho đến nay có 4 công ty lobby chính đại diện cho HKTDC.

Tiêu biểu trong số này là Wexler&Walker Public Policy Associates. Đây là một công ty lobby hàng đầu do cựu Hạ Nghị sĩ Mỹ Robert Walker và Ann Wexler - một quan chức cao cấp trong chính quyền cựu Tổng thống Carter, điều hành. Công ty đã tiến hành hàng chục cuộc gặp gỡ với thành viên và nhân viên Quốc hội trong đó có các Hạ nghị sĩ Michael Castle bang Delaware và John Shadegg - bang Arizona để vận động cho các vấn đề dệt may và chuyển giao công nghệ. Wexler&Walker cũng tiến hành nhiều cuộc gặp với quan chức trong chính quyền trong đó có Bob Cassidy - nhà thương thuyết chính của Mỹ về việc Trung Quốc gia nhập WTO. Cho tới nay, Wexler and Walker Public Policy Associates đã thu được 3 triệu USD từ HKTDC.

Thứ hai là Patton Boggs, LLP - một trong những công ty lobby mạnh nhất tại Washington. Công ty này đã vận động Quốc hội và các quan chức hải quan Mỹ trong các vấn đề hàng dệt may và thương mại song phương đại diện cho HKTDC từ năm 2001-2002. Chỉ trong vòng 1 năm này, Patton Boggs đã thu về 250.000 USD. Tháng 7 vừa qua, Patton Boggs đã tham gia tư vấn cho các quan chức tại Sứ quán Trung Quốc ở Washington về một số vấn đề liên quan tới Quốc hội Mỹ.

Thứ ba là Powell, Goldstein, Frazer & Murphy, LLP - một công ty luật có trụ sở tại Atlanta song tập trung hoạt động lobby Washington. Công ty này đã vận động cho HKTDC trong nhiều vấn đề quốc tế. Từ tháng 7/1997 đến 2002, công ty từng lobby đại diện cho Tổng công ty xuất nhập khẩu Dệt may Trung Quốc, và Văn phòng Thương mại, Kinh tế Hongkong tại Washington.

Thứ 4 là Sidley Austin Brown & Wood - một trong những công ty luật lớn nhất Mỹ có văn phòng tại Hongkong, Bắc Kinh và Thượng Hải. Từ năm 2002, công ty này đã vận động giúp HKTDC trong các vấn đề thương mại, đặc biệt là hàng dệt may và phụ kiện quần áo.

Sau tất cả những nỗ lực không ngừng nghỉ, cuối cùng, Mỹ và Trung Quốc đã đạt được thoả thuận về hàng dệt may hôm 8/11. Cụ thể, Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Bạc Hy Lai và Đại diện Thương mại Mỹ Rob Portman đã ký một thoả thuận thời hạn 3 năm quy định hạn chế số lượng 34 chủng loại hàng dệt may của Trung Quốc vào thị trường Mỹ.
Soạn: AM 798097 gửi đến 996 để nhận ảnh này

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images998097_T3.jpg
Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Bạc Lai Hy và Đại diện Thương mại Mỹ tại lễ ký Thoả thuận hàng dệt may

Với ưu thế là một nền kinh tế đang lớn mạnh tại khu vực châu Á-TBD, một thị trường khổng lồ với 1,3 tỉ người tiêu dùng cộng thêm chiến lược khôn khéo, nắm bắt tình hình, hiểu đúng thời cuộc, Trung Quốc đã đi từ thành công này tới thành công khác. Trên con đường gian nan ấy, người Trung Quốc đã dần học được bài học "lobby trên đất Mỹ", biến thứ vũ khí của người Mỹ thành công cụ hữu ích cho mình. Tất nhiên, con đường họ đi không hề bằng phẳng, và đã không ít lần họ phải trả học phí cao cho những vấp váp của mình. Nhưng thách thức ấy không làm họ nản chí, mà trái lại càng làm tăng quyết tâm vươn ra thế giới, xây dựng Trung Quốc thành một đất nước hùng mạnh, phồn vinh

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:23 PM
Những nhà vận động tích cực ở Capitol Hill

Với ưu thế là một nền kinh tế đang nổi tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, lại là một thị trường rộng lớn với 1,3 tỉ dân, Trung Quốc thường không phải tốn chi phí cho hoạt động lobby. Lợi ích to lớn khi làm ăn với Trung Quốc đã thúc đẩy các tập đoàn lớn tại Mỹ bỏ tiền túi để vận động Quốc hội, chính quyền ưu ái, nới lỏng các hạn chế đối với Trung Quốc.

Tiếp tục cuộc chiến MFN không cân sức tại Hạ viện

Sau khi vận động thành công chính quyền Clinton, giới vận động hành làng giúp Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của mình. Sôi động và tích cực nhất chính là Hội đồng Kinh doanh Mỹ - Trung (UCBC) và Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ - Trung phối hợp bởi Uỷ ban đối phó khẩn cấp Thương mại Mỹ do nhà vận động hành lang kỳ cựu Calman Cohen đi đầu. Đây là một khối gồm 55 công ty lớn của Mỹ cam kết tự do thương mại, tiểu biểu là General Motors, Mobil, Exxon, Caterpillar, United Technologies, Boeing, Cargill, Philip Morris, Procter & Gamble, TRW, Westinghouse, IBM và hàng chục công ty khác.

Nằm trong Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ-Trung là Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia (NAM), Phòng Thương Mại Mỹ (UCC), Bàn tròn Kinh doanh (BRT), Hiệp hội các nhà bán lẻ và nhiều hiệp hội thương mại đại diện cho các nhóm công nghiệp như Viện Dầu lửa Mỹ, Hiệp hội Nghiên cứu và Sản xuất Dược phẩm, Liên minh phần mềm kinh doanh...

Một trong những thách thức lớn nhất mà họ gặp phải chính là sự phản đối ở Hạ viện. Phe chống lại việc áp dụng quy chế MFN cho Trung Quốc bao gồm một nhóm thành viên đảng Dân chủ kết hợp với những nhân vật bảo thủ đi đầu là Hạ nghị sĩ Dana Rohrabacher - thành viên đảng Cộng hoà bang California, bắt đầu với khoảng 70 lá phiếu. Song sức ép và tiền bạc của nhóm ủng hộ MFN rõ ràng lớn hơn rất nhiều.

Phòng thương mại Mỹ (UCC), một "lão làng" trong giới lobby kinh doanh đã tiêu tốn gần 6 tháng ròng cho chiến dịch vận động MFN giúp Trung Quốc.

Cụ thể, Nhóm hành động châu Á của UCC đã liên lạc với hơn 200 uỷ ban địa phương và cấp tiểu bang cùng 6.800 công ty thành viên để lên kế hoạch. Họ tung ra các tài liệu phục vụ chiến dịch quan hệ cộng đồng (PR) và phổ biến kiến thức kèm theo các slideshow hình ảnh. Thậm chí nhóm này còn tổ chức một buổi hội thảo trên truyền hình qua chương trình "Đó là việc của bạn" phát sóng hàng tuần.

UCC cũng phối hợp chặt chẽ với các quan chức trong chính quyền biểu hiện qua việc tổ chức 4 phiên họp giữa nhân viên UCC và phụ tá của Tổng thống Clinton trong đó có Bộ trưởng Thương mại Mickey Kantor. Qua đó, UCC đã lọc được một danh sách gồm 103 thành viên Hạ viện có thể giúp họ ủng hộ MFN.

Trong lúc đó, tại Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia (NAM), một bầu không khí tương tự cũng diễn ra sôi động không kém. Tuy nhiên, cách làm của họ khác với UCC ở chỗ: NAM chú trọng tới việc tiếp xúc với các nghị sĩ ở "địa bàn" của họ.

10 văn phòng khu vực của tổ chức Đối thoại Nghị viện thuộc NAM tập trung vào việc phân công giám đốc các nhà máy hoặc công ty truyền tải thông điệp tới các nghị sĩ thuộc địa phận của họ. Giống như UCC, NAM nhấn mạnh tới hàng xuất khẩu Mỹ và việc làm có được từ hoạt động xuất khẩu ấy.

Trong số các công ty lớn, NAM nêu bật nỗ lực của Boeing (công ty chủ trì Nhóm công tác Trung Quốc của NAM), Caterpillar (đứng đầu Bàn tròn Kinh doanh), TRW và United Technologies. 4 tập đoàn này đã tiến hành những nỗ lực khác thường mà người ta gọi là "Sáng kiến Bình thường hoá Trung Quốc". Nhóm này được tổ chức trên cơ sở liên bang giữa California, Illinois, Michigan, Texas và các bang trọng điểm khác. Mỗi bang có một nhân vật từ một công ty lớn phụ trách. Ví dụ tại Michigan, General Motors và AlliedSignal, Inc. đồng phụ trách còn tại Illinois, công ty chủ trì là Caterpillar. Riêng Boeing, do hoạt động rộng khắp, dàn trải trên toàn nước Mỹ nên đóng vai trò "tiền vệ". Họ đã biến nhiều chi nhánh trở thành những nhà "vận động mini" cho quy chế MFN của Trung Quốc.

Nhịp độ lobby tại Hội đồng kinh doanh Mỹ - Trung (UCBC) cũng khá khẩn trương với hàng loạt sự kiện được gọi chung là "Trung Quốc trên Đồi Capitol" (China on the Hill). UCBC tổ chức cho một nhóm các lãnh đạo công ty tới Washington để gặp đoàn đại biểu của một tiểu bang tại Hạ viện. UCBC cũng đặc biệt chú ý tới các nghị sĩ mới được bầu vì họ thường có quan điểm khá "mở" trong vấn đề thương mại với Trung Quốc. Cuối cùng, nỗ lực của UCBC đã dẫn tới kết quả: 55 trong tổng số 74 nghị sĩ mới của đảng Cộng hoà bỏ phiếu thông qua MFN cho Trung Quốc năm 1996.

Ảnh hưởng của những nhà tài phiệt

Mặc dù vai trò của các tổ chức, hiệp hội đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp Mỹ là thực tế không thể bác bỏ, song tiếng nói có quyền lực nhất, tác động tới chính sách Trung Quốc của Mỹ lại chính là Tổng giám đốc, Chủ tịch các tập đoàn. "Những nhân vật này chỉ cần nhấc điện thoại và mọi việc sẽ được tiến hành", một nguồn tin thân cận với các tổ chức ủng hộ Trung Quốc tiết lộ.

Một trong số những nhân vật có tiếng tăm lúc đó là Maurice R. Greenberg - Chủ tịch AIG - tập đoàn bảo hiểm được xếp vào loại lớn nhất trên thế giới.

Trong chiến dịch vận động MFN cho Trung Quốc năm 1996, Greenberg là Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ - Trung. Ông cũng là thành viên của Uỷ ban đối phó khẩn cấp, là một trong 5 thành viên Ban tác động chính sách thuộc Hội đồng Ngoại giao do Henry Kissinger và Cyrus Vance đứng đầu, là một trong những nhà tài trợ cho Uỷ ban 100; một thành viên tích cực của Hôi đồng Đại Tây Dương và Uỷ ban Quốc gia về quan hệ Mỹ - Trung - đồng tài trợ tổ chức ủng hộ MFN. Ông còn là thành viên chủ chốt của Uỷ ban Cố vấn Tổng thống về chính sách thương mại và Thương thuyết - uỷ ban cố vấn tư nhân cho Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ.

Không những thế, ban giám đốc AIG còn bao gồm những nhân vật từng đóng vai trò hoạch định chính sách tại Washington như Carla Hills - cựu Đại diện thương mại Mỹ và Barber Conable - cựu Nghị sĩ kiêm cựu Chủ tịch Ngân hàng thế gới. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger cũng tham gia vào uỷ ban cố vấn quốc tế của AIG.

Tại Washington, AIG được đại diện bởi một đội gồm 11 nhà vận động hành lang và 4 công ty luật kiêm lobby danh tiếng bao gồm Skadden, Arps, Slate và Meagher&Flom, nơi mọi sự vụ của AIG đều được Robert Lighthizer, cựu Phó Đại diện thương mại Mỹ giải quyết. Trong một cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ về quan hệ kinh tế Mỹ-Trung tháng 5/1996, Greenberg đã nói: "Thay vì mỗi năm lại phải sử dụng chiêu không hiệu quả, chúng ta nên dành cho Trung Quốc quy chế MFN vĩnh viễn, vô điều kiện".

Trường hợp của Chủ tịch AIG chỉ là một trong số hàng trăm trường hợp khác. Phải kể đến ở đây là những gương mặt xuất chúng như lãnh đạo Boeing, Caterpillar, TRW, UnitedTechnologies thuộc nhóm "Sáng kiến Bình thường hoá Trung Quốc". Họ chính là những nhà vận động hành lang tích cực nhất tại Đồi Capitol trong cuộc chiến giành quy chế MFN cho Trung Quốc nhằm bảo vệ lợi ích của tập đoàn.

Có lẽ chiến dịch năm 1996 là cuộc vận động cuối cùng về MFN cho Trung Quốc. Bước sang năm 1997, giới vận động hành lang bắt đầu thúc đẩy kế hoạch giúp Trung Quốc giành được Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR), tiến tới giúp nước này gia nhập WTO

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:26 PM
PNTR và tiếng nói của các 'đại gia'

Bước sang năm 1997, giới vận động hành lang nước Mỹ bắt đầu đẩy mạnh chiến dịch giúp Trung Quốc giành được Quy chế Thương mại Bình thường vĩnh viễn (PNTR). Chiến dịch lần này mạnh hơn cả về quy mô lẫn tốc độ và đặc biệt có sự góp mặt đông đủ của các nhân vật tiếng tăm nhất trên chính trường Mỹ bao gồm cả đương kim Tổng thống Bill Clinton.

Thế nào là PNTR ?

Trước hết cần hiểu: Thế nào là quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn? Theo tuyên bố của một nhóm công ty bao gồm Motorola, United Airlines, Arthur Anderson, Caterpillar, Deere&Company, PNTR nghĩa là "mở rộng vô thời hạn quy chế Tối huệ quốc". Nó cũng đồng nghĩa với "Việc Trung Quốc gia nhập WTO theo những điều kiện thương mại có thể chấp nhận được". Lẽ tất nhiên, quan điểm này được đông đảo cộng đồng kinh doanh Mỹ ủng hộ.

Tại Washington, trong một phiên điều trần trước Hạ viện Mỹ tháng 9/1996, thành viên của Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia trong đó có Lawrence Clarkson - Phó Chủ tịch Boeing đã nêu rõ rằng việc tranh cãi về quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm đã tạo ra những nhân tố bất ổn trong chính sách Trung Quốc của Mỹ và điều này đang gây tổn hại tới giới kinh doanh.

Giới doanh nghiệp Mỹ xác định cuộc bỏ phiếu về PNTR cho Trung Quốc, và việc vận động cho Trung Quốc gia nhập WTO chính là vật cản cuối cùng trong hành trình tìm kiếm thị trường 1,3 người tiêu dùng mà họ đang theo đuổi.

Không tiếc hàng triệu đô để thu về hàng tỉ đô

Đầu quân cho nỗ lực này lại là 4 hiệp hội thương mại quen thuộc: Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung (UCBC), Bàn tròn Kinh doanh (BRT), Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ-Trung và Uỷ ban Đối phó khẩn cấp Thương mại Mỹ, đại diện cho hàng trăm công ty, tập đoàn lớn nhất nước Mỹ. Mỗi tổ chức chuẩn bị sẵn hàng triệu đô la và một chiến lược lobby đầy khôn khéo.

UCBC hoạt động dựa trên khoản ngân sách 4 triệu USD/năm. Họ có văn phòng tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Washington, New York và Hongkong. Dưới sự lãnh đạo của Robert A. Kapp, UCBC đại diện cho hơn 250 tập đoàn có vốn đầu tư tại Trung Quốc.

Bàn Tròn kinh doanh là một tổ chức gồm các Tổng giám đốc của những tập đoàn hàng đầu nước Mỹ. Đứng đầu BRT khi ấy là Philip Condit - Chủ tịch Boeing, tập đoàn có doanh số bán lên tới 18,5 tỉ USD tại thị trường Trung Quốc.

Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ-Trung và Uỷ ban đối phó khẩn cấp Thương mại Mỹ là những tổ chức đặc biệt do Calman Cohen đứng đầu. Hai tổ chức này đã thu hút sự ủng hộ của hơn 1000 tổng giám đốc các công ty trên khắp nước Mỹ.

Ngoài ra, còn những hiệp hội thương mại và công ty có uy tín cao cũng tham gia chiến dịch lobby này bao gồm Hiệp hội các nhà sản xuất (NAM). General Electric, ExxonMobil, Ford, Aetna và Công ty bảo hiểm nhân thọ New York. Một gương mặt khá mới trong chiến dịch lần này là America Online, nhóm các tập đoàn công nghệ thông tin Mỹ. Họ đã thuê nhà lobby quốc tế lâu năm Lisa Barry - từng làm việc cho Boeing để theo vụ này. "Thung lũng Silicon là một mỏ vàng", phát ngôn viên của Thượng Nghị sĩ Nancy Pelosi, bang California - một trong những người chống lại việc trao PNTR cho Trung Quốc, nói. "Giờ đây, họ đã nhảy vào cuộc và rất nhiều chính trị gia sẽ bị choáng váng".

Khác với những chiến dịch lobby cho MFN trước đây, chiến dịch lần này mạnh cả về cường độ, số lượng và "chất lượng". "Cộng đồng kinh doanh đã tích luỹ tiền cho chiến dịch này suốt 10 năm qua", phát ngôn viên của TNS Pelosi nói. "Rất khó để đoán biết vì có quá nhiều cái tên và tất nhiên đó là một khoản tiền khổng lồ".

Song trên thực tế, người ta vẫn công bố một vài con số. Tháng 9/1999, lãnh đạo các doanh nghiệp đã tuyên bố, họ sẵn sàng bỏ ra 10 triệu USD để thực hiện chiến dịch lobby và quảng cáo ồ ạt. Hiệp hội Bàn tròn Kinh doanh cam kết sẽ dành hơn 6 triệu USD cho chiến dịch "Go Trade" của họ. Trước đó, BRT đã chi khoảng nửa triệu USD để triển khai 13 chương trình quảng cáo tại các tờ Congress Daily, Roll Call, The Hill, Congressional Quarterly, National Journal và CQ Monitor. Phòng Thương mại Mỹ (UCC) cũng đã bỏ 1 triệu USD cho nỗ lực này.

Do toàn bộ cộng đồng kinh doanh Mỹ đều ủng hộ PNTR cho Trung Quốc, nên những khoản đóng góp thực tế cho chiến dịch lobby còn lớn hơn rất nhiều so với con số đã công bố. Riêng UCBC tiết lộ 20 mạnh thường quân hàng đầu của họ đã góp tới 26,1 tỉ USD vào quỹ của các ứng viên và hai chính đảng trong mùa bầu cử 1996.

Đầu năm 2000, khi cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội đang tới gần, lãnh đạo các tập đoàn đã bắt đầu triển khai các chương trình quảng cáo nhằm vào một số vùng và hạt đặc biệt. Nội dung những đoạn quảng cáo này chủ yếu truyền tải tới những người nông dân vùng Tây Bắc nước Mỹ về huyền thoại một thị trường lúa mì rộng lớn và hấp dẫn của Trung Quốc, hay hấp dẫn người Florida bằng nhu cầu cam quýt của phương Đông. Riêng BRT đã tuyên truyền những công trình nghiên cứu chi tiết về lợi ích của việc buôn bán với Trung Quốc tại 62 hạt, UCC thì chủ trì những chiến dịch vận động để lãnh đạo tập đoàn viết thư cho các nghị sĩ đại diện cho bang của họ.

Khi các cựu Ngoại trưởng lên tiếng

Song có lẽ nơi chứng kiến hoạt động lobby sôi nổi nhất, mạnh mẽ nhất chính là Đồi Capitol. Tại đó, những nhân vật như Jeffrey Bergner - cựu chánh văn phòng Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng viện khi ấy là Richard Lugar, đảng Cộng hoà và David Castagnetti - cựu trợ lý hành chính của TNS Max Baucus, đảng Dân chủ đã nhận lời vận động giúp BRT.
Chiến lược lobby của Trung Quốc thậm chí phát huy hiệu quả tới mức người từng nắm giữ quyền lực tối cao của nước Mỹ như cựu Tổng thống George Bush cũng lên tiếng ủng hộ việc trao PNTR cho nước này. Theo tờ Nhân dân Nhật Báo, trong cuộc trả lời phỏng vấn với các phóng viên tại Austin, Texas, cựu Tổng thống Bush cho rằng buôn bán với Trung Quốc là một trong những vấn đề đối ngoại quan trọng nhất đối với Mỹ. "Chúng ta cần hợp tác với Trung Quốc, chứ không phải sử dụng biện pháp cứng rắn", ông nói.

Đặc biệt không thể thiếu trong chiến dịch lần này là những vị cựu Ngoại trưởng từng phục vụ chính quyền suốt 25 năm qua. Tiêu biểu trong số ấy là Henry Kissinger - người từng đóng vai trò trọng yếu trong nỗ lực làm tan băng quan hệ Mỹ-Trung dưới chính quyền Nixon.

Kể từ khi ấy, Kissinger đã trở thành một trong những người vận động không mỏi mệt giúp Trung Quốc. Ông làm việc cho khá nhiều liên doanh trị giá hàng triệu USD tại Trung Quốc bao gồm China Ventures. Công ty tư vấn Kissinger Associates của ông đã đại diện cho nhiều doanh nghiệp làm ăn tại Trung Quốc. Bản thân Kissingerr là cố vấn chính của Liên minh Kinh doanh Thương mại Mỹ-Trung.

Cùng tham gia vào nỗ lực này là Alexander Haig - Ngoại trưởng Mỹ thời Ronald Reagan. Trong nhiều năm, Haig đã tích cực vận động mở đường để các tập đoàn quân sự Mỹ bước vào thị trường Trung Quốc. Các khách hàng "có máu mặt" nhất của ông là tập đoàn United Technologies chuyên sản xuất động cơ phản lực, trực thăng, hệ thống định vị không gian và International Signal & Control.

Ngoài ra, còn một số nhân vật nữa phải kể đến ở đây là George Shultz, Ngoại trưởng thời Ronald Reagan, thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn Bechtel, một công ty xây dựng có tới trên 60 dự án tại Trung Quốc trong đó có dự án xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân. Lawrence Eagleburger, Ngoại trưởng thời Bush cha, hiện làm cố vấn cho công ty tư vấn của Kissinger về các vấn đề thương mại với Trung Quốc.

Chính quyền Clinton vào cuộc

Bản thân Tổng thống Bill Clinton và chính quyền đảng Dân chủ không hoàn toàn dựa vào những tác động từ bên ngoài. Hơn ai hết, những nhân vật chóp bu trong chính quyền nhận thấy lợi ích to lớn từ việc trao cho Trung Quốc quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn và họ đã coi việc vận động Quốc Hội thông qua quy chế này là ưu tiên hàng đầu. Nhà Trắng bắt đầu một chiến dịch "bão táp" tại Đồi Capitol. "

Việc đó đã trở thành ưu tiên số 1 của Tổng thống. Mọi người đều bắt tay vào việc. Albright vừa được cử tới Boston, Barshefsky đang ở Philly, Summers ở New York, tất cả đều nói về những cam kết trong buôn bán với Trung Quốc", Daneil Cruz, phát ngôn viên của Nhóm công tác Thương mại Trung Quốc tại Nhà Trắng khi ấy phát biểu. "Mặc dù William Daley điều hành Bộ Thương mại, nhưng gần đây, ông ta dành tới 90% thời gian của mình cho vụ này".

Còn phát ngôn viên Nhà Trắng lúc đó là Joe Lockhart thì nói: "Hoàn toàn trung thực khi tuyên bố rằng không một ngày nào Tổng thống không tích cực tìm cách giành được sự phê chuẩn của Quốc hội cho quy chế PNTR với Trung Quốc".

Theo ông Lockhart, Tổng thống Clinton đã tiến hành hàng loạt cuộc gặp với các lãnh đạo Hạ viện và Thượng viện, cả với những người ủng hộ và còn đang do dự, và đặc biệt với các vị Tổng giám đốc những tập đoàn công nghệ cao. Những cuộc tiếp xúc này đã đem lại nhiều tiến triển cho chiến dịch vận động. Đặc biệt sau cuộc gặp giữa ông Clinton với Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Trent Lott (đảng Cộng hoà) ngày 8/3/2000, ông Lott đã ngỏ ý sẵn sàng thông qua quy chế.

Vấn đề chính còn tồn tại là làm sao giành được sự hậu thuẫn của số đông các nghị sĩ đảng Dân chủ tại Hạ viện - những người không mấy sẵn lòng giành PNTR cho Trung Quốc. Tháng 4/2000, Clinton đã mời nhiều nhóm thành viên Hạ viện tới Nhà Trắng để giải thích cho họ biết lý do tại sao ông muốn Quốc hội thông qua quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn với Trung Quốc.

Sau đó, bất chấp thực tế vẫn còn khá nhiều nhân vật tại Hạ viện chống đối, chính quyền Clinton đã yêu cầu các lãnh đạo đảng Cộng hoà tại Hạ viện sắp xếp một cuộc bỏ phiếu về quy chế này trước tháng 6/2000. Chính quyền hy vọng rằng bằng cách đặt ra thời hạn sớm cho cuộc bỏ phiếu về PNTR cũng như việc chấm dứt quy chế xét lại MFN hàng năm, các nghị sĩ đảng Dân chủ sẽ không có được quyền xem xét sau mỗi năm và sẽ bị buộc phải đưa ra quyết định về PNTR.

Nỗ lực của chính quyền Clinton đã lên tới mức cao trào vào ngày 15/3/2000 khi Bộ trưởng Thương mại William Daley tuyên bố rằng việc tăng tốc chiến dịch này là một ván cờ chính trị "đáng chơi". Chính Daley là người đi đầu trong những nỗ lực vận động hành lang cho PNTR của chính quyền tại Đồi Capitol.

Cuối cùng, sau những nỗ lực không mệt mỏi của chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, Hạ viện đã thông qua quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNRT) cho Trung Quốc vào cuối tháng 5/2000.

Tuy nhiên, do Trung Quốc chưa trở thành viên của WTO nên đạo luật này chưa thể có hiệu lực ngay. Phải tới hơn 1 năm sau đó, vào ngày 27/12/2001, tức là sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã chính thức tuyên bố trao quy chế này cho Trung Quốc, hoàn tất bước cuối cùng trong quá trình bình thường hoá quan hệ thuơng mại giữa hai bên.

Đây có thể coi là một thành công vang dội trong nỗ lực lobby cho Trung Quốc. Nó là kết quả của một chiến dịch vận động kết hợp trong - ngoài, với những kế hoạch quảng cáo rầm rộ, những khoản đóng góp không thể ngờ và sự tham gia của một bộ phận đông đảo các nhân vật có ảnh hưởng nhất nước Mỹ từ chính trị gia tới các nhà tài phiệt hàng đầu. Đối với chính quyền Clinton, cuộc vận động trường chinh cho Trung Quốc đã góp phần tạo ra di sản cho ông Clinton bất chấp thực tế nó sẽ phá huỷ mọi cơ hội để đảng Dân chủ giành lại đa số tại Hạ viện sau đó.

Nhưng để có được những thế lực hậu thuẫn năng động như vậy, cần phải thấy được vai trò của các nhà lãnh đạo Trung Quốc - những người đã sáng suốt nắm bắt thời cơ và sử dụng khéo léo ưu thế của mình: thị trường 1,3 tỉ người tiêu dùng và tốc độ phát triển kinh tế cao nhất châu Á-Thái Bình Dương

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:29 PM
Bài học Lobby của Trung Quốc
Khi cánh cổng WTO rộng mở

Việc giành đuợc quy chế PNTR từ Mỹ là một bước quyết định đưa Trung Quốc tiến vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trên thực tế, ngay từ thời gian đầu khi mới vận động PNTR, các doanh nghiệp Mỹ đã xác định rõ mục tiêu này..

Doanh nghiệp Mỹ được gì khi Trung Quốc vào WTO ?

Về mặt khách quan, giới kinh doanh Mỹ cho rằng việc trở thành thành viên của WTO sẽ giúp đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy Trung Quốc mở cửa hơn về thị trường. Song thực chất, mối quan tâm của họ lại hướng tới những vấn đề cụ thể hơn nhiều, tập trung phục vụ mục tiêu của từng tập đoàn tại Trung Quốc.

Trong báo cáo năm 1996 mang tiêu đề: "Trung Quốc và WTO: Một chỉ dẫn cần tham khảo", Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung đã nêu ra một số khía cạnh mà Mỹ có thể có lợi nếu Trung gia nhập WTO. Đó là:

1. Các công ty nước ngoài sẽ có thể bán hàng trực tiếp vào thị trường Trung Quốc mà không phải qua các công ty thương mại được cấp phép và cũng không vấp phải những đòi hỏi đầu tư vào Trung Quốc.

2- Các tập đoàn nước ngoài có khả năng thành lập liên doanh và sở hữu toàn bộ mạng lưới phân phối bao gồm cả việc bán những mặt hàng không được sản xuất tại Trung Quốc.

3- Những quy tắc cấm và hạn chế nhập khẩu vốn áp đặt cho những ngành công nghiệp "trụ cột" như điện tử, tự động hoá, máy móc và hoá học sẽ không còn hiệu quả.

4- Hàng loạt hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài như: mức thuế quan phân biệt, trợ cấp, các điều kienẹ phân bổ tín dụng và tài nguyên, việc chính phủ hạn chế và kiểm soát số dự án lắp ráp liên doanh, những đòi hỏi về địa phương hoá, hạn chế nhập khẩu và hạn chế về số vốn nước ngoài trong các dự án giao thông...sẽ bị xoá bỏ.

5- Tăng hình phạt đối với những vi phạm về bảo vệ sở hữu trí tuệ.

R.A. Deegan, Giám đốc chi nhánh tập đoàn Chevron tại Trung Quốc - công ty có những hoạt động khai thác dầu mỏ lớn nhất ngoài khơi Trung Quốc khi ấy nói thẳng rằng mối quan tâm chính của tập đoàn là làm sao giành được những cơ hội khai thác trong đất liền.

Mặc dù liên doanh Exxon China là công ty đầu tiên giành được giấy phép khai thác dầu đầu tiên trên đất liền, nhưng nhiều công ty nước ngoài hiện bị giới hạn hoạt động khai thác dầu khí của họ ở ngoài khơi.

Ngành công nghiệp dầu mỏ vốn quen với những dàn xếp liên doanh và chấp nhận chuyển giao công nghệ cùng nhiều điều lệ khác, do vậy những quy tắc của Trung Quốc dường như không mấy hợp lý đối với các công ty dầu khí.

Không chỉ có ngành dầu khí, ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng ủng hộ mạnh mẽ việc Trung Quốc gia nhập WTO. Đại diện của cả hai tập đoàn ô tô lớn nhất nước Mỹ là General Motors và Ford đều đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gia nhập này.

Pat Hawkins, Giám đốc General Motors tại Trung Quốc cho biết tập đoàn này coi những quy chế về thành lập liên doanh áp đặt lên khối sản xuất ô tô là khá phiền hà trong khi Stephanie Hallford của tập đoàn Ford thì tỏ ra hài lòng với những liên doanh đã thành lập được và chẳng hề lo ngại về việc giành quyền sở hữu 100% các nhà máy ô tô ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, Hallford cho rằng chính sách kinh tế vĩ mô là mối quan tâm chính của công ty và Ford muốn có tự do tín dụng để kích cầu. Ngoài ra, cả Hallford và Hawkins đều bày tỏ quan ngại về mức thúê cao.

Một vấn đề nữa đối mặt với ngành công nghiệp ô tô ở Trung Quốc là hạ tầng cơ sở. Trung Quốc không được trang bị đầy đủ để giải quyết tình trạng gia tăng sử dụng xe hơi. Thực tế, những thành phố lớn ở nước này đều phải chịu một lưu lượng giao thông quá sức và taxi xem ra nhiều hơn xe riêng.

Ngành công nghiệp xe hơi thậm chí đã phải vận động để chính quyền Trung Quốc xiết chặt tiêu chuẩn về ô nhiễm sau khi thấy rằng ở những thành phố bị ô nhiễm nặng trong nước này, lượng xe hơi xả khói nhiều sẽ dẫn tới thảm hoạ cho sức khoẻ cộng dồng, đe doạ doanh số bán của họ.

Sau những nỗ lực của giới sản xuất ô tô nước ngoài, Trung Quốc đã tuyên bố một giai đoạn cấm sử dụng xăng pha chì.

Các vấn đề khác được giới doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại Trung Quốc nêu ra là những ràng buộc trong việc chuyển giao công nghệ, đòi hỏi về cán cân ngoại tệ, cuộc tranh giành quyền điều hành với các đối tác trong liên doanh, quyền lợi đối với dịch vụ tại Trung Quốc, khả năng được giữ người lao động và tính minh bạch trong quy chế...Nói tóm lại, tất cả lợi ích của họ tại Trung Quốc đều đòi hỏi phải có một thoả thuận cuối cùng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. Để có được những ưu đãi ấy, Trung Quốc phải gia nhập WTO.

Với những nỗ lực của chính phủ Trung Quốc, cộng với chiến dịch vận động hành lang của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, cuối cùng Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 11/12/2001.

Khi Trung Quốc đã hiểu lobby

Từ sau khi gia nhập WTO, cánh cửa của thị trường Trung Quốc càng rộng mở đón các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư. Việc gia nhập WTO với mức thuế quan ưu đãi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc tiến vào thị trường các nước để thúc đẩy kinh doanh. Trong quá trình khám phá, tìm hiểu và chinh phục ấy, một chiến lược không thể thiếu của họ là "lobby".

Theo báo cáo của The Center for Public Integrity được tiến hành dựa trên những thông tin cung cấp cho Bộ Tư Pháp Mỹ theo Đạo luật đăng ký Làm việc cho nước ngoài (FARA), các doanh nghiệp Trung Quốc đã thuê nhiều công ty lobby xuất chúng và có quan hệ sâu rộng nhất, những chuyên gia PR uy tín và nhiều công ty luật danh tiếng tại Washington để vận động cho họ.

Tiêu biểu trong số này là Jones Day, Patton Boggs, Hogan&Hartson, WPP với các chi nhánh Wexler and Walker Public Policy Associates, Hill&Knowlton, Inc. và Burson-Marsteller... Hợp đồng với các công ty trên bao gồm đủ loại dịch vụ, từ việc sắp xếp các cuộc gặp với Thượng nghị sĩ Mỹ tới những chiến dịch thuyết phục Quốc hội Mỹ phê chuẩn những đạo luật về thương mại, thuế quan...ảnh hưởng tới Trung Quốc.

Các chuyên gia PR và vận động hành lang giúp Trung Quốc đã tiếp xúc với nhân viên Quốc hội Mỹ, thết đãi các nghị sĩ Mỹ, tiếp cận với những tờ báo có ảnh hưởng từ Washington Times tới New York Times...

LOBBY.VN
03-16-2010, 02:33 PM
Chuyện công ty Trung Quốc mua hãng dầu Mỹ

Từ khi trở thành thành viên của WTO, các cơ hội làm ăn với nước ngoài, nhất là với Mỹ liên tiếp tới tay doanh nghiệp Trung Quốc. Để khai thác hiệu quả cơ hội ấy, Trung Quốc đã chủ động đẩy mạnh chiến lược lobby. Một trong những hoạt động lobby nổi bật nhất của phía Trung Quốc thời gian gần đây là vụ đấu thầu công ty dầu khí Unocal (California)của Tổng Công ty dầu ngoài khơi Trung Quốc.

CNOOC là ai ?

Sáu năm trước, một công ty dầu lửa mang tên Tổng Công ty Dầu ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC Ltd) lần đầu tiên bước vào thị trường tài chính Phố Wall với một đề nghị mua bán công khai tại New York và Hongkong. Nhưng họ đã thất bại. Đề nghị không hợp thời, lời tư vấn không đúng đắn từ các ngân hàng và lợi ích cho nhà đầu tư quá "mờ mịt" đã buộc CNOOC phải rút thầu vào phút cuối, đợi thêm hơn 1 năm nữa trước khi thử lại.

"Đó là một quá trình học hỏi", Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC Phó Thành Hội, người giữ chức Phó Chủ tịch CNOOC khi ấy nói. "CNOOC là một công ty lớn, nhưng chưa ai hiểu chúng tôi. Chúng tôi quyết tâm sẽ không bao giờ mắc sai lầm lần nữa".

6 năm sau, CNOOC lại quyết tâm làm người ta phải chú ý tới họ - và lần này cả thế giới chăm chú dõi theo. Họ tham gia vào một trong những vụ mua bán tập đoàn nước ngoài lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc: cạnh tranh với Tập đoàn Chevron - nhà sản xuất dầu lớn thứ 6 ở Mỹ, trong vụ đấu thầu công ty dầu khí Unocal - California với giá 18,5 tỉ USD. Vụ đấu thầu này cho thấy bước tiến mà CNOOC đã đạt được trong việc học hỏi những nghệ thuật tài chính tập đoàn Phố Wall và nền chính trị nhạy cảm của mối quan hệ Trung-Mỹ.

Theo nhận định của tờ Wall Street Journal khi ấy, với những kiến thức cần thiết về các mối quan hệ cộng đồng ở Mỹ, lại có sự hậu thuẫn to lớn về tài chính từ công ty mẹ và các ngân hàng trong nước, CNOOC có thể tạo ra một khuôn mẫu cho các công ty khác của Trung Quốc học hỏi.

Trên thực tế, ngoài CNOOC, một số công ty khác của Trung Quốc cũng thực hiện chiến thuật của Mỹ để mở rộng quy mô. Khi tập đoàn International Business Machines Corp bán một công ty máy tính tư nhân cho tập đoàn Lenovo Trung Quốc với giá 1,75 tỉ USD, đã có nhiều tiếng nói phản đối từ phía Quốc hội Mỹ. Lập tức, IBM đã phải viện tới Brent Scowcroft, cựu cố vấn an ninh quốc gia Tổng thống Ford và George H. W. Bush để họ duy trì vụ mua bán này.

Một ví dụ khác là nhà sản xuất đồ gia dụng Thanh Đảo Haier Ltd. đã phải hợp lực với hai công ty cổ phần khác của Mỹ để trả giá cao hơn cho nhà sản xuất máy giặt Maytag Corp trước sự cạnh tranh của Ripplewood Holdings.

Hay như đầu năm nay, công ty Internet Trung Quốc - Shanda Interactive Entertainment Ltd niêm yết tại sàn chứng khoán Nasdaq bắt đầu mua cổ phần từ tập đoàn Sina Corp.

Tuy nhiên, quy mô và sự tinh vi trong chiến lược của CNOOC có thể coi là chưa từng có tiền lệ đối với một tập đoàn Trung Quốc. Nó làm người ta có cảm giác CNOOC sẽ là công ty đầu tiên trong số 3 công ty dầu mỏ của Trung Quốc dám đảm nhận trọng trách khó khăn này. Trong khi hai công ty dầu khí khác là PetroChina Co. và Tổng công ty Hoá Dầu Trung Quốc có tiềm lực tài chính lớn hơn, nhưng CNOOC lại nhanh nhẹn và có kinh nghiệm nhiều hơn trong việc giao dịch với các công ty nước ngoài và theo một chừng mực nào đó, CNOOC có phong cách quản lý "Tây phương" hơn.

Khác với hai công ty kia, CNOOC chỉ có 2.524 nhân viên và một loạt nhà máy liên doanh với công ty nước ngoài bao gồm Chevron chuyên sản xuất, khai thác dầu ngoài khơi Trung Quốc. Một nửa trong số 8 thành viên thuộc Hội đồng quản trị không phải là giám đốc điều hành, tất cả họ đều là người nước ngoài. Các cuộc họp của Hội đồng quản trị CNOOC được tiến hành bằng tiếng Anh. Sự bình đẳng ở đây được thể hiện khá rõ: hồi tháng 3, khi một trong số các giám đốc độc lập của CNOOC là Kenneth Courtis bày tỏ quan ngại về vụ mua bán Unocal, Chủ tịch Phó đã lập tức đồng ý hoãn việc đấu thầu để các giám đốc công ty có nhiều thời gian nghiên cứu hơn.

"Dù CNOOC là một công ty có đa phần vốn thuộc sở hữu của nhà nước, chúng tôi vẫn điều hành nó với phong cách không khác mấy so với các công ty phương Tây", ông Phó nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Wall Street Journal. Việc lên kế hoạch đấu thầu Unocal của CNOOC xuất phát từ những bài học mà công ty này đã tích luỹ được từ một loạt vụ giao dịch nhỏ hơn trong vòng vài năm trở lại đây, bắt đầu từ thất bại trong nỗ lực đầu tiên tháng 10/1999. Cho rằng sai lầm của họ là đã "trao số phận của vụ mua bán" vào tay một ngân hàng đầu tư đơn độc, các quan chức CNOOC đã xác định phải thuê ít nhất hai nhà băng tham gia vào bất kì vụ giao dịch nào. Họ cũng quyết định phải đóng vai trò tích cực hơn trong việc giám sát hoạt động của các ngân hàng.

Chuẩn bị

Nắm trong tay một số lượng lớn tài chính, CNOOC đã vạch ra một chiến lược mở rộng các nhà máy sản xuất khí tự nhiên. Năm 2002, CNOOC đã trả cho Repsol YPF SA của Tây Ban Nha 585 triệu USD để mua các mở dầu và khí tại Indonesia, biến công ty này trở thành nhà sản xuất khí ngoài khơi lớn nhất Indonesia. Sau vụ này, CNOOC tiếp tục các vụ giao dịch tại Indonesia và Australia. Trong 4 năm qua, thông qua việc mở rộng và sáp nhập, CNOOC đã tăng sản lượng dầu hàng ngày thêm 57%, lên mức 382.513 thùng.

Nhưng phải đến khi ông Phó Thành Hội được tiến cử lên vị trí cao nhất - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC tháng 10/2003, CNOOC mới có cơ hội để tham gia vụ đấu thầu Unocal. Khác với những người tiền nhiệm, ông Phó sẵn sàng mạo hiểm để mở rộng CNOOC. Trong khi các Chủ tịch trước của CNOOC thích những vụ mua bán kín đáo, và tiến hành các cuộc thương lượng song phương với đối tác thì ông Phó lại thích có một bước tiến dài về quy mô mà việc mua Unocal có thể phù hợp với chiến lược này.

Để chuẩn bị cho kế hoạch đầy tham vọng ấy, CNOOC đã huy động 3 ngân hàng đầu tư, 3 công ty luật, 2 nhóm hoạch định chiến lược truyền thông và một công ty lobby của Texas có mối quan hệ với Nhà Trắng. Vận dụng những chiến thuật tương tự như một chiến dịch tranh cử chính trị tại Mỹ, các cố vấn của CNOOC đã thiết lập ra những "phòng chiến tranh" tại Washington và Bắc Kinh để đối phó với thách thức chính trị nảy sinh từ vụ đấu thầu đồng thời giành sự ủng hộ của các cổ đông Unocal.

Bản thân ông Phó Thành Hội còn có ý định tới Washington để gặp các thành viên tại Quốc Hội với tư cách đại diện cho một công ty Trung Quốc mà đa phần người Mỹ chưa rõ tên tuổi.

Tháng 2/2005, CNOOC chính thức thuê J.P. Morgan Chase & Co. và Goldman Sachs Group Inc. Ông Phó Thành Hội đã chọn ra một chủ ngân hàng uy tín là Charles Lý - thuộc J.P. Morgan để cố vấn cho CNOOC.

Nắm được "luật chơi" của người Mỹ, CNOOC tập hợp một đội ngũ các công ty cố vấn trụ sở tại Mỹ để giúp họ hoạch định chiến lược lobby. Đi đầu trong nỗ lực này là Akin Gump Strauss Hauer & Feld, một công ty luật tại Dallas có quan hệ sâu rộng với cả hai chính đảng tại Quốc hội Mỹ. Thành viên của Akin Gump là những nhà vận động gây quy chính cho Tổng thống Bush, tiêu biểu là Alan D. Feld và Jamesd C. Langdon Jr. Một nhà gây quỹ quan trọng khác cho ông Bush là Bill Paxon, cựu Hạ nghị sĩ đảng Cộng hoà. Hiện ông này là cố vấn cao cấp của Akin Gump.

Một công ty luật danh tiếng khác của Texas là Public Strategies Inc, Austin cũng được CNOOC lựa chọn để phụ trách các vấn đề truyền thông. Hiện công ty này đang chịu sự cố vấn của Brunswick Group - một công ty chiến lược truyền thông chuyên về các vụ sáp nhập và mua bán. Thông qua Public Strategies, CNOOC đã có những quan hệ khá gần gũi với Nhà Trắng. Một trong những Giám đốc điều hành của công ty này là Mark McKinnon từng phụ trách chiến dịch truyền thông của Tổng thống Bush trong mùa bầu cử 2004. Tuy nhiên, McKinnon không trực tiếp làm việc cho CNOOC. Nhân vật phụ trách là Mark Palmer, một chuyên gia về truyền thông thời khủng hoảng.

Ngoài ra, các công ty luật khác như Davis Polk & Wardwell hay Herbert Smith của Hongkong cũng làm việc cho CNOOC.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images988217_T7.jpg
Akin Gump - một trong những công ty lobby hàng đầu được CNOOC thuê

Hành động

Thách thức đối mặt với CNOOC lúc này là làm sao: giới thiệu CNOOC với các quan chức Mỹ và hướng sự chú ý của dư luận Mỹ vào động cơ kinh doanh thuần tuý phía sau vụ mua bán này. Đây là một nhiệm vụ không hề đơn giản nhất là trong bối cảnh hai bên đang vướng mắc về vấn đề hàng dệt may. Nơi gai góc nhất có lẽ là Đồi Capitol.

Đại diện cho CNOOC, Akin Gump đã huy động 13 nhà vận động hành lang có nhiều quan hệ nhất đi đầu là Daniel Spiegel - cựu Đại diện thường trực Mỹ tại LHQ dưới chính quyền Clinton. Mục tiêu của họ là nhằm giành được sự ủng hộ của các nghị sĩ và quan chức Nhà Trắng cho thương vụ của CNOOC.

Theo báo cáo của The Center for Public Integrity, chỉ trong vòng 8 ngày cuối tháng 6, các nhà vận động hành lang của Akin Gump đã tiến hành 250 cuộc tiếp xúc, liên lạc với Văn phòng Tổng thống, Văn phòng Phó Tổng thống, Bộ Năng lượng, Bộ Thương Mại và hàng tá nghị sĩ cùng phụ tá nghị sĩ khá. Trong khi các nhà vận động hành lang chính gõ cửa nhà từng nghị sĩ, những người khác tại Akin Gump miệt mài bên điện thoại và máy vi tính. Họ gửi đi những bức email chứa thông tin về CNOOC đồng thời phân phát các bài báo "khen ngợi" về công ty này.

Bản thân các lãnh đạo CNOOC đi đầu là Phó Thành Hội cũng tham gia vận động hành lang tại nghị trường nước Mỹ. Ngày 22/6/2005, các thành viên trong Quốc hội đã nhận được một bức email từ CNOOC với nội dung bảo vệ vụ mua công ty Unocal. Bức email được ký tên Phó Thành Hội, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CNOOC. Trong thư, ông Phó đã cố gắng trấn an một số quan ngại mà thương vụ này đặt ra về an ninh năng lượng Mỹ bằng cách nhấn mạnh rằng: sản lượng dầu và khí của Unocal chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng lượng tiêu thụ ở Mỹ.

Ông lặp lại rằng đề xuất của CNOOC sẽ mang lại lợi ích cho các cổ đông của Unocal và đảm bảo toàn bộ công nhân đang làm việc cho Unocal ở Mỹ sẽ tiếp tục việc làm của họ một khi vụ sáp nhập hoàn tất.

"Chúng tôi biết rằng đây là vụ mua bán lịch sử đối với cả hai bên và tất cả những ai liên quan sẽ giám sát nó một cách chặt chẽ. Tôi muốn các ngài biết rằng chúng tôi khuyến khích việc giám sát và vinh dự có cơ hội tham gia cuộc chơi", trích nội dung bức thư.

Cuối thư, Chủ tịch CNOOC không quên lưu ý: nếu các nghị sĩ Mỹ cần thêm thông tin gì, họ có thể liên lạc với các cố vấn của CNOOC tại công ty luật Akin Gump Strauss Hauer & Feld, Washington

Chính phủ Trung Quốc cũng có một số động thái giúp đỡ CNOOC. Tại một hội nghị năng lượng tổ chức ở New Orleans, Phó Chủ tịch Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Zhang Guobao, tuyên bố: "Việc tuyên truyền về "nguy cơ Trung Quốc" và cố tìm cách kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc, chặn đứng nhu cầu năng lượng của người Trung Quốc sẽ không phục vụ sự ổn định và phát triển của thế giới. Những nỗ lực ấy cuối cùng sẽ thất bại".

Còn trong một tuyên bố đưa ra sau đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích Quốc hội Mỹ vì "những suy nghĩ sai lầm" đồng thời yêu cầu các nghị sĩ chấm dứt "can thiệp" vào vụ đấu thầu của CNOOC. "Việc CNOOC muốn mua công ty Unocal của Mỹ là một hoạt động thương mại bình thường giữa các doanh nghiệp và nó không nên trở thành nạn nhân của bất kì sự can thiệp chính trị nào", trích tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Nhưng sau tất cả những nỗ lực ấy, vụ mua bán cuối cùng thất bại. Ngày 2/8, CNOOC chính thức tuyên bố rút khỏi cuộc cạnh tranh. Đã có rất nhiều sự chỉ trích nhằm vào phía Mỹ và động viên dành cho CNOOC. Đây là một bài học kinh nghiệm đắt giá đối với người Hoa nhưng nó không làm cho họ nhụt chí. Như bình luận của tờ New York Times, sự tháo lui đó giống như một chiến thuật mà Binh Pháp Tôn Tử nổi tiếng của Trung Hoa đã nêu ra từ hơn 2500 năm trước

LOBBY.VN
03-17-2010, 05:57 PM
Dân tộc vận động hành lang

Dân tộc Do Thái là dân tộc với nhiều bí ẩn, rất nhiều bạn đọc muốn tìm hiểu bí mật thành công của người Do Thái. Trong bài viết này tôi muốn trình bày góc nhìn mới về dân tộc Do Thái, góc nhìn họ là một dân tộc vận động hành lang.

1.Khái niệm Tiền – Tri thức – Trí tuệ của người Do Thái

Trong quá khứ và hiện tại dân tộc Do Thái luôn được gắn với phẩm chất về tri thức và trí tuệ. Dân tộc Do Thái có lẽ là dân tộc giàu có nhất trên thế giới nếu tính đến tài năng. Những cái tên Do Thái có tầm ảnh hưởng đến toàn nhân loại luôn nằm trên đầu các danh sách ở hầu hết mọi lĩnh vực, tư tưởng, chính trị, văn học, giải trí, tài chính.

Do Thái là một dân tộc rất coi trọng trí tuệ. Thành công của họ cũng thường do cực kỳ mưu trí mà giành được, đặc biệt chỉ riêng về doanh nhân Do Thái vai trò của họ đến nền tài chính thế giới đã nói lên tất cả. Những giá trị hữu hình như tài chính tiền tệ có thể rất dễ nhận biết nhưng khái niệm Trí Tuệ lại là một khái niệm rất mơ hồ đụng chạm đến một phạm vi rộng lớn. Nó được định nghĩa không rõ ràng, do đó trí tuệ là gì cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo các doanh nhân Do Thái trí tuệ là gì?

Người Do Thái có một chuyện vui cười nói về mối quan hệ giữa trí tuệ với của cải: Có hai học giả nói chuyện với nhau.


Trí tuệ và tiền bạc cái nào quan trọng hơn ?
Tất nhiên là trí tuệ quan trọng hơn !

Vậy tại sao người có trí tuệ lại phải làm việc cho người giàu có nhiều tiền bạc. Người giàu lại không phải phục vụ người có trí tuệ. Ai cũng đều thấy các học giả triết gia phải chiều lòng theo ý muốn các triệu phú, còn các triệu phú lại có thái độ trịnh thượng đối với người có trí tuệ.

Người có trí tuệ biết được giá trị của tiền bạc, còn triệu phú liệu có luôn hiểu rõ giá trị của trí tuệ? Không thể cho rằng lời nói của học giả thiếu đạo lý bởi con người ta có biết được giá trị của đồng tiền mới đi làm việc cho nhà giàu. Chỉ những ai không biết giá trị của trí tuệ mới lên mặt đối với bậc trí giả. Rất khó thể hiểu được hết ý nghĩa sâu xa của nó bản thân khái niệm của Trí Tuệ và Tiền Bạc là một nghịch lý.

Người có trí tuệ đã biết được giá trị của tiền bạc, vậy tại sao không dùng trí tuệ để kiếm tiền bạc? Biết được giá trị của đồng tiền nhưng vẫn phải dựa vào sự phục vụ các triệu phú để kiếm sống. Trí tuệ như vậy có gì và còn đáng được coi trọng không?

Tuy trí tuệ của các học giả triết gia được gọi là “Trí Tuệ” nhưng không phải là trí tuệ thực sự vì nó không có quan hệ gì với đồng tiền. Trí tuệ phải chịu trước sự kiêu hãnh của đồng tiền sao có thể quan trọng hơn tiền bạc. Trái lại các triệu phú không có trí tuệ như học giả nhưng lại biết chi phối đồng tiền thu nhận được giá trị của nó. Họ có trí tuệ dựa vào đồng tiền để sai khiến trí tuệ của các học giả đó mới là trí tuệ thức sự.

Và người Do Thái đã đưa ra một khái niệm tổng quát về đồng tiền như sau:

Đồng tiền sống có thể không ngừng sinh ra tiền mới, quan trọng hơn, trí tuệ chết không sinh ra tiền. Trái lại trí tuệ sống có thể sinh ra tiền còn đồng tiền chết không thể sinh ra tiền mới. Trí tuệ hoá nhập với đồng tiền được gọi là trí tuệ sống. Đồng tiền hoá nhập với trí tuệ được gọi là đồng tiền sống. Rất khó để phân biệt ngôi thứ giữa trí tuệ sống và đồng tiền sống. Thực tế hai vấn đề này đồng thời là một nó chỉ là một sự kết hợp đầy đủ chặt chẽ giữa nhau.

Xây dựng được mối quan hệ đồng nhất giữa trí tuệ và tiền bạc giúp các thương gia Do Thái trở thành những nhà buôn trí tuệ nhất.


Người Do Thái coi trọng quá trình học tập suốt đời, học tập phải suy nghĩ, họ có thể không cần phải học tập trong các trường chính quy, học có thể tự học để có được tri thức cần thiết. Không phải ai có tri thức cũng có trí tuệ, người có trí tuệ là người biết dùng tri thức mình có để kiếm tiền. Nếu người có trí thức uyên bác mà không biết dùng tri thức đó kiếm tiền thì trí thức đó chỉ là những cái trống rỗng như một kẻ cõng trên mình cả đống sách mà không biết dùng để làm gì thì cũng vô dụng.

Trong lịch sử Do Thái đã từng ghi nhận rất nhiều những tấm guơng cả cuộc đời chưa từng được bước chân vào một trường học chính quy nhưng họ vẫn trở thành những nhân vật giàu có bậc nhất, tri thức tự học và trí tuệ của họ đã làm nên điều đó.

2. Quy luật vận động của tự nhiên

Thế giới vận động theo các quy luật của tự nhiên, muôn loài trên trái đất tồn tại và phát triển phải tuân theo các quy luật tự nhiên đó. Loài vật nào có bản năng sinh tồn mạnh mẽ thì sẽ tồn tại, tiến hóa và phát triển, loài vật nào thụ động không biến đổi kịp với quy luật tự nhiên thì sẽ bị tiêu diệt. Tự nhiên rất đa dạng, ở các vùng đất đồng bằng phù xa mầu mỡ cây cuối rất dễ phát triển, cây cối vùng đất này có đặc trưng là thân mềm, yếu ớt trước sóng gió. Vùng đất khô cằn, núi đá vôi thì cây cối thường phát triển chậm, thân cứng, rắn chắc…đó là nơi các cây gỗ quý như gỗ Lim, pơ mu…

Trong thế giới động vật, con vật nào mà sinh mạng luôn bị đe dọa thì các giác quan chống lại sự săn đuổi của kẻ thù sẽ rất phát triển. Tai thính hơn, mắt sáng hơn, chân chạy nhanh hơn…môi trường sống khắc nhiệt là điều kiện để loài vật tiến hóa nhanh , phát triển để đảm bảo cơ hội tồn tại trên thế giới này, chậm phát triển con vật đó nhanh chóng trở thành miếng mồi ngon của kẻ săn mồi, đánh mất cơ hội tồn tại.

Dân tộc Do Thái được biết đến là dân tộc có bản năng sinh tồn mạnh mẽ, dân tộc lưu vong suốt 2000 năm, bị các dân tộc khác áp bức, bóc lột nhưng họ vẫn tồn tại, phát triển và đạt được những thành tựu vĩ đại cả thế giới ngưỡng mộ.

Người Do Thái được ví như hình ảnh con Tắc Kè, nó phát triển khả năng thay đổi màu sắc cơ thể, đến môi trường nào nó lập tức thay đổi màu sắc để hòa lẫn vào môi trường đó, khả năng này giúp nó trốn tránh kẻ thù. Người Do Thái phải lưu vong từ quốc gia này sang quốc gia khác, họ phải nhanh chóng thích nghi với sự khác biệt về văn hóa, pháp luật, môi trường kinh doanh của quốc gia họ đi đến. Họ hòa nhập và xã hội mới, họ lao động, họ thành công và khi có ảnh hưởng lớn trong xã hội họ đủ khả năng thay đổi môi trường xã hội đó theo cách thức họ mong muốn

Họ vận động các chính sách đạo luật riêng cho cộng đồng Do Thái ở quốc gia họ sinh sống, họ gia nhập nhóm cộng đồng có đóng góp nhiều cho xã hội, được xã hội nể trọng. Ở nhiều quốc gia người Do Thái có ảnh hưởng đến mức có thể coi họ đã tiến hóa từ việc là con mồi trong quá khứ trở thành kẻ săn mồi trong hiện tại.

3. Dân tộc vận động hành lang

Truyền thống văn hóa, tư tưởng tôn giáo Do Thái hàng ngàn năm qua không thay đổi, nó có ảnh hưởng tới mọi hoạt động của mỗi cá nhân người Do Thái.

Dân tộc Do Thái là dân tộc sáng tạo luôn có tư tưởng chinh phục miền đất mới, vùng ảnh hưởng mới. Người Do Thái định cư ở tất cả các châu lục, sinh sống làm ăn ở hầu hết các quốc gia có nền văn hóa, kinh tế lớn và các quốc gia có vị trí địa lý quan trọng trên thế giới.

Người Do Thái có trí tưởng tượng đặc biệt, họ luôn tìm cách sáng tạo ra giá trị mới cho xã hội, những giá trị chưa từng tồn tại trong xã hội loài người. Người Do Thái thành công nổi bật trong lĩnh vực thương mại, tài chính, công nghệ…những lĩnh vực trừu tượng cần trí tuệ và khả năng biến đổi, đọc thời cuộc của dân tộc Do Thái.

Người Do Thái di cư sang Châu Âu sinh sống chủ yếu bằng hoạt động thương mại, họ giúp hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia phát triển. mang hàng hóa từ vùng đất này sang vùng đất khác để kiếm lợi nhuận. Mạng lưới người Do Thái phân bố khắp các quốc gia giúp họ tạo quyền lực thương mại đối với các dân tộc khác, họ là dân tộc cung cấp các dịch vụ trung gian, môi giới cho các dân tộc khác.

Ví dụ người Do Thái sống ở Đức và Pháp có liên hệ chặt chẽ với nhau và ngày càng có ảnh hưởng trong xã hội. Khi Đức và Pháp thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược lẫn nhau dân Do Thái đứng ở giữa bán vũ khí, lương thực…cho cả hai bên tham chiến. Những cuộc chiến tranh giúp cho dân tộc Do Thái tích lũy được nguồn vốn khổng lồ đây là nền tảng xây dựng ảnh hưởng dân tộc hùng mạnh đến tận ngày nay.

Dân tộc bản địa với quy mô dân số lớn, có nền văn hóa riêng, có nền sản xuất phát triển là những kẻ viết luật chơi cho xã hội, người Do Thái chỉ là con tắc kè phải thích nghi với các luật chơi biến đổi của dân tộc bản địa. Dân tộc bản địa luôn coi dân Do Thái là dân tộc lật lọng, cơ hội, sau mỗi cuộc chiến nền kinh tế khó khăn thì họ cần dân Do Thái giúp họ thúc đẩy hoạt động thương mại, khôi phục kinh tế. Khi nền kinh tế đi vào ổn định họ không cần dân Do Thái nữa thì họ đưa ra các đạo luật giới hạn hoạt động người Do Thái, xây dựng đạo luật bài Do Thái…cuộc sống và sinh mạng dân tộc Do Thái luôn bị đe dọa…đây cũng chính là môi trường khắc nghiệt, là động lực để người Do Thái sáng tạo phát triển.

Trong quá khư dân tộc Do Thái được xã hội đánh giá là dân tộc môi giới, trung gian giữa các vùng ảnh hưởng. Luôn luôn tìm cách phục vụ lợi ích của ảnh hưởng để tìm con đường sống, tìm lợi ích cho dân tộc. Các khái niệm dân tộc thuyết khách hay dân tộc vận động hành lang cũng là phẩm chất trời phù của dân tộc Do Thái.

Trên trái đất này có hàng ngàn dân tộc sinh sống, mối dân tộc có lịch sử, truyền thống qua hàng ngàn năm, muốn được thế giới biết đến mỗi dân tộc cần tập trung sáng tạo phát triển phẩm chất nổi bật nhất của mình. Đóng gióp các giá trị mới cho nhân loại, những giá trị mà các dân tộc khác phải học tập, phải sử dụng giá trị đó.

Đi tìm giá trị cốt lỗi của dân tộc, lên kế hoạch xây dựng sức mạnh cho giá trị cốt lõi đó là mục tiêu mà không nhiều dân tộc trên thế giới này đạt được. Là người Việt Nam tôi và bạn luôn muốn tìm câu trả lời “Giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam là gì” làm thế nào để xây dựng sức mạnh cho giá trị đó.

Người Do Thái nắm quyền chi phối sức mạnh thương mại, tài chính, công nghệ toàn cầu. Mỗi người Do Thái luôn có trong mình tư duy của một ông chủ, dân tộc Do Thái muốn làm ông chủ của thế giới.

Thương mại: Người Do Thái sở hữu các hãng vận tải lớn trên thế giới ở mọi hình thức vận chuyển như hàng không, đường biển…tư duy của một dân tộc đi buôn, mua đi bán lại mọi loại hàng hóa thế giới cần, mang hàng từ nơi sản xuất dư thừa đến nơi có nhu cầu tiêu thụ

Công nghệ: Người Do Thái đầu tư tiền xây dựng các trường đại học, xây dựng các phòng thí nghiệm để nắm được các công nghệ mới nhất trên thế giới. Tại Mỹ người Do Thái hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm lớn để tài trợ cho ý tưởng sáng tạo, phát minh công nghệ đột phá. Công nghệ là vũ khí tạo cho dân tộc Do Thái sức mạnh chinh phục thế giới nhanh nhất. Người Do Thái là chủ nhân sở hữu rất nhiều công ty công nghệ có ảnh hưởng toàn cầu hiện nay, các ông chủ tài chính Do Thái lựa chọn một người Do Thái tạo hình ảnh lãnh đạo lĩnh vực công nghệ đó

Tài chính: Người ta nói rằng các gia tộc Do Thái chi phối nguồn tài chính toàn cầu, các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn nhất thế giới đều nằm trong tay người Do Thái. Người Do Thái là ông chủ của trung tâm tài chính London, NewYork, dòng tài chính như dòng máu trong cơ thể không có máu cơ thể không thể sống được. Tài chính là hoạt động kinh doanh cao nhất của nền kinh tế, dân tộc nào nắm được lĩnh vực tài chính dân tộc đó sẽ là ông chủ của thế giới

Các dân tộc bản địa khác trên thế giới phát triển dựa vào nguồn tài nguyên, nguồn lao động sản xuất ra hàng hóa phục vụ cuộc sống con người khắp thế giới. Nguồn hàng hóa này muốn đến tay người tiêu dùng thì các nhà sản xuất phải bán lại cho hệ thống các nhà buôn quốc tế, nhà buôn tầm cỡ toàn cầu này chính là các nhà buôn Do Thái. Mua đi bán lại hàng hóa toàn cầu giúp họ kiếm được lợi nhuận còn lớn hơn lợi nhuận của những dân tộc sản xuất ra sản phẩm đó.

Dầu lửa, than đá, hàng may mặc, đồ gỗ, thực phẩm…tất cả hoạt động bị chi phối bởi các tổ chức tài chính

Lobby Vietnam Cub: Dân tộc Do Thái – Dân tộc vận động hành lang với sức mạnh tài chính, công nghệ và giá trị văn hóa truyền thống Do Thái đã viết luật chơi cho nền kinh tế toàn cầu. Vượt qua chính sách của các dân tộc bản địa với quy mô dân số lớn, quá trình lịch sử phát triển dân tộc biết cách đi giữa các vùng ảnh hưởng để sinh tồn. Các bạn có thể đọc qua các cuốn sách “Người Do Thái với thế giới và tiền bạc” – “Trí tuệ Do Thái” để có góc nhìn tổng quan hơn

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

thoidaianhhung
03-17-2010, 06:05 PM
Kiềm chế nghề lobby để loại bỏ các lợi ích ngầm trong điều hành của chính phủ


Hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng nghìn người vận động hành lang (lobby) có thể bị loại khỏi các ủy ban tư vấn trên phạm vi toàn nước Mỹ. Theo một số quan chức Nhà Trắng cũng như các chuyên gia vận động hành lang, đây được coi là một phần của chương trình hành động của chính quyền Obama trong việc kiềm chế ảnh hưởng của "Phố K." (tên một con phố thuộc thủ đô Washington - chỉ ngành công nghiệp "vận động hành lang" ở Mỹ - ND) lên hệ thống cơ quan Nhà nước.

Chính sách mới này được một nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng soạn thảo và thông qua một cách lặng lẽ là "đòn đau" nhất đối với nhóm người vận động hành lang ngay trong thời kỳ đầu nhiệm kỳ của ông Obama. Tổng thống Obama cũng đang yêu cầu cấp dưới tìm cách hạn chế khả năng để cho những người vận động hành lang làm việc cho bất kỳ cơ quan nhà nước nào.

Động thái này của chính quyền Obama nhắm đến những người vận động hành lang trong hệ thống các ủy ban tư vấn - vốn nhiều như sao sa, đến mức các quan chức liên bang cũng không nắm nổi số lượng. Một điều tra gần đây cho thấy có khoảng 1.000 ủy ban như thế với con số thành viên vượt quá 60.000 người.

Theo tính toán, với việc thực hiện chính sách này trong những tháng tới, khoảng 13.000 người vận động hành lang tại Washington không còn cơ hội tham gia các ủy ban vốn có nhiệm vụ cố vấn các vấn đề luật lệ thương mại, quy tắc về môi trường, bảo vệ người tiêu dùng cũng như hàng ngàn chính sách công khác.

Eisen, thành viên nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng, người tiết lộ chính sách mới này trên blog tại website của Nhà Trắng, nhận xét: Một số người vừa làm trong các ủy ban tư vấn vừa thực hiện việc vận động hành lang đối với chính phủ. Những lợi ích đặc thù mà những người này đeo đuổi nhiều khi không phù hợp với lợi ích quốc gia.

Sự thực là, phần lớn những người tham gia các ủy ban tư vấn không được trả thù lao. Họ thường được các công ty, tập đoàn, nghiệp đoàn "trải thảm đỏ" chỉ nhằm gây ảnh hưởng lên các quyết sách của chính phủ theo hướng có lợi cho doanh nghiệp hay tổ chức đó.

Các luật sư của chính phủ lo ngại rằng, chính phủ không thể "sa thải" những người làm nghề vận động hành lang ra khỏi các ủy ban tư vấn bởi lẽ các ủy ban này thường do các tổ chức tư nhân điều hành chứ không phải cơ quan trực thuộc hệ thống hành pháp. Tuy nhiên, các quan chức chính phủ cũng cho rằng, đa số bộ trưởng trong nội các đã bắt đầu để ý đến vấn đề này qua việc không phục hồi cũng như chấp nhận những người vận động hành lang tham gia các ủy ban tư vấn.

Phản ứng mạnh mẽ nhất trước quyết định của Nhà Trắng là Ủy ban Tư vấn công thương (ITAC). ITAC đổ lỗi cho chính phủ đã ban hành một chính sách sai lầm và có hại đối với các lợi ích kinh tế của Mỹ.

Một lá thư do lãnh đạo các ủy ban này gửi cho Tổng thống Obama nhận được sự ủng hộ của nhiều quan chức tại các tập đoàn lớn như Boeing, IBM, Harley-Davidson, Công ty Giấy quốc tế (International Paper)... "Chính sách của Nhà Trắng phá hủy lợi ích mà các ủy ban tư vấn đem lại", lá thư này nhấn mạnh - "Chính quyền đã dùng chính những thế mạnh của các chuyên gia tư vấn để loại họ ra khỏi hệ thống các ủy ban tư vấn".

Ví dụ, Ủy ban Tư vấn về thiết bị và vốn cho ngành công nghiệp ôtô đã khoanh tay đứng nhìn khoảng hơn 20 thành viên (bao gồm nhiều người vận động hành lang) bị "mất việc" khi ủy ban này tái cấu trúc vào đầu năm tới. Các nhà phân tích cho rằng, sự ra đi này bắt nguồn từ cuộc đấu tranh để tồn tại của các nhà sản xuất ôtô trong nước cũng như những nỗ lực của chính quyền Obama trong việc tái khởi động các cuộc thương thảo với Hàn Quốc và một số nước khác.

Brian T. Petty, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn về thiết bị và vốn cho ngành công nghiệp ôtô kiêm Phó chủ tịch cao cấp nhóm làm việc của Chính phủ Mỹ trong Hiệp hội Quốc tế các nhà thầu, nói: "Chính phủ đang tự kiềm chế ý kiến của các doanh nhân Mỹ trong các cuộc thương thảo này bằng cách loại bỏ những người xuất sắc nhất".

Phía các nhà hành pháp nhấn mạnh rằng, các cố vấn từ khối doanh nghiệp có thể tham gia các ủy ban tư vấn nếu họ không làm nghề vận động hàng lang. Eisen, thành viên nhóm cố vấn nội vụ của Nhà Trắng, trong lá thư trả lời lãnh đạo ITAC, viết rằng: "Những lập luận rằng chỉ có những người vận động hành lang mới có đủ kinh nghiệm để tư vấn đúng đắn là không thuyết phục".

"Nếu kết quả của chính sách mới (loại bỏ tiếng nói của người vận động hàng lang) dẫn tới việc các doanh nhân tham gia nhiều hơn vào các cuộc thảo luận về những chính sách liên quan tới họ (thay vì thông qua những người vận động hành lang), thì đó là điều tốt chứ. Những cố vấn chuyên nghiệp phục vụ những lợi ích đặc thù không cần thiết có mặt trong các ủy ban tư vấn. Hãy để những “giọng nói” mới lên tiếng".

Và mặc dầu những người vận động hành lang không vui lắm thì một số cố vấn có uy tín cho chính quyền lại cho rằng chính sách này rất đúng đắn. "Chính phủ cũng có thể mất nhiều chuyên gia giỏi nhưng các chuyên gia này cũng đã được trả công xứng đáng cho công việc của mình trong thời gian qua, họ đã có nhiều ảnh hưởng trong chính trường", Mary Boyle, Phó chủ tịch Common Cause (tổ chức đấu tranh nhằm lành mạnh hóa các cơ quan chính phủ đáp ứng yêu cầu của nhà nước và công dân - ND) nói. Chuyên gia này cũng bày tỏ sự "ủng hộ việc các cơ quan hành pháp đang làm nhằm loại bỏ các lợi ích ngầm ra khỏi công việc điều hành chính phủ"

LOBBY.VN
03-24-2010, 08:01 PM
Công nghệ lobby của các chính trị gia Anh

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/100323075116__47521458_trio226_pa.jpg
Các dân biểu Stephen Byers, Patricia Hewitt và Geoff Hoon nói họ không phạm luật

Các chính trị gia ở mọi phe phái đều nói thấy "sốc" và "kinh sợ" về việc các cựu bộ trưởng đảng Lao động đương quyền muốn đánh đổi việc gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ để lấy tiền.

Chỉ còn vài tuần nữa là tới kỳ bầu cử, họ biết kiểu thông tin như thế gây tác động tồi tệ tới đâu đối với các cử tri vốn đã khó chịu về vụ bê bối kê gian chi phí hồi năm ngoái.

Và tuy các dân biểu đảng Lao Động nay đang bị lôi ra ánh sáng, nhưng họ cũng biết rằng các câu chuyện tương tự đều xảy ra ở tất cả các nơi trong bộ máy chính trị. Đảng Bảo thủ thời nắm quyền cũng từng dính vào các bê bối vận động hành lang.

Lần này, các cựu bộ trưởng có liên quan, gồm Stephen Byers, Patricia Hewitt và Geoff Hoon, thì nói rằng họ chả làm gì sai, và dẫu câu chuyện này là đáng xấu hổ, nhưng chẳng có gì cho thấy họ đã vi phạm luật lệ gì, cho dù ông Byers đang phải đối diện với các câu hỏi cho rằng ông đã nói với các phóng viên bí mật về việc ông đã từng gây ảnh hưởng như thế nào.

Người ta nay đang đặt câu hỏi về chuyện sẽ có nhiều dân biểu rời khỏi Quốc Hội vào tháng tới, trong lúc nhiều mối liên hệ của họ sẽ vẫn tiếp tục có mặt trong chính phủ, và vấn đề quản lý hoạt động vận động hành lang.

Tại Hạ Viện Anh đang ngày càng có thêm đòi hỏi phải thắt chặt quy chế vận động hành lang và chấm dứt "cửa quay", tức chuyện các bộ trưởng sau khi rời chức vụ thì chuyển sang làm các công việc béo bở ở các ngành, trong lúc tiếp tục giữ chức dân biểu.

Vào lúc này, họ phải chờ 12 tháng trước khi nhận một vị trí trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Và mặc dù các lời mời chào công việc cần phải được một ủy ban xem xét trong thời gian 2 năm kể từ khi họ rời chính phủ, nhưng họ lại có quyền phớt lờ yêu cầu này.

Các dân biểu không được phép đưa ra trước Quốc Hội các câu hỏi và nhận tiền trả cho chuyện đó, và để đảm bảo quyền lợi công chúng, họ phải công bố mọi khoản tiền nhận được từ hoạt động vận động hành lang.

Công nghiệp

Trong ngành công nghiệp vận động hành lang trị giá tới 2 tỷ bảng này, có hàng trăm cựu dân biểu, cố vấn và quan chức được các hãng chuyên biệt với lượng khách hàng đa dạng tuyển dụng

Nhưng họ cũng được quyền tư vấn cho khách hàng về những cách thức tốt nhất nhằm thay đổi luật theo hướng có lợi hơn, và trong chuyện mở ra các cuộc họp với các nhà lập pháp.

Trên thực tế có tồn tại một khoảng mờ rất lớn quanh chuyện các cựu bộ trưởng thực sự được phép làm đối với các ông chủ doanh nghiệp.

Bởi hầu hết các hoạt động vận động hành lang diễn ra trong hậu trường, khó ai biết được mức độ ảnh hưởng thực sự của nó đối với các chính sách của chính phủ.

Stephen Byers thì thừa nhận ông đã phóng đại tầm ảnh hưởng của mình khi bị quay phim ông nói về mức giá mà ông đưa ra với các phóng viên ngầm.

Trong ngành công nghiệp vận động hành lang trị giá tới 2 tỷ bảng này, có hàng trăm cựu dân biểu, cố vấn và quan chức được các hãng chuyên biệt với lượng khách hàng đa dạng tuyển dụng.

Vận động hành lang trên thực tế chính là đời sống của hầu hết các nền dân chủ.

Ngay cả những người phản đối hoạt động này cũng không đòi phải cấm tuyệt đối. Các dân biểu phải được phép thay mặt cho các khu vực bầu cử của mình trình bày trước các bộ trưởng.

Hồi năm ngoái, chính phủ đã bác bỏ những lời kêu gọi của Ủy Ban Hành Chính Công, muốn chính thức hóa việc đăng ký hoạt động vận động hành làng, ghi chi tiết danh tính những người hoạt động trong lĩnh vực này, cho dù đó là các cựu bộ trưởng hay cựu quan chức, ai tuyển dụng họ và biên bản các cuộc họp giữa họ với những người có quyền ra quyết định.

Thay vào đó, chính phủ cho ngành này cơ hội cuối cùng để sắp xếp tự quản lý, và nói sẽ công bố chi tiết các cuộc họp giữa các bộ trưởng với các nhóm vận động.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/091104173622_cameron_pa226body.jpg
Lãnh tụ Bảo thủ David Cameron cảnh báo lobbying có thể sẽ trở thành vụ bê bối chính trị lớn

Tất nhiên, việc đăng ký sẽ trả lời được một số câu hỏi về những tiết lội liên quan tới các mối quan hệ giữa Byers với các bộ trưởng và các công ty, vốn đã bị công bố trên báo Sunday Times và kênh truyền hình Channel 4.

Nhưng những nhà vận động thì đang hy vọng là các tiết lộ mới nhất sẽ khiến chính phủ phải có thêm hành động.

"Thối rữa"

Đảng Lao động nay cam kết sẽ đưa việc đăng ký bắt buộc các nhà vận động hành lang vào cương lĩnh tranh cử.

Đảng Tự do Dân chủ cũng ủng hộ việc cần minh bạch nhiều hơn nữa.

Đảng Bảo thủ nói họ sẽ viết lại quy tắc hoạt động nhằm cấm việc các bộ trưởng nhận công việc vận động hành lang trong vòng hai năm sau khi rời nhiệm sở, và bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này sẽ đều có nguy cơ bị tước khoản hưu bổng.

Hồi đầu năm, lãnh tụ phe Bảo thủ David Cameron đã gây sốc cho ngành công nghiệp vận động hành lang khi nói lĩnh vực này nay đã vượt khỏi tầm kiểm soát và sẽ là vụ bê bối chính trị lớn sắp xảy ra.

Vấn đề là lúc nào cũng có chuyện các dân biểu và các cựu bộ trưởng kết thúc nhiệm kỳ tại Quốc Hội, cần tìm kiếm công việc mới, mà tài sản đáng giá nhất họ có thể đem ra tiếp thị chính là các mối liên hệ của mình

Brian Wheeler
Phóng viên chính trị, BBC News

LOBBY.VN
03-31-2010, 08:20 AM
Đạo đức kinh doanh

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/100322110204_0322_tinto226i.jpg

Nhân vụ xử bốn giám đốc công ty Rio Tinto, mời quý vị đọc bài của Michael Bristow, phóng viên BBC thường trú tại Bắc Kinh về chủ đề tham nhũng:

Hối lộ và các hình thức tham nhũng khác là những vấn đề thường gặp của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc.

Điều này có thể dẫn đến các công ty cho khách hàng các chuyến đi đắt tiền ra nước ngoài, các bữa ăn xa hoa và phong bì đỏ nhồi tiền mặt.

Nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp đều bị cuốn vào thế giới mờ ám đó. Một số công ty nói rằng họ tuân thủ các tiêu chuẩn cao mà họ quan sát ở những nơi khác.

Và một trong những cố vấn kinh doanh nước ngoài cho biết các công ty cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt sẽ luôn luôn làm tốt - ngay cả khi họ từ chối không hối lộ, tham nhũng.

Việc sử dụng hối lộ trong thế giới kinh doanh ở Trung Quốc đang trở thành trung tâm điểm vì phiên tòa liên quan đến bốn giám đốc điều hành làm việc cho công ty khai thác mỏ Anh-Úc Rio Tinto.

Bốn người này vừa bị kết án ở Thượng Hải chịu từ bảy đến 14 năm tù vì nhận hối lộ và ăn cắp bí mật thương mại.

Nhưng việc hối lộ là một vấn đề tới mức nào đối với các công ty nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc?

Một doanh nhân người Anh, người không muốn được nêu tên, nói rằng nó là một vấn đề lớn, đặc biệt ở các thành phố nhỏ hơn của Trung Quốc.

Thông thường trụ sở chính lại rất ít hiểu biết về Trung Quốc và các nhà quản lý khu vực thì thường giấu diếm nhiều thứ - Lockne, nhân viên hãng Springtime

Ông kể với đài BBC về một lần khi ông đã cố gắng thành lập một công ty liên doanh với một đối tác Trung Quốc ở tỉnh Sơn Đông.

Các cuộc đàm phán đã diễn ra trong nhiều tuần, nhưng không thành công, ông nói. Sau đó, tại một cuộc họp, ông được yêu cầu bước ra ngoài trò chuyện với một viên chức.

"Ông ta nói tất cả các vấn đề có thể vượt qua được - vì vậy tôi hỏi ông làm thế nào. Ông ta nói nó có thể được thực hiện nếu tôi đưa cho ông ta một triệu nhân dân tệ (tương đương $146,000)," doanh nhân người Anh kể.

Patrik Lockne, một cố vấn cho một hãng tư vấn Thụy Điển, cho biết một trong những vấn đề phổ biến là thiếu thông tin liên lạc giữa văn phòng chính của một công ty và chi nhánh của họ tại Trung Quốc.

Người nước ngoài làm việc tại Trung Quốc đôi khi bị cám dỗ muốn áp dụng các thói quen địa phương để được việc, ông nói.

"Thông thường trụ sở chính lại rất ít hiểu biết về Trung Quốc và các nhà quản lý khu vực thì thường giấu diếm nhiều thứ", ông Lockne, người làm việc cho hãng Springtime cho biết.

'Đi tới'

Điều này dường như đã xảy ra tại Rio Tinto.

Công ty tin vào sự vô tội của nhân viên mình khi họ lần đầu tiên bị giam giữ hồi tháng Bảy năm ngoái và nói rằng các cáo buộc hối lộ đối với các nhân viên này là "hoàn toàn không có cơ sở".

Tại thời điểm đó Rio Tinto cho biết nhân viên của nó đã hành động theo đúng nguyên tắc làm việc của công ty.

Nhưng sau bản án công bố hôm thứ Hai công ty cho biết bốn người làm việc tại Trung Quốc này đã thực hiện các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp theo cách riêng của họ "vượt ra ngoài hệ thống của chúng tôi". Công ty nay đã sa thải những người này.

Nhưng không phải tất cả các doanh nhân nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc đều bị cám dỗ làm điều gì đó thiếu đạo đức - và có thể là bất hợp pháp.

"Tôi nghe về nó và tôi chắc rằng nó đã và đang xảy ra, nhưng tôi nghĩ đó là cách làm ăn kinh doanh cũ - thời thế đã thay đổi", ông Rupert Utteridge, người điều hành công ty viễn thông kỹ thuật số của Úc nói.

"Chúng tôi mời đối tác đi ăn, nhưng tôi cũng làm như thế tại Úc hoặc Hong Kong," ông nói thêm.

Và, cuối cùng, xây dựng một doanh nghiệp thành công ở Trung Quốc có thể chỉ đơn giản là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tốt.

"Có tham nhũng ở Trung Quốc - tất nhiên là có", ông Brian Outlaw, giám đốc điều hành Hội đồng các doanh nghiệp Trung -Anh, chuyên tư vấn cho các công ty muốn thiết lập tại Trung Quốc.

"Nhưng các công ty có thể duy trì các tiêu chí đạo đức của họ. Họ có thể xây dựng theo cách thức giống hệt như bất cứ nơi nào khác - mà vẫn thành công," ông nói

BBCVietnam (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/03/100 329_china_corruption.shtml)

LOBBY.VN
03-31-2010, 04:40 PM
Google – Microsoft lại “đánh nhau” ở Los Angeles

- Ngay khi chính quyền Los Angles tuyên bố muốn thay thế hệ thống email cũ, cả Google và Microsoft đã nhảy vào và “mở một trận địa” mới ngay trong chính tòa thị chính.

Trận Waterloo

Với giá trị khoảng 7,25 triệu USD, bản hợp đồng thay thế hệ thống email của chính quyền Los Angles không phải là nhỏ nhưng thực sự, đó cũng không phải là miếng ngon quá lớn để Google và Microsoft phải “quyết một trận sinh tử”. Tuy nhiên, ý nghĩa lớn hơn đằng sau bản hợp đồng đó là sự quyết định vận mệnh của 2 trường phái trong ngành công nghiệp CNTT: Điện toán truyền thống với đại diện là Microsoft và điện toán đám mây với đại diện là Google.

Không ít người đã gọi đó là một “trận Waterloo” lịch sử trong giới công nghệ.

Để quyết tâm giành lấy chiến thắng, cả 2 đại gia này đã rất tích cực thực hiện các chiến dịch vận động hành lang với đội quân là những chuyên gia lobby từng trải và không loại trừ cả sự tác động gián tiếp của các quan chức cấp cao.

“Chiến trường đã mở ngay tại tòa thị chính Los Angles. Các quan chức của chúng tôi thường xuyên được “ghé tai nói nhỏ” rằng ông Tổng giám đốc Steve Ballmer của Microsoft hay Eric Schmidt của Google “sẽ hơn cả vui mừng” nếu được đến thăm tòa thị chính cùng với sự hiện diện của họ”, Tony Cardenas, Ủy viên hội đồng thành phố, chủ tịch ủy ban Công nghệ và thông tin nói.

“Đó sẽ là một bản hợp đồng lịch sử và dựa vào đó kẻ chiến thắng có thể nhân rộng sự ảnh hưởng của mình ra toàn nước Mỹ cũng như rộng hơn nữa là trên toàn thế giới”, Bernard C. Parks, thành viên của Hội đồng thành phố nói, “Sau này, họ chỉ cần nói chính quyền Los Angles là một trong những khách hàng của họ, rất có thể các khách hàng khác sẽ nhanh chóng đặt bút ký hợp đồng”.

Google sẽ thắng ?

Nhiều người tin rằng Google đang có lợi thế lớn hơn và hoàn toàn có thể giành chiến thắng.

Hơn một thập kỷ qua, thị trường phần mềm xử lý văn bản và email trong doanh nghiệp đã gần như là sân chơi của riêng Microsoft với thị phần chiếm hơn 70% và mang về cho hãng này nguồn doanh thu khoảng 20 tỷ USD mỗi năm.

Nhưng vị thế này đang bị đe dọa dữ dội bởi bộ phần mềm văn phòng Google Apps với ưu thế là gắn bó khá chặt chẽ với dịch vụ thư điện tử Gmail. Theo công bố của Google, hàng ngàn trường cao đẳng, đại học cũng như gần 2 triệu doanh nghiệp trên khắp thế giới đã ứng dụng thành công Google Apps.

Hầu hết các trường học và doanh nghiệp nhỏ hiện vẫn được sử dụng Google Apps miễn phí nhưng một số tập đoàn lớn như hãng công nghệ sinh học Genentech, hãng điện tử Motorola hay hãng sản xuất chip Fairchild Semiconductor đã phải chuyển sang sử dụng Google Apps có trả phí để phục vụ cho nhu cầu khổng lồ của mình.

“Đây là trận chiến quyết định đến tương lai của cả thế giới công nghệ và nếu Google thắng tương lai của chúng ta sẽ là đám mây 100%”, David B. Yoffie, giáo sư trưởng khoa chiến lược kinh doanh của trường đại học kinh tế Harvard nhận định.

Lợi thế của Google là chi phí thấp và sự tiện dụng bởi các dịch vụ đều được duy trì trên nền tảng web. Tất cả các chương trình, dữ liệu sẽ được lưu lại trên các máy chủ của Google và nằm trong một hệ thống mạng toàn cầu và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ loại bớt được mối lo về trung tâm dữ liệu hay nhân viên chuyên trách.

Microsoft cũng chẳng vừa

Nhưng Microsoft cũng đã có những “tuyệt chiêu” của riêng mình để loại bớt những ánh hào quang đang vây xung quanh Google.

Ron Markezich – một giám đốc điều hành bộ phận dịch vụ trực tuyến của Microsoft đã nổ phát súng đầu tiên bằng việc tuyên bố mô hình đám mây của Google chẳng qua vẫn chỉ là một dạng thử nghiệm dành cho khách hàng doanh nghiệp và điều quan trọng là Google thiếu hẳn một bề dày kinh nghiệm với những tập đoàn cấp cao trong các lĩnh vực quan trọng như y dược, tài chính...

Luận điểm này của Ron Markezich còn được “ủng hộ” bằng 2 lần sập mạng ngay trong tháng 9 này của Gmail khiến hàng chục ngàn người dùng không thể nào truy cập được vào hộp thư của họ. “Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Los Angles”, Markezich nói.

Trên thực tế, Google cũng đã từng trúng thầu phát triển và ứng dụng Google Apps cho khá nhiều tập đoàn lớn hay các tổ chức chính quyền liên bang. Cách đây một năm, thủ đô Washington DC cũng đã là khách hàng của họ nhưng cũng chỉ có khoảng 4.000 trong tổng số 38.000 nhân viên của Washington chấp nhận thay thế Microsoft Outlook bằng Google Apps.

Theo tiết lộ của Ủy ban nguyên tắc, Microsoft đã tiêu tốn khoảng 40.000 USD cho các hoạt động vận động hành lang tại Los Angeles trong khi Google mới chỉ bỏ ra chưa đến 10.000 USD.

Ủy ban Thông tin và Công nghệ Los Angeles cho biết, hồ sơ của cả 2 hãng sẽ được xem xét và ngày 5/10 tới sẽ có kết quả

LOBBY.VN
03-31-2010, 05:04 PM
Những vũ khí bí mật trong chiến tranh kinh tế


Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt..., Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại.

Đầu tháng 3-2008, công ty sản xuất máy bay châu Âu EADS giành được hợp đồng thế kỷ: Lầu Năm Góc đặt mua 179 máy bay tiếp tế cho không quân Mỹ. Tổng doanh số 35 tỉ USD! Boeing, đối thủ chính của EADS, kinh hoàng. Bằng cách nào một công ty châu Âu - cho dù có hợp tác với nhóm Northrop Grumman tại Mỹ đi nữa - lại có thể “hớt tay trên” ngay trên sân nhà của nó?

Lập tức sau đó mọi biện pháp đã được tung ra để đối phó với cái nhục “quốc thể” này, thậm chí cả những thủ đoạn tồi bại. Thoạt đầu, Boeing móc ráp mua lại hợp đồng của đối thủ thông qua một quan chức của Lầu Năm Góc. Thế nhưng khi vị này đã cắn câu của Boeing thì mọi việc vỡ lở. Chính thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng hòa, đã nhảy vào can thiệp và dẹp bỏ vụ mua bán này.

Nhiều tác nhân khác cũng nhảy ra hà hơi tiếp sức Boeing tấn công lại đối thủ của mình. Các đòn trả đũa chủ yếu được tiến hành bởi Trung tâm Phụ trách chính sách an ninh (CSP), một cơ quan bao gồm những bộ não chuyên vạch ra các chính sách chiến lược của Mỹ, có quan hệ thân cận với phe tân bảo thủ và giới công nghiệp quân sự Mỹ. CSP tung ra một cuộc chiến thông tin chống lại EADS.

Trên Internet, họ tố giác EADS lừa gạt dư luận Mỹ khi ngụy trang EADS như một công ty Mỹ: xuất hiện một sô quảng cáo trong đó đưa lên hình ảnh các nhân viên Mỹ được EADS trả lương. Đòn kế tiếp: CSP tố cáo thẳng thừng EADS và nước Pháp dùng thủ đoạn tình báo đối với các công ty Mỹ mà không hề có bằng chứng nào! Và đòn sau cùng: quả quyết EADS cung cấp vũ khí cho chế độ của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez bất chấp lệnh cấm vận chính thức. Christian Harbulot, giám đốc Trường đào tạo chiến tranh kinh tế, giải thích: “CSP bào chế những bài báo và tư liệu gửi đến các nhân vật lãnh đạo công luận tại Mỹ để họ xuất hiện trên website của mình. Bởi thế, sức phản hồi thật khủng khiếp”.

Từ 15 năm qua, các báo cáo thương mại đều làm như rất tiến bộ. “Người Mỹ thích huyên thuyên về cạnh tranh và cạnh tranh. Nhưng đúng là đã có một cuộc chiến giành giật thị trường. Và để chiến thắng, mọi phương tiện đều tốt: lobby, móc nối, gây rối loạn hàng ngũ đối phương...” - Christian Harbulot nói tiếp. Các nhà tình báo kinh tế chuyên nghiệp lập ra những “đơn vị tàng hình” bố trí trên trận địa tàn khốc này. Phục vụ các công ty đa quốc gia cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ được thuê mướn để bảo vệ khách hàng của mình khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài hay theo phò tá trong các cuộc chinh phục thị trường. Nói rằng những chiến binh cổ trắng - trí thức - này luôn biết tôn trọng “luật chơi” là... hàm hồ! Tuy nhiên phần lớn các phương pháp của họ đều hoàn toàn... hợp pháp.

Trong thế giới kỹ thuật số, nơi 90% thông tin đều có thể lấy được qua Internet, báo chí, hội thảo... bước đầu tiên của một nhà tình báo kinh tế là thu gom tư liệu. 90% thông tin này được gọi là “trắng”, còn 10% thuộc loại mơ hồ. Thông tin được gọi là “xám” khi thu thập được bằng phương tiện không chính đáng. Chẳng hạn giả dạng nhà báo để biết rõ hơn về chiến lược của một công ty. Thông tin gọi là “đen” khi được thu thập hoàn toàn bất hợp pháp, như xâm nhập hệ thống vi tính hay đánh cắp laptop trên xe lửa. Không có quy luật, chẳng có quy tắc đạo đức nào để ngăn chặn các hành động đó. Chỉ có biện pháp trừng phạt duy nhất là làm mất uy tín của công ty đó trước mắt cổ đông và khách hàng... hay kiện ra tòa khi mọi việc đã diễn tiến tồi tệ.

Muốn dự kiến tình hình, phải biết rõ đối thủ của mình: Họ có mạnh không? Họ thật sự có khả năng đầu tư không? Chiến lược phát triển của họ là gì? Trong phòng thí nghiệm của họ đang có những cải tiến nào đủ sức làm đảo lộn thị trường? Nguồn vốn bị xé lẻ có làm họ yếu đi không? Có thể mua đứt họ được không? Những nhân vật then chốt của họ là ai? Tất cả thông tin này sẽ giúp dựng nên một chân dung và môi trường của mục tiêu.

Muốn có được những thông tin đó không thể chỉ dựa vào các tạp chí kinh tế hay sục sạo trên Internet. Phải biết khởi động mạng lưới các chuyên gia để đánh trúng cửa: nhà luật học, phân tích thị trường, chuyên gia lobby... “Nhưng cũng cần đến cả các tác giả đoạt giải Nobel kinh tế, các quan chức lớn đã về hưu hay các ông cựu bộ trưởng” như lời khuyến cáo của một chuyên gia chuyên thực hiện những hoạt động này. Cũng phải thêm: “Ngay cả những kẻ vô danh vẫn có thể giúp ta tiếp cận mục tiêu. Chẳng hạn ông thầy dạy đánh tennis của một quan chức tài chính”.

Các viện bào chế dược là khách hàng lớn của văn phòng tình báo kinh tế

Cách nay hai năm, một hãng bào chế dược của Pháp tiếp cận một công ty Mỹ để tìm cách mua lại nó. Hai bên đã đồng ý trên nguyên tắc nhưng không ai đưa ra trước giá bán hay giá mua. Khi đó bên dự định mua liên hệ với một văn phòng tình báo kinh tế tại Paris. Mục tiêu: ước tính tổng giá trị của công ty Mỹ này. Văn phòng tình báo đã tiếp cận một số thành viên thuộc ban lãnh đạo của công ty Mỹ, thông qua các nhà báo tài chính và chuyên gia phân tích kinh tế “có vẻ vô tội”.


Khi nắm được đầy đủ thông tin, vụ mua bán có thể được kết thúc chỉ trong vài ngày: người Mỹ sẵn sàng bán lại với giá tối thiểu 115 triệu euro, thấp hơn ước tính của công ty Pháp đến 35 triệu euro. Một số tiền tiết giảm khổng lồ! Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Văn phòng tình báo tại Paris cũng tiếp cận nhân viên phòng nghiên cứu và phát triển của công ty Mỹ và phát hiện công ty này rất lo sợ một sản phẩm cạnh tranh mới sắp được tung ra thị trường, do một công ty nhỏ và vừa của Pháp đã chế tạo thành công. Kết quả: thay vì bỏ ra 115 triệu để mua đối thủ Mỹ, họ chỉ cần mua bản quyền sản phẩm của công ty nhỏ nọ để... sản xuất. Và giá mua chỉ 200.000 euro!


Bào chế dược, một lĩnh vực cực kỳ cạnh tranh, luôn là khách hàng lớn của các văn phòng tình báo kinh tế. Trong các hội chợ chuyên ngành, nhiều “điệp viên” thường được tuyển mộ để canh chừng những gian hàng kế bên. Họ rình rập ngày đêm xem khách hàng của đối thủ, nghe những người khách nói chuyện gì, theo dõi chuyện mua bán của những người đó để biết nhu cầu đặt hàng.


Một nhà tư vấn giải thích: “Loại rình rập này rất hữu hiệu để bảo vệ uy tín của mình và triệt hạ đối phương”. Một điệp viên theo dõi ông chủ người Anglo - Saxon tiết lộ: “Mục tiêu là tìm hiểu chiến lược của ông ta, các đối tác và nhất là những tiếp xúc. Tôi phải biết lịch làm việc của ông ta. Những người mà ông ta phải gặp: nhà báo, nhà tài chính, luật sư, chuyên gia lobby, chính trị gia...”.

Bị tấn công, các công ty phải chống đỡ. Ở các thị trường Đông Âu hay châu Á, nơi luật pháp còn lỏng lẻo, các công ty châu Âu và Mỹ phải làm thế nào để có thể tìm được người hợp tác?


Một văn phòng tình báo kinh tế của Anh cho biết: “Chúng tôi làm việc được một năm tại một quốc gia ở Đông Âu. Chúng tôi phát hiện một chiến lược rất tinh quái để thu hút các công ty đa quốc gia châu Âu và Mỹ vào tròng. Tròng ở đây là để các công ty này đầu tư những khoản tiền khổng lồ vào các nhà máy sản xuất để sau đó... thanh tra tài chính nhằm tìm cớ tịch thu nhà máy hiện đại đó, hoặc bán lại với giá rất cao các cổ phần rất nhỏ mà họ đang nắm giữ”.


Nạn nhân của những đòn phép tương tự như thế là Công ty ngũ cốc Mỹ Bunge. Sau khi mua lại một nhà máy sản xuất dầu ăn tại Dniepropetrovsk, Ukraine với giá vài triệu USD, Bunge đã phải hứng chịu rất nhiều đòn tấn công. Thoạt đầu, Bunge trở thành nạn nhân của đòn thông tin thất thiệt. Nhà máy của Bunge bị kết án làm ô nhiễm môi trường. Lời cáo buộc này đã bị bác bỏ sau đó bởi một cuộc điều tra của hội đồng thành phố.


Thông qua một công ty nhỏ, “ông trùm” tìm cách mua lại cổ phần của công nhân để kiểm soát nhà máy bằng cách dùng đến luật pháp để gây rắc rối. Sau đó công ty nhỏ này đòi chia thêm nhiều cổ phần hơn cho công nhân bằng cách lấy cớ Bunge đã mua lại nó với giá rẻ bèo. Đến nay, cuộc tranh chấp giữa Bunge và “ông trùm” Ukraine còn chưa kết thúc.


Muốn điều tra có hiệu quả tại những nơi này phải không tiếc tiền để mua cho được những người trung gian quý giá. Nhất là những người làm trong các cơ quan an ninh, cảnh sát, nghiệp đoàn hay trong chính phủ. Một chuyên gia đã từng làm việc cho các công ty thời trang và dược của phương Tây tiết lộ: “Không thể nào có được thông tin quý giá và đáng tin cậy về một công ty xuất khẩu hàng giả mà không phải trả phí dịch vụ cho một nhân viên hải quan để y cung cấp chứng cớ chủ chốt”.


Vấn đề trở nên phức tạp khi đối thủ không chỉ là một công ty mà là nhà nước! Nhiều chính phủ không ngần ngại bảo vệ các công ty đa quốc gia của mình bằng mọi giá. Vô địch trong chuyện này là những người Anglo - Saxon! Đầu những năm 1990, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đã xác định các ưu tiên mới của mình: quyền lợi kinh tế quốc gia. Bộ máy nhà nước được tổ chức lại để phục vụ quyền lợi các công ty! Một hội đồng an ninh kinh tế được thành lập và được đặt ngang hàng với Hội đồng An ninh quốc gia, nghĩa là ngang hàng với... Nhà Trắng! Mục tiêu của hội đồng này là thông tin cho tổng thống Mỹ để ông kịp thời đưa ra những biện pháp đúng nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh tế của nước Mỹ.


Bên cạnh đó, Bộ Thương mại thành lập Advocacy Center (một trung tâm cảnh giới) để theo dõi các đơn hàng gọi thầu quốc tế vượt trên 1 tỉ USD và mời gọi các công ty Mỹ dự thầu! 16 cơ quan tình báo và an ninh quốc gia (CIA, FBI, NSA...) đều có mặt trong trung tâm này. Khi một thị trường có nguy cơ vượt khỏi tầm tay “made in USA”, chính phủ có thể triệu tập ngay một dạng “phòng chiến tranh” (war room) huy động mọi phương tiện có được để giành chiến thắng cho Mỹ.


Người mỹ không hề giấu giếm: họ theo dõi các đồng minh của mình ngay khi xuất hiện một hợp đồng quan trọng


Hai trường hợp như thế đã xảy ra trong những năm 1990: bán thiết bị báo động điện tử rừng Amazon cho Brazil và bán máy bay đường dài cho Saudi Arabia. Đương đầu với Mỹ, Pháp đã thua trắng. NSA nghe lén cuộc nói chuyện của các nhà thương thuyết Pháp và cung cấp cho báo chí bằng chứng... hối lộ của họ! Người Mỹ không hề giấu giếm: họ theo dõi ngay cả những đồng minh của mình khi ai đó toan tính vượt qua lằn ranh màu vàng.


Ít nhất đó cũng là thú nhận của cựu giám đốc CIA James R. Woosley (1993-1995) trong một bài báo viết trên tờ Wall Street Journal ngày 17-3-2000 mang tựa: Vì sao chúng ta theo dõi đồng minh? Chính phủ Mỹ còn công bố cả danh sách các thị trường mà họ đã từng giúp các công ty chiếm đoạt được. Trong khoảng năm 1994-1997, họ đã góp phần thành công cho 11 hợp đồng trị giá 18 tỉ USD, mang lại hàng ngàn công ăn việc làm.


Các nước khác thì sao? Ngoài Nhật Bản, từng dẫn đầu trong chuyện này cho đến cuối những năm 1980, phần còn lại của thế giới cũng đang hành động. Pháp bừng tỉnh từ giữa những năm 1990. Năm 1994, chính phủ nước này cho công bố một báo cáo của cảnh sát trong đó nhìn nhận chiến tranh kinh tế đang diễn ra ác liệt. Báo cáo cũng giải thích những nét chính trong học thuyết chiến tranh mới này của Nhật Bản và Mỹ song phần nghiên cứu từng trường hợp (trong y dược và hàng không) đã bị cắt bỏ vì Chính phủ Pháp sợ lộ ra sự thiếu phối hợp giữa nhà nước và các công ty của mình. Hội đồng cạnh tranh và an ninh kinh tế (CCSE) quy tụ bảy ông chủ xí nghiệp lớn được thành lập dưới thời chính phủ Balladur, nhưng không hoạt động. Mãi đến năm 2003 khi bản báo cáo Caryon của dân biểu Tarn ra đời thì vấn đề mới được hâm nóng trở lại.


Trong báo cáo này, Tarn đả kích chính phủ đã không giao nhiệm vụ bảo vệ các công ty Pháp cho Cục Giám sát lãnh thổ (DST) phụ trách. Năm tháng sau đó, một quan chức cao cấp phụ trách tình báo kinh tế được bổ nhiệm. Đó là Alain Juillet, nhân vật số 2 của Tổng cục An ninh đối ngoại (DGSE). Cơ quan này trực thuộc phủ thủ tướng, có nhiệm vụ soạn thảo bộ khung tổ chức, lập mạng lưới chuyên gia từ các bộ, thành lập liên hiệp các cơ quan tình báo kinh tế, thành lập hai quỹ đầu tư. Trung tâm Tình báo kinh tế và lãnh thổ (CIET) cũng được thành lập năm 2003 với nhiệm vụ chính là giám sát kỹ thuật sản phẩm và các thị trường. CIET huy động 4.000 công ty xoay quanh đề tài an ninh.


Trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ thương mại không hề được hoan nghênh. Song người Mỹ lại đang ra sức bảo vệ các con cờ của mình một cách triệt để. Họ từ chối yêu cầu của người Ả Rập muốn mua lại sáu hải cảng của nước Mỹ. Họ không cho phép người Trung Quốc mua lại Công ty dầu hỏa Unocal

LOBBY.VN
05-05-2010, 03:18 PM
Mỹ Phố Wall chi tiền Lobby, quốc hội chùn tay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/GetThumbnailaxd.jpg

Để chống lại đạo luật cải cách tài chính do ông Obama khởi xướng, giới tài chính phố Wall không ngừng chi tiền để vận động hành lang.

Phố Wall chi đậm

Trong cuộc bỏ phiếu vào cuối tháng qua tại thượng viện, đạo luật cải cách ngành tài chính Mỹ do tổng thống Obama đề ra gặp thất bại khi chỉ có 57 phiếu thuận, trong khi cần đến 60 phiếu mới đủ để thượng viện thông qua.

Theo giới truyền thông Mỹ, kết quả đó có được bởi phố Wall không ngừng chi đậm cho các thượng nghị sĩ, đặc biệt là các thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng hoà. Sáu ngân hàng JP Morgan Chase, Wells Fargo, Citigroup, Bank of America, Morgan Stanley và Goldman Sachs chi khoảng 106.000 USD cho 12 thượng nghị sĩ và các nhân vật lãnh đạo các uỷ ban liên quan. Số tiền trên chiếm 40% trong tổng số 272.000 USD mà các cơ quan vận động đã quyên tặng cho các quỹ vận động tranh cử.

Tuy vậy, theo trung tâm Giám sát chính trị, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát các vấn đề tài chính của giới chính trị gia, con số trên chẳng thấm vào đâu so với con số 30 triệu USD mà các công ty vận động hành lang cho các ngân hàng, công ty tài chính, chứng khoán đã bỏ ra kể từ khi bắt đầu chương trình vận động bầu cử từ tháng 1.2009 đến nay.

Điển hình như bà Blanche Lincoln, thượng nghị sĩ Dân chủ, nhận 7.000 USD từ công ty vận động hành lang của Goldman Sachs. Đó là một phần trong tổng số 920.935 USD quỹ tranh cử của bà nhận được từ các công ty tài chính, ngân hàng. Hay thượng nghị sĩ Dân chủ Charles Schumer thuộc bang New York nhận 1,6 triệu USD từ các công ty tài chính. Lãnh đạo phe thiểu số tại thượng viện Mitch McConnell cũng kiếm được 1,5 triệu USD từ các công ty tài chính. Đồng liêu của McConnell là Bob Corker cũng kiếm được 1,4 triệu USD từ các công ty tài chính. Đến cả lãnh đạo phe Dân chủ tại thượng viện là Harry Reid cũng nhận 920.000 USD và thượng nghị sĩ Cộng hoà Richard Shelby cũng có hơn 800.000 USD từ các công ty tài chính.

Và Nhà Trắng phản đòn

Trước tình hình này, phe dân chủ ở thượng viện cũng như Nhà Trắng đang cố gắng hạn chế việc vận động hành lang rầm rộ từ các công ty tài chính, ngân hàng. Vào thứ năm vừa rồi, các nhà lập pháp Dân chủ giới thiệu một đạo luật nhằm hạn chế một đạo luật gần đây của toà án tối cao cho phép các tập đoàn, hiệp hội và các nhóm khác được quyên tặng không giới hạn tiền bạc cho các quỹ chính trị.

Kèm theo đó là các biện pháp như yêu cầu các công ty, hiệp hội và các nhà vận động có ủng hộ tài chính phải công khai tên tuổi trong các chương trình vận động tranh cử. Ngoài ra, các nhà thầu chính phủ cũng không được tham gia đóng góp cho các quỹ chính trị.

Và có vẻ như bước phản đòn trên có tác dụng. Bởi mới đây, đảng Cộng hoà chấp nhận sẽ thảo luận rộng rãi hơn về đạo luật cải cách tài chính mà họ vừa bỏ phiếu chống trong đợt bỏ phiếu vừa rồi. Trong đợt bỏ phiếu vừa qua, toàn bộ 41 thượng nghĩ sĩ Cộng hoà bỏ phiếu chống

Ngô Minh Trí

LOBBY.VN
05-05-2010, 03:59 PM
Cận Đông liệu Tổng thống Obama sẽ là một trọng tài công minh ?

Liệu ông Barack Obama có làm chúng ta ngạc nhiên về mảnh đất bị phá hoại bởi cuộc xung đột Ixraen – Palextin? Trong số các đời tổng thống Mỹ, ông Obama có là “vị trọng tài công minh đầu tiên” cho cả hai phía không ?

Ông Obama có nhận ra sự mất cân bằng lực lượng hiện nay không? Một mặt, Ixraen là cường quốc hạt nhân và thực dân. Mặt khác, ‘‘Chính quyền’’ Palextin của tổng thống Mahmoud Abbas, một thực thể không có quyền lực, duy trì đường lối thỏa hiệp nhu nhược với Ixraen chỉ mang một kết quả ngược lại và là nỗi thất vọng cho một dân tộc bị tiêu diệt bởi các cuộc can thiệp quân sự và bị phong tỏa dải Gaza của Ixraen.

Tuy nhiên, không gì có thể ngăn cản việc chúng ta nghĩ tới một điều lạc quan. Từ thời cựu Tổng thống Clinton, Mỹ đã không làm gì để ngăn cản hành động thực đân của người Ixraen mà chỉ lên án mang tính hình thức. Cựu Tổng thống George W. Bush đã hỗ trợ chế độ thực dân Ixraen ngay sau khi vào Nhà Trắng và điều này đã không tạo được một ấn tượng đặc biệt nào.

Tổng thống Obama đã không xóa được hình ảnh thân Ixraen của Mỹ

Từ khi cố Tổng thống Yasser Arafat từ chối ‘‘biện pháp giải quyết vàng’’ do cựu Tổng thống Bill Clinton soạn thảo tại trại David tháng 7/2000, Mỹ không còn cố gắng ‘‘hóa trang’’ hình ảnh thân Ixraen nữa.

‘‘Biện pháp giải quyết vàng’’ dự kiến công nhận việc sáp nhập một phần lãnh thổ bị Ixraen chiếm đóng từ năm 1967. Biện pháp này công nhận việc Ixraen chiếm phần diện tích của người Arập tại Jérusalem hay mang đến một kết cục người Palextin bị trục xuất từ những năm 1948 và 1967 không có quyền được quay lại phần đất trên.

Tổng thống Arafat đã bị chỉ trích phải chịu trách nhiệm về thất bại của giải pháp tại trại David, nó làm ‘‘sụp đổ’’ nhiệm kỳ tổng thống của ông Clinton (trước khi cô Monica Lewinsky chấm dứt thật sự nhiệm kỳ trên). Điều này cũng chứng tỏ cỗ máy ngoại giao trung gian của Mỹ đã nghiêng về bên nào.

Trong năm đầu tiên nắm quyền, ông Obama đã không làm gì để xóa đi hình ảnh có chủ trương thân Ixraen trong hồ sơ trên. Bên cạnh thủ tướng Ixraen Benyamin Netanyahou, một nhân vật của phe cực hữu và chống lại việc ngưng thực dân hóa, ông Obama đã gặp khó khăn trong việc thoát ra khỏi thế khó khăn của những người tiền nhiệm

‘‘Những mâu thuẫn sâu sắc về quan điểm’’ với Thủ tướng Ixraen Netanyahou

Mặc dù hiểu rằng việc ngưng thực dân hóa vô điều kiện là điều kiện tiên quyết cho nối lại các cuộc đàm phán song ông Obama đã đi từ thất bại này đến thất bại khác, bị làm nhục bởi chính sách cực đoan của thủ tướng Ixraen cho đến tận những tuần vừa qua.

Vào dịp này, ông Netanyahou đã phải chịu sự từ chối đầu tiên: ông Obama đã yêu cầu ngưng xây dựng các khu định cư tại phần đất của người Arập tại Jérusalem. Thủ tướng Ixraen đã đánh giá rằng đây là một đòi hỏi ‘‘phi lý’’ và ‘‘không lôgích’’. Như thường lệ, chính quyền Mỹ đã công khai bày tỏ sự không bằng lòng về việc trên.

Một người phát ngôn của Nhà Trắng đã không do dự nói tới ‘‘những mâu thuẫn sâu sắc về quan điểm’’ giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ và Ixraen. Khi ông Netanyahou tuyên bố rằng theo ông việc xây dựng các khu định cư tại Jérusalem và tại Tel Aviv là như nhau trong khi ông Obama đã trả lời rằng ông không đồng ý.

Nội dung của cuộc nói chuyện cá nhân trên đã được truyền trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ, điều này đánh dấu một sự thay đổi chiến lược trong chính quyền Obama.

Nội dung mà các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải đã nhấn chìm Ixraen trong bế tắc và xuất hiện thật cần thiết và nghiêm túc để các phong trào vận động hành lang thân Ixraen phát động một cuộc phản công quy mô lớn thông qua tổ chức Ủy ban công vụ Mỹ - Ixraen (AIPAC)

Cuộc vận động hành lang thân Ixraen tại Quốc hội Mỹ thật đáng sợ và gây lo ngại

Đây là một tổ chức vận động hành lang quy mô lớn trong đó mục đích chính là vận động để Quốc hội Mỹ thông qua ‘‘các chính sách và quyết định thuận lợi nhất cho Ixraen’’. Đa số nghị sỹ tại Thượng viện và Hạ viện là thành viên của tổ chức này.

Các ông John Mearsheimer và Stephen Walt, giảng viên đại học, đã nhấn mạnh vai trò gây ảnh hưởng của AIPAC trong việc đưa ra các lựa chọn chính trị - quân sự của Mỹ, đây được coi như ‘‘cánh tay vũ trang’’ của Chính phủ Ixraen tại Quốc hội Mỹ.

AIPAC đã tuyên bố rằng ‘‘¾ đại biểu’’ của Quốc hội đã ký vào bức thư mở yêu cầu ‘‘ngưng chỉ trích’’ đối với Ixraen, bởi hình thức tranh cãi trên phải được giải quyết ‘‘trực tiếp giữa hai nước chứ không phải diễn ra công khai’’ và dự báo sẽ có sự xích lại gần nhau giữa Chính quyền Mỹ và Chính phủ Ixraen.

Các chiến dịch đe dọa chống lại những chỉ trích chính sách của Ixraen rất đáng sợ và gây lo ngại. Sự hiện hữu của các cuộc tấn công trên thường xuyên xếp trong hàng ngũ những yếu tố ngoan cố hiếm hoi. Tại đây, cuộc phản công dường như không làm rối loạn Chính quyền Obama.

Ông Robert Malley, nguyên là ‘‘cánh tay phải’’ của cựu Tổng thống Clinton về quan hệ Ixraen – Arập đã thổ lộ rằng cuộc đối đầu này về phía chính quyền liên bang ‘‘đã được cân nhắc’’. Đây là bằng chứng về ‘‘quyết định’’ của Tổng thống Obama liên quan vấn đề trên

Các khu định cư của Ixraen làm binh lính Mỹ tại Afghanistan gặp nguy hiểm

Tương lai sẽ cho chúng ta biết liệu hy vọng nhỏ nhoi mà sự phản đối của ông Obama tạo ra có hão huyền không. Tuy nhiên, dường như thật khó cho ông Obama để quay lại bởi ông đã mất mặt và mất mọi sự tin tưởng từ phía người Palextin.

Tổng thống Mỹ cũng đã rất nhầm lẫn khi không gia tăng áp lực đối với hành động thực dân của Ixraen, đang trở nên không được lòng người tại đồi Capitole. Ở đó, người ta đánh giá rằng chủ nghĩa cực đoan của Thủ tướng Netanyahou đang làm cho các binh sỹ Mỹ tại Irak và Afghanistan trở nên nguy hiểm.

Nếu Chính quyền Obama thành công trong việc thuyết phục được công luận rằng việc Ixraen ngừng công cuộc thực dân hóa là lợi ích của Mỹ thì khi đó ông Obama mới có thể tính đến việc đưa Ixraen và Palextin quay trở lại bàn đàm phán về trung hạn

LOBBY.VN
05-05-2010, 04:15 PM
Mối quan hệ kỳ lạ giữa trùm lừa đảo Bernard Madoff và Mossad


Nhiều tỉ USD của Công ty Bernard L. Madoff Investment Securities đi về đâu? Một điều tra sơ bộ của Mỹ tiết lộ rằng trùm lừa đảo người Mỹ Bernard L. Madoff là người tài trợ cho những chiến dịch bí mật của lực lượng tình báo Israel (Mossad) ngay trên đất Mỹ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/23_benard935-400.jpg
Bernard Madoff bị bắt giữ

Theo những phân tích của Cơ quan Tình báo Nga, lực lượng an ninh Mỹ và lực lượng đặc biệt của Tổng thống Obama đã tiến hành một vụ bắt giữ lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ liên quan tới một mạng lưới tình báo hoạt động bên trong nước Mỹ. Theo những phân tích trên, trùm tài chính của thành phố New York, Bernard Madoff, có thể là người tổ chức những chiến dịch gián điệp quy mô lớn cho Israel tại Mỹ từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Madoff có hai quốc tịch, Mỹ và Israel, bị bắt giữ hôm 12/12/2008 khi ông ta đang cố đào thoát khỏi nước Mỹ và rút nhiều triệu USD từ quỹ dự trữ của Mossad. Âm mưu này đã bị thẩm phán Luis Stanton phát hiện, và ra lệnh bắt giữ khẩn cấp nhằm tránh để Madoff hoặc một trong những nhân viên tình báo của y thoát khỏi quyền tài phán của Mỹ.

Tình báo Nga cũng cho biết, thẩm phán Patrick Fitzgerald, đồng minh của Tổng thống Obama, đã đứng đằng sau vụ bắt giữ Madoff và một số nhân viên của Mossad hoạt động tại Mỹ. Ông Fitzgerald đã tiến hành điều tra Madoff và những móc nối của nhân vật này với Mossad từ sau khi Lawrence Franklin, một quan chức của Lầu Năm Góc, bị bắt giữ năm 2005 vì đang âm mưu bán những bí mật quân sự của Mỹ cho AIPAC, một tổ chức trá hình của Mossad hoạt động từ lâu tại Mỹ. AIPAC là một trong số 51 tổ chức Do Thái tại Mỹ vận động hành lang cho quan hệ Mỹ - Israel từ nhiều năm nay.

Những thông tin phát đi từ phía Israel đã chỉ rõ nguyên nhân tại sao lực lượng an ninh Mỹ đã tiến hành bắt giữ Madoff khẩn cấp. Tờ Haaretz của Israel viết: "Vụ lừa đảo của Bernard Madoff đã làm tê liệt gần như toàn bộ các tổ chức từ thiện Do Thái trên thế giới và buộc những tổ chức từ thiện lớn có trụ sở tại Mỹ phải đóng cửa, đồng thời đe dọa tới các nguồn thu tài chính của rất nhiều tổ chức từ thiện khác". Trong số đó có quỹ từ thiện Chais đặt trụ sở tại California. Được biết, Chais đã góp toàn bộ vốn của mình cho Madoff đầu tư, và hàng năm tài trợ 12,5 triệu USD cho những hoạt động vì Israel và Đông Âu.

Sau khi Madoff bị bắt, Chais cũng bị buộc phải ngưng hoạt động. Ngoài ra còn có quỹ Robert I. Lappin, có trụ sở tại Massachussetts, và chuyên đài thọ những chuyến đi thực tế tìm hiểu Israel cho những thanh niên người Mỹ Do Thái, quỹ này cũng bị buộc phải đóng cửa vì nguồn tài chính của họ cũng đã giao hết cho Madoff kinh doanh kiếm lời.

Cũng theo phân tích của tình báo Nga, việc bắt giữ một số thành viên của Mossad, trong đó có Madoff và một số nhân vật vận động hành lang cho Israel tại Mỹ, nằm trong kế hoạch của Barack Obama ngay khi ông này được bầu làm Tổng thống Mỹ. Kế hoạch này nhằm mục đích thay đổi căn bản chính sách ngoại giao của Mỹ và tránh xa những ảnh hưởng của Israel lên các chính sách của Mỹ.

Theo báo Christian Monitor, trong chiến dịch tranh cử tổng thống, ông Barack Obama đã đề ra mục tiêu hàng đầu là khôi phục hình ảnh nước Mỹ trên thế giới và nhất là trong thế giới Hồi giáo. Vị Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ định trình bày bài diễn văn về quan điểm của ông với thế giới Hồi giáo tại một thủ đô thế tục, nhưng để tăng sự gần gũi với người Hồi giáo, cuối cùng ông Obama đã chọn Istanbul là nơi ông sẽ có bài phát biểu quan trọng.

Theo báo cáo mật của các cơ quan tình báo Mỹ, chính vì lựa chọn trên mà Madoff và Mossad đã âm mưu tiến hành một cuộc đảo chính chống lại Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ.

Báo Thổ Nhĩ Kỳ Milliyet cho biết, Daniel Levi với nhiều biệt danh Daniel Guney và Tuncan Guney, bị bắt hồi giữa tháng 1/2009, chính một nhân viên của Mossad, thành viên của nhóm chủ nghĩa quốc gia cực hữu được biết đến với cái tên Ergenekon. Ergenekon bị buộc tội âm mưu lật đổ chính phủ thân đạo Hồi của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan.

Một tờ báo khác của Thổ Nhĩ Kỳ là Yeni Safak cũng nói rằng cảnh sát đã tìm thấy trong căn hộ của Guney nhiều tài liệu ghi rõ mối quan hệ giữa giới doanh nhân Israel tại Thổ Nhĩ Kỳ và một số quan chức quân sự nước này có dính líu tới vụ Ergenekon. Cũng có nguồn tin cho rằng Guney là điệp viên chìm của Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ được cài vào Ergenekon để khám phá những âm mưu của tổ chức này.

Năm 2004, Guney được bí mật dẫn độ sang Mỹ, sau này y được chuyển qua Canada với cái tên Daniel T. Guney... Người ta không biết câu chuyện này sẽ đi về đâu, tuy nhiên điều mọi người biết chắc chắn được là cho tới nay và nhiều năm sau khi điệp viên của Israel trong Lầu Năm Góc, Franklin, bị bắt giữ, những đồng đảng của y tại AIPAC vẫn chưa bị bại lộ.

Theo luật của quân đội Mỹ, những người Mỹ gốc Do Thái không thể gia nhập những tổ chức sĩ quan tinh nhuệ và lực lượng tình báo chính phủ do lo ngại những người này có thể hoạt động cho Israel. Bằng cách này, quân đội Mỹ được coi là người bảo vệ cuối cùng trước những ảnh hưởng của Israel. Và Tổng thống Obama đang dùng cách này để tránh xa những tác động ngầm của người Do Thái tại Mỹ, mà việc bắt giữ người đài thọ cho Mossad, Bernard Madoff, là sự hiện thực hóa chính sách trên

LOBBY.VN
05-14-2010, 01:43 AM
Mỹ - Jamaica và phi vụ “vận động hành lang” không bình thường

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/11_thu951.jpg
Thủ tướng Jamaica Bruce Golding

Một phi vụ vận động hành lang không bình thường đang trở thành nguyên nhân gây ra cuộc tranh cãi ở thủ đô Kingston của Jamaica và giữa Chính phủ Jamaica với Mỹ, có nguy cơ làm rạn nứt quan hệ song phương giữa hai nước.

Báo The Washington Post ngày 16/4 vừa qua đăng thông tin như thế này: Mùa thu năm 2009, Hãng luật Manatt, Phelps & Phillips (MPP) đã ký một hợp đồng "vận động hàng lang" với Chính phủ Jamaica.

Giao kèo trong hợp đồng là trong vòng một năm sau đó, MPP có nhiệm vụ "nói chuyện" với Nhà Trắng và các quan chức khác trong Chính phủ Mỹ để biện thuyết các lý lẽ vì sao Mỹ không nên dẫn độ Christopher "Dudus" Coke, một trùm ma túy ở Kingston mà Washington muốn đưa về thành phố New York để xét xử.

Luật pháp của Mỹ không cấm các tổ chức, cá nhân và quốc gia nước ngoài thuê các hãng luật tư nhân của Mỹ để vận động hành lang đối với các vụ án dẫn độ tội phạm. Nhưng trong trường hợp Jamaica, điều không bình thường chính là ở chỗ Chính phủ Jamaica đã không sử dụng các kênh ngoại giao chính thức, như thông qua đại sứ quán, các bộ, ngành Chính phủ hoặc kênh ngoại giao khác mà lại thuê một công ty luật tư nhân. Tuy nhiên, Chính phủ Jamaica đã phủ nhận việc thuê Hãng luật MPP làm chuyện đó. Ở phía còn lại, Hãng Luật MPP từ chối tiết lộ thông tin về phi vụ vì lý do "bảo mật khách hàng".

Thật ra, theo giới chuyên môn, có thể Chính phủ Jamaica đã không trực tiếp thuê Hãng luật MPP và cũng không chi trả cho MPP. Chính phủ Jamaica có thể dính líu trong phi vụ này một cách gián tiếp, vì các cam kết hợp tác thực thi pháp luật đã ký với Mỹ.

Hồ sơ Bộ Ngoại giao Mỹ (công bố tháng 3/2010) có vẻ chứng minh điều này khi tiết lộ một trong những người đồng ký tên trong bản hợp đồng thuê MPP là luật sư Harold C.W. Brady ở Kingston. Ông này là một thành viên đảng Lao động cầm quyền của Thủ tướng Golding. Trong hợp đồng thuê MPP có ghi rõ, Brady "được ủy quyền thay mặt Chính phủ Jamaica" thực hiện hợp đồng. Hồ sơ cũng tiết lộ thêm: bản hợp đồng trị giá 400.000USD, được chi trả hàng quý, mỗi quý MPP được nhận thù lao 100.000USD.

Bản hợp đồng được ký chính thức vào ngày 1/10/2009, với số tiền "đặt cọc" ứng trước 49.000USD. Ngay trong 3 tháng đầu tiên của hợp đồng, các luật sư của MPP đã thực hiện 6 cuộc tiếp xúc với quan chức Chính phủ Mỹ, nhưng các quan chức Mỹ khẳng định, các cuộc tiếp xúc này chủ yếu xoay quanh quan điểm của Chính phủ Jamaica chống lại việc dẫn độ.

Vụ việc tranh cãi giữa Jamaica và Mỹ đã hé lộ một phần bức màn che phủ xung quanh thế giới vận động hành lang quốc tế phức tạp và đầy rẫy những chuyện "không bình thường". Trong cái thế giới phức tạp đó, các quốc gia, tổ chức nước ngoài thuê mướn các hãng luật và vận động hành lang chuyên nghiệp ở Washington để vận động Chính phủ và Quốc hội Mỹ lèo lái các chính sách theo chiều hướng có lợi cho mình.

Hãng luật MPP, đặt trụ sở tại thành phố Los Angeles, do ông Charles T. Manatt, một cựu Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc, đảng Dân chủ làm chủ tịch, là một trong những hãng luật tư nhân chuyên thực hiện các phi vụ vận động hành lang trong cái thế giới mờ ám đó. Cách đây 10 năm, ông Manatt từng là Đại sứ Mỹ tại Cộng hòa Dominica, và hiện nay ông cũng đang vận động hành lang giúp cho quốc gia này một số vấn đề.

Còn nhớ năm 2009, sau khi làm đảo chính lật đổ Tổng thống Manuel Zelaya, chính quyền lâm thời Honduras cũng đã chi hàng trăm ngàn USD để thuê các công ty vận động hành lang tìm cách tác động lên chính sách của Tổng thống Barack Obama đối với cuộc đảo chính. Điều đó đã giải thích vì sao Nhà Trắng đã dần dần thay đổi thái độ đối với cuộc đảo chính bất hợp pháp và không mạnh tay đối với phe đảo chính.

Phi vụ vận động hành lang cũng đang gây sóng gió trên chính trường Jamaica. Các đảng phái đối lập đang công kích quyết liệt Thủ tướng Bruce Golding do đích thân Thủ tướng Jamaica dẫn đầu nỗ lực chống lại việc dẫn độ Coke sang Mỹ.

Ngày 16/3/2010, nghị sĩ Peter Phillips thuộc đảng đối lập Dân tộc Nhân dân (PNP) đã chất vấn Thủ tướng Golding liên quan đến phi vụ vận động hành lang, châm ngòi cho một cuộc "đấu khẩu" quyết liệt giữa Thủ tướng Golding và phe đối lập. Một câu hỏi được đặt ra là, nếu Chính phủ Jamaica không chi trả cho phi vụ này thì ai đã chi? Và phái chính trị đối lập ở Jamaica cho rằng rất có thể tiền đó do đích thân “ông trùm” ma túy Coke chi trả.

Cũng xin nói thêm đôi điều về Christopher "Dudus" Coke. Năm nay 41 tuổi, Coke được xem là một trong những "ông trùm" buôn bán ma túy có thế lực nhất ở Jamaica. Y đã bị Cơ quan Bài trừ ma túy Mỹ (DEA) liệt vào danh sách các trùm ma túy nguy hiểm nhất thế giới, và hiện đang bị cơ quan này nghi ngờ đóng vai trò lớn trong đường dây cung cấp cần sa, cocaine và vũ khí bất hợp pháp vào vùng duyên hải miền Đông nước Mỹ.

Các công tố viên nói, Coke và tổ chức của y, có tên gọi là Shower Posse, hoạt động mạnh ở vùng nghèo khó phía tây thủ đô Kingston. Đây cũng là vùng cứ địa của đảng Lao động cầm quyền của Thủ tướng Golding. Vì vậy, phe đối lập Jamaica có lý do để nghi ngờ về một mối liên hệ nào đó giữa Thủ tướng Golding với ông trùm Coke, và hành động chống lại việc dẫn độ Coke của ông Golding có thể nhằm mục đích phục vụ lợi ích của y.

Hiện tại, Hãng luật MPP không còn thực hiện phi vụ vận động hành lang này nữa. Luật sư Susan M. Schmidt đã báo cáo lên Bộ Tư pháp rằng, Hãng MPP đã ngưng hợp đồng từ ngày 8/2/2010

Mỹ - Jamaica Lobby (http://antg.cand.com.vn/vivn/hautruong/2010/5/722 34.cand)

LOBBY.VN
05-23-2010, 11:41 AM
Việt Nam: Cần thận trọng với ảnh hưởng của nhóm lợi ích

Trong một số trường hợp có thể tồn tại một liên minh không chính thức giữa các nhóm lợi ích của Việt Nam với các nhóm lợi ích ở nước ngoài. Ví dụ trong dự án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam được đề xuất và đang gây tranh cãi người ta có thể thấy các nhà thầu Việt Nam, những người trong tương lai có thể được hưởng lợi từ việc triển khai dự án này, đã nhận được sự hậu thuẫn lớn từ các đồng nghiệp nước ngoài.

Trên thế giới, đặc biệt ở các nền dân chủ phát triển, các nhóm lợi ích đã tồn tại từ lâu và ngày càng có ảnh hưởng lớn tới chính sách của các quốc gia. Các nhóm lợi ích là một trong số các chủ thể tham gia vào môi trường chính trị trong nước của một quốc gia; cũng chính là tập hợp các cá nhân và tổ chức chia sẻ những lợi ích nhất định, hoạt động với mục đích thông qua nhiều biện pháp khác nhau tác động tới chính quyền nhằm tạo ra các quyết định chính sách có lợi nhất cho họ.

Các nhóm lợi ích thường sử dụng biện pháp vận động hành lang (lobby) để tác động tới các chính sách của chính quyền. Trên thế giới, các hoạt động vận động hành lang phổ biến bao gồm điều trần trước một phiên họp của các nhà lập pháp để kiến nghị những chất vấn chính thức và không chính thức, gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có thể được đệ trình lên cơ quan lập pháp, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà lập pháp, và tất nhiên là cả tài trợ tài chính cho các ứng cử viên tranh cử vào các cơ quan lập pháp cũng như các cơ quan tham mưu chính sách có ảnh hưởng

Từ câu chuyện nước Mỹ

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nền dân chủ phát triển, các nhóm lợi ích đã tồn tại từ lâu và ngày càng có ảnh hưởng lớn tới chính sách của các quốc gia. Ví dụ, ngày nay ở Mỹ tồn tại hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức,được hình thành trên cơ sở lợi ích về kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, giới tính... và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại, nghiệp đoàn, tiêu dùng, nhân quyền, bảo vệ môi trường...

Một ví dụ tiêu biểu về các nhóm lợi ích ở Mỹ chính là cộng đồng người Do Thái tại nước này.Với sức mạnh tài chính và khả năng ảnh hưởng rộng lớn thông qua các giới chức gốc Do Thái trong chính quyền, cộng đồng Do Thái đã tác động mạnh mẽ tới chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông nói chung và Israel nói riêng

Các nhóm lợi ích là một trong số các chủ thể tham gia vào môi trường chính trị trong nước của một quốc gia

Cộng đồng Do Thái đã thành công trong việc đảm bảo một chính sách Trung Đông của Mỹ có lợi cho Israel từ việc viện trợ quân sự và kinh tế đến giải quyết cuộc xung đột giữa người Ảrập và người Israel. Ví dụ, mặc dù là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhưng năm 2005 Israel vẫn là quốc gia đứng thứ hai trong danh sách các nước nhận nhiều viện trợ kinh tế và quân sự nhất từ Mỹ, chỉ sau quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá là Iraq

Các nhóm lợi ích về kinh tế cũng có tầm ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ đối với các chính sách của Mỹ. Ngày nay các công ty Mỹ đang bành trướng hoạt động của mình ra toàn cầu nhằm tối đa hóa lợi ích. Tuy nhiên nhiều khi lợi ích của các công ty lại không trùng hợp với lợi ích của chính quyền Mỹ, cụ thể như việc Mỹ cấm vận kinh tế Việt Nam, hay không cấp quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Trung Quốc trước đây đã từng ảnh hưởng tới cơ hội đầu tư, kinh doanh của các công ty Mỹ. Chính vì vậy giới doanh nghiệp Mỹ đã từng vận động hành lang đòi chính quyền Mỹ chấm dứt cấm vận kinh tế đối với Việt Nam và cấp quy chế PNTR cho Trung Quốc, đồng thời ủng hộ nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ngoài ra trong nhiều trường hợp các nhóm lợi ích này cũng là người châm ngòi cho các tranh chấp thương mại giữa Mỹ với các nước khác, mà một ví dụ quen thuộc với người Việt Nam chính là việc Hiệp hội các chủ trang trại cá da trơn Mỹ tiến hành chiến dịch vận động áp thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng cá da trơn của Việt Nam cách đây gần 10 năm.

Nhìn chung sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở khả năng tài chính cũng như mối liên hệ của các nhóm này với giới chức trong chính quyền. Sức mạnh tài chính càng lớn thì các nhóm lợi ích càng có nhiều khả năng tác động lên chính sách của chính quyền bởi việc cung cấp tài chính cho các chiến dịch tranh cử vào quốc hội, thậm chí bầu cử Tổng thống, luôn đảm bảo cho các nhóm lợi ích có được một ảnh hưởng nhất định đối với lập trường của các ứng cử viên thành công

Mặt khác, các nhóm lợi ích, đặc biệt là các nhóm về kinh tế, càng có nhiều cơ hội thành công hơn trong việc vận động chính sách nếu như họ có mối quan hệ với các nhân vật trong chính quyền. Theo Luật về Xung đột lợi ích của Mỹ thì khi tham gia vào chính quyền các quan chức phải từ bỏ vị trí trong các công ty của mình nhằm đảm bảo thái độ khách quan trong công việc và không bị các động cơ tư lợi thúc đẩy đưa ra những chính sách sai trái

Tuy nhiên hầu hết các quan chức này vẫn giữ một mối liên hệ nhất định với các công ty nơi mình từng làm việc, đại diện bởi các nhóm lợi ích, thông qua các mối quan hệ cũ cũng như các lợi ích tài chính (nhiều quan chức hay người thân vẫn nắm giữ cổ phiếu của các công ty). Vì vậy việc các viên chức trong chính quyền có xu hướng ủng hộ những chính sách có lợi cho các công ty mà họ có mối liên hệ là điều khó có thể tránh khỏi

Các nhóm lợi ích, đặc biệt là các nhóm về kinh tế, càng có nhiều cơ hội thành công hơn trong việc vận động chính sách nếu như họ có mối quan hệ với các nhân vật trong chính quyền

Một ví dụ tiêu biểu cho nhận định trên chính là tác động của tổ hợp công nghiệp quân sự, một nhóm lợi ích liên kết các công ty sản xuất vũ khí với giới chức chính quyền, đối với các chính sách quân sự và chi tiêu quốc phòng của Mỹ. Các nhà nghiên cứu đã tìm được các bằng chứng cho thấy tác động của các công ty sản xuất vũ khí đối với các chính sách quân sự - ngoại giao của các chính quyền Mỹ thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh như can thiệp vào Kosovo và Iraq; mở rộng NATO; hay phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo NMD

Đến câu chuyện ở Việt Nam

Ở Việt Nam khái niệm nhóm lợi ích chưa thực sự phổ biến. Tuy nhiên trên thực tế các nhóm lợi ích đã xuất hiện và phát triển một cách tự nhiên song song với các đổi mới trong đời sống kinh tế - chính trị của đất nước những năm qua. Cũng như ở các quốc gia khác, các nhóm lợi ích của Việt Nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế

Chúng ta có thể kể đến một loạt các nhóm lợi ích tiêu biểu ở Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA), Hiệp hội các nhà Sản xuất Ô-tô Việt Nam (VAMA), Hiệp hội các nhà Đầu tư Tài chính Việt nam (VAFI), Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HOREA)...

Bên cạnh các hiệp hội, nhóm lợi ích có tổ chức và đăng ký hoạt động chính thức như trên, ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại rất nhiều các nhóm lợi ích nhỏ lẻ khác, đôi khi chỉ liên quan tới một số công ty, cá nhân... tập hợp lại như một liên minh tự nhiên khi họ có lợi ích chung bị ảnh hưởng.

Nhìn chung thời gian qua các nhóm lợi ích đã tích cực hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích cho các thành viên của mình, như việc VASEP điều phối việc tham gia vụ kiến chống bán phá giá cá da trơn ở Mỹ của các công ty thủy sản Việt Nam, hay VAFI thường xuyên đưa lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước các kiến nghị liên quan đến chính sách phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có lợi cho các nhà đầu tư...

Tuy nhiên một điều dễ nhận thấy là trong đa số các trường hợp lợi ích của các nhóm lợi ích sẽ mâu thuẫn với lợi ích cộng đồng, thậm chí là lợi ích quốc gia. Ví dụ như chính sách hạn chế phát triển phương tiện giao thông cá nhân nhằm giảm sức ép lên hạ tầng giao thông, giảm kẹt xe sẽ đụng chạm lợi ích của các nhà sản xuất ô-tô, xe máy; áp thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên VAFI... Hay trong cuộc tranh luận năm 2009 về việc có nên cho phép tiến hành các dự án khai thác tài nguyên ở Tây Nguyên hay không chúng ta có thể thấy thấp thoáng ít nhiều trong đó sự mâu thuẫn giữa mối quan tâm của cộng đồng về môi trường - sinh thái khu vực Tây Nguyên với lợi ích kinh tế của các nhà khai thác khoáng sản.

Trong một số trường hợp còn có thể tồn tại một liên minh không chính thức giữa các nhóm lợi ích của Việt Nam với các nhóm lợi ích ở nước ngoài. Ví dụ trong dự án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam được đề xuất và đang gây tranh cãi thời gian gần đây người ta có thể thấy các nhà thầu Việt Nam, những người trong tương lai có thể được hưởng lợi từ việc triển khai dự án này, đã nhận được sự hậu thuẫn lớn từ các đồng nghiệp Nhật Bản.

Đơn giản là trong trường hợp dự án này được thông qua và sử dụng vốn ODA từ Nhật để triển khai thì các công ty, nhà thầu Nhật sẽ được hưởng lợi rất nhiều vì không khó để thấy rằng một trong các điều kiện Nhật sẽ đưa ra cho Việt Nam để được nhận khoản vốn ODA này chính là việc Việt Nam giành ưu tiên cho các công ty Nhật Bản tham gia dự án.

Điều đáng nói là trong những trường hợp như vậy các công ty nước ngoài sẽ thường chỉ quan tâm tới việc các dự án có được thông qua hay không mà không quan tâm thực sự tới hiệu quả của các dự án đó. Thậm chí họ còn có thể đưa ra các báo cáo, dữ liệu không thực sự đáng tin cậy để vận động cho việc thông qua dự án mà không quan tâm tới hiệu quả, tác động của dự án sau khi được hoàn thành.Trong trường hợp này nạn nhân tiềm tàng sẽ chính là chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Ứng xử với các nhóm lợi ích

Thực tế chính quyền không phải không nhận thức được ảnh hưởng của các nhóm lợi ích lên các quyết định chính sách. Ví dụ như trong hội nghị xin ý kiến các nhà khoa học về Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội GS-TSKH Nguyễn Mại đã nhấn mạnh rằng việc quy hoạch Hà Nội không được để các nhóm lợi ích chi phối

Một điều dễ nhận thấy là trong đa số các trường hợp lợi ích của các nhóm lợi ích sẽ mâu thuẫn với lợi ích cộng đồng, thậm chí là lợi ích quốc gia

Có thể thấy điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách không chỉ cần nhận thức được về tác động của các nhóm lợi ích mà còn cần cẩn trọng đề phòng trước những tác động như vậy nhằm đưa ra các quyết định chính sách công tâm, chính xác, phù hợp với lợi ích của quốc gia và cộng đồng chứ không phải của một nhóm nhỏ các cá nhân và tổ chức. Ông Nguyễn Mại phát biểu như vậy, nhưng các nhà hoạch định chính sách của Hà Nội sẽ có thoát ly ảnh hưởng của các nhóm lợi ích được hay không là một câu chuyện khác. Trong vấn đề này có lẽ điều quan trọng nhất mà chúng ta đang thiếu chính là một hành lang pháp lý đầy đủ về các nhóm lợi ích và hoạt động vận động hành lang.

Hiện nay ở Việt Nam chưa tồn tại một văn bản pháp quy dành riêng cho việc điều chỉnh hoạt động của các nhóm lợi ích. Và mặc dù Việt Nam bắt đầu có những hoạt động vận động hành lang ở nước ngoài để bảo vệ lợi ích quốc gia, bản thân việc vận động hành lang, hay vận động chính sách, vẫn chưa được chính thức thừa nhận ở trong nước.

Hiện nay trong nhận thức của nhiều người, hoạt động vận động hành lang hay vận động chính sách ở Việt Nam vẫn chủ yếu được coi là đồng nghĩa với việc chạy chọt, hối lộ, đút lót các quan chức có ảnh hưởng tới các quyết định chính sách. Đáng buồn là nhận thức trên có thể đúng trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, bản thân việc vận động hành lang không chỉ giới hạn trong việc cung cấp tài chính cho những người có ảnh hưởng tới chính sách, cho dù là hợp pháp hay bất hợp pháp, mà còn bao gồm nhiều biện pháp khác như đã trình bày ở phần đầu bài viết.

Vì vậy, phải chăng đã đến lúc Việt Nam cần chính thức thừa nhận vai trò, đồng thời xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến các nhóm lợi ích cũng như hoạt động vận động chính sách của các nhóm này? Nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Canađa... từ lâu đã có các đạo luật điều chỉnh các hoạt động vận động chính sách với mục tiêu cơ bản là minh bạch hóa hoạt động này.

Ví dụ, Luật về công khai hoá hoạt động vận động hành lang năm 1995 của Mỹ cấm các thượng nghị sỹ và nhân viên văn phòng thượng viện không được nhận quà hoặc chiêu đãi giá trị trên 100 đô la mỗi người mỗi năm, đồng thời không được tham dự những chuyến đi giải trí do tư nhân đài thọ

Một đạo luật như vậy sẽ rất cần thiết để đưa hoạt động của các nhóm lợi ích vào khuôn khổ, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực khó kiểm soát của họ đối với các nhà hoạch định chính sách trong chính quyền. Đạo luật này cũng sẽ là một công cụ pháp lý bổ sung, giúp hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý của Việt Nam về phòng chống tham nhũng.

Tất nhiên một đạo luật như vậy nếu có ở Việt Nam sẽ phải tính tới các đặc thù của hệ thống chính trị cũng như môi trường hoạt động của các nhóm lợi ích ở nước ta. Chính vì vậy, để có được một đạo luật như vậy ở Việt Nam sẽ cần rất nhiều thời gian và công sức. Trong thời gian chờ đợi, có lẽ điều quan trọng nhất cần phải làm đối với các nhà hoạch định chính sách chúng ta lúc này chính là: Hãy luôn luôn cảnh giác với ảnh hưởng của các nhóm lợi ích

Lê Hồng Hiệp (Khoa Quan hệ Quốc tế, ĐHKHXN&NV, ĐHQG - TPHCM) (http://www.tuanvietnam.net/2010-05-19-viet-nam-can-than-trong-voi-anh-huong-cua-nhom-loi-ich)

LOBBY.VN
05-26-2010, 05:00 PM
BP tung chiến dịch lobby “xanh hóa”

Đáp lại những chỉ trích từ vụ tràn dầu trên vịnh Mexico, Hãng dầu mỏ BP của Anh vừa tung ra một chiến dịch lobby “xanh hóa” trị giá nửa tỉ USD bao gồm việc tài trợ cho các nghiên cứu về ảnh hưởng của dầu tràn và quảng cáo trên phương tiện truyền thông

“BP cam kết làm mọi thứ có thể nhằm giảm thiểu tác hại của thảm kịch này lên con người và môi trường vùng vịnh” - lãnh đạo BP Tony Hayward tuyên bố hôm 24-5. Theo hãng, việc hiểu rõ những ảnh hưởng có thể xảy ra là một phần quan trọng của việc phục hồi hệ sinh thái. Do đó, một kế hoạch kéo dài 10 năm dự kiến chi 500 triệu USD cho việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của dầu và các hóa chất tẩy rửa đối với môi trường.

BP cũng ra sức thuyết phục người Mỹ rằng BP đang nỗ lực để ngăn chặn dầu loang. Mở đầu là phần quảng cáo rầm rộ và đồng loạt trên các tờ báo lớn của Mỹ với nội dung “Tràn dầu trên vịnh Mexico. Chúng tôi đang làm gì? Làm sao để có thêm thông tin?”

Tuy nhiên, việc quan trọng và cấp bách nhất hiện nay là ngăn chặn dòng dầu loang thì vẫn chưa thật sự hiệu quả. Dưới áp lực từ Chính phủ Mỹ không ngừng gia tăng, BP cho biết sẽ thử kế hoạch đổ hỗn hợp bùn và ximăng xuống giếng dầu vào ngày 26-5. Khả năng thành công chỉ khoảng 60% và nếu thất bại, nó có thể làm dầu tràn ra nhiều hơn trước. Trước đó ống dẫn dầu BP đưa xuống đáy biển chỉ thu được một lượng dầu không đáng kể

Chính phủ Mỹ ngày 24-5 đã tuyên bố “thảm họa ngư nghiệp” tại ba bang vùng vịnh Louisiana, Mississippi và Alabama, nơi có ngành công nghiệp hải sản trị giá 6,5 tỉ USD

BP ước tính có khoảng 800.000 lít dầu tràn ra vịnh mỗi ngày từ giếng dầu Deepwater Horizon bị nổ ngày 20-4 đến nay. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết con số thật sự có thể gấp 5 lần

LOBBY.VN
05-27-2010, 08:17 PM
Doanh nghiệp chạy dự án khai khoáng
Lũng đoạn chính sách

- "Loạn" khai thác khoáng sản gây thất thoát tài sản nhà nước, chuyện DN "chạy" dự án, địa phương quản lý lỏng còn Trung ương "buông" là một trong những vấn đề đã làm "nóng" cả trong và ngoài hội trường trong buổi thảo luận kinh tế - xã hội hôm nay (27/5).

Không phải hễ chạy giỏi là xin được dự án

Trao đổi với VietNamNet, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng khẳng định "Tôi thừa nhận tình trạng khai thác quặng mỏ vừa qua có những diễn biến phức tạp như báo chí đã phản ánh. Có một "nghịch lý" là những nơi giàu khoáng sản thì đời sống nhân dân phần đa vẫn còn khó khăn".

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/KS.jpg
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng: "Luật Khoáng sản sửa đổi sẽ phải tính tới các bất cập này"

Về lý do dẫn đến tình trạng các tỉnh cấp phép "dự án chồng lên dự án", theo ông Hoàng, một phần do sự chồng chéo quản lý.

Hiện, Bộ Tài nguyên và Môi trường được xem là "đầu mối" Trung ương nhưng địa phương lại được giao trách nhiệm quản lý khoáng sản trên địa bàn và được cấp quyền khai thác các mỏ nhỏ, những điểm quặng rời...

Như phản ánh của VietNamNet, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, DN được cấp phép khai thác mỏ vàng cả trên những diện tích đất lúa, đất rừng và suốt quá trình DN đến thăm dò, người dân cũng như lãnh đạo huyện, xã không hề biết. Trao đổi với phóng viên, Chủ tịch UBND huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) đã "hé lộ", ở đây có dấu hiệu DN "chạy" dự án.

Còn Phó trưởng đoàn ĐBQH Cao Bằng Triệu Sĩ Lầu cũng phản ánh: "DN báo lên có bao nhiêu trữ lượng thì biết bấy nhiêu".

Thành viên Uỷ ban KHCN&MT Quốc hội Nguyễn Đình Xuân khẳng định: "Tài nguyên là của toàn dân, không thể rơi vào tay những kẻ đầu cơ, tích luỹ. Đây là một hình thức lũng đoạn chính sách".

Theo ông Xuân, nhà nước phải khảo sát đánh giá trữ lượng. Còn nếu DN nào muốn được tham gia đánh giá trữ lượng phải có hợp đồng cụ thể, thậm chí đấu giá công khai.

"Không phải hễ anh nào chạy giỏi thì xin được dự án vì đây là tài sản quốc gia, không thể xin - cho tuỳ tiện", ĐB Xuân khẳng định.

Theo ĐB Xuân, để xảy ra chuyện DN lũng đoạn khai thác khoáng sản thì trách nhiệm phải thuộc người đứng đầu địa phương đó. Một khi TƯ đã phân cấp cho địa phương thì không thể lợi dụng "quyền" trong tay mà buông lỏng quản lý.

Bán rẻ tài nguyên vì lợi ích cục bộ

Phát biểu tại hội trường trong phiên họp được truyền hình trực tiếp, các ĐB Lê Như Tiến (Quảng Trị); Trần Hồng Việt (Hậu Giang), Nguyễn Lân Dũng (Đăk Lăk) và nhiều ĐB khác cũng bày tỏ thái độ xót xa trước tình trạng báo động đỏ lãng phí tài nguyên.

Dẫn lại cảnh báo mới đây của Viện tư vấn phát triển về thất thoát tài nguyên, ĐB Quảng Trị Lê Như Tiến nói: "Hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản đang bộc lộ nhiều bất cập từ khâu cấp phép đến quản lý, khai thác, sử dụng mà trước tiên là dễ dãi, tràn lan trong việc cấp phép".

Nếu năm 2000 mới có 427 DN thì con số hiện nay đã lên gấp ba (1.500DN) chưa kể hàng nghìn băng nhóm khai thác tự do, không giấy phép mà các cơ quan quản lý bó tay, bất lực.

"Hậu quả là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm như vàng, đá quý, titan, đồng, thiếc, than, sa khoáng v.v... thất thoát, lãng phí, cạn kiệt. Môi trường bị tàn phá, kéo theo những hệ lụy về mặt xã hội như tội phạm và tệ nạn xã hội hoành hành, băng hoại về đạo đức, mất an ninh, an toàn xã hội", ĐB Tiến nói.

Loạn "vàng tặc, quặng tặc"... dẫn đến tổn thất, lãng phí trong khai thác than hầm lò lên tới 40-60%, Apatit là 26-43%, quặng kim loại từ 15-30%, dầu khí lên đến gần 50% v.v... "rút ruột" hàng trăm tỷ đồng ngân sách Nhà nước.

ĐB Trần Hồng Việt (Hậu Giang) khẳng định, vì "lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ" nên địa phương đã cấp phép khai thác khoáng sản bừa bãi, bán rẻ tài nguyên quốc gia, trục lợi cá nhân.

Trước hàng loạt các ý kiến trên, Phó Chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên khi "chốt" lại phiên thảo luận cuối ngày đã xếp chuyện loạn khai khoáng vào nhóm vấn đề thứ bảy mà Quốc hội sẽ đốc thúc để Chính phủ giải quyết rốt ráo.

"Khi Chủ tịch UBND huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) phản ánh về khả năng chạy dự án khai thác khoáng sản trên địa bàn thì cũng có thể xem đó như một tin báo tội phạm. Đây là phát ngôn từ một người đáng tin cậy, một vị lãnh đạo, lại có địa chỉ rõ ràng thì đó chính là cơ sở để các cơ quan chức năng, Viện kiểm sát phải vào cuộc để xác minh xem chuyện đó có hay không và trả lời rõ ràng để cho người dân được biết thực hư" (ĐBQH Nguyễn Đình Xuân)

LOBBY.VN
06-04-2010, 06:30 PM
Nhóm vận động hành lang yêu cầu bắt giam
cựu Tổng thống Arroyo vì tội hối lộ

Các lãnh đạo Kitô hữu làm việc cho công bằng xã hội mong muốn vị tân tổng thống của Philippines bắt giam và truy tố cựu Tổng thống Gloria Arroyo

Trước đây, bà Arroyo đã giũ sạch những cáo buộc gian lận trong bầu cử và hối lộ trong các hợp đồng của chính phủ

“Chúng tôi sẽ yêu cầu tân tổng thống lệnh cho thanh tra viên trình các vụ chúng tôi đã chuẩn bị đơn tố cáo và gửi cho thanh tra viên từ năm 2005” - Linh mục Jose Dizon của Imus nói

Thành viên Nhóm Đại kết, Đẩy mạnh phản ứng của nhân viên Giáo Hội (PCPR), nói: “Chúng tôi muốn bà ta bị bắt và nếu bằng chứng về các vụ đã được chuẩn bị có đầy đủ, thì bà ta nên bị bỏ tù”

Bà Arroyo sẽ mất quyền miễn bị truy tố khi bà từ chức tổng thống vào ngày 30-6

“Chúng tôi nhận thấy khởi tố bà ấy là điều quan trọng vì người dân Philippines chúng ta cần rút ra một bài học” - Cha Dizon nói và trích dẫn các vụ kiện các cựu Tổng thống Joseph Estrada và Ferdinand Marcos, thân nhân và bạn bè của ông đều thất bại

PCPR là tổ chức đại kết quốc gia của những người trong Giáo Hội tận tâm thúc đẩy và bảo vệ công lý, hoà bình và nhân quyền

Nhóm này cũng đang kêu gọi các lãnh đạo tương lai của Philippines giữ lời hứa, làm việc “nâng cao đời sống và phúc lợi của người dân, và góp phần kiến tạo hoà bình và công lý trong đất nước chúng ta”

Tổng Thư ký của PCPR Nardy Sabino trích báo cáo mới của các Giám mục Công giáo Philippines nói rằng khởi tố bà Arroyo và các đồng minh của bà “sẽ tạo ra ranh giới giữa những người thực sự nghiêm túc hướng tới những cải cách chính và những người không nghiêm túc”

“Các vấn đề lâu đời như cải cách ruộng đất thật sự, tiền lương thoả đáng, nhân quyền, hệ thống thuế bất công, giá cả các mặt hàng nhu yếu phẩm cao, hối lộ và tham nhũng, và các chính sách ngoại giao độc lập là những vấn đề cấp bách trong nước cần phải được chính quyền tiếp theo giải quyết” - Sabino nói

Bà Arroyo được bầu làm đại biểu quốc hội trong khu vực thứ hai của tỉnh Pampanga trong các cuộc bầu cử gần đây

LOBBY.VN
06-07-2010, 11:02 AM
Vận động hành lang xe điện Push cho thêm ưu đãi để
Tăng cường Công nghiệp Liên bang

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Picture-57-400x248.jpg


Mặc dù Hoa Kỳ. đã cam kết hàng tỷ để thúc đẩy xe điện (EV) ngành công nghiệp cho đến nay, vận động hành lang cho ô tô cảm thấy ưu đãi hơn nữa là bắt buộc để khởi động một chiến dịch thành công để giới thiệu dòng mới của pin xe. Họ là những đòi hỏi mà nhiều ngân sách liên bang được cam kết cho công trạm nạp tiền, bổ sung ưu đãi cho người tiêu dùng cài đặt các hệ thống tính phí nhà và giảm thuế cho các nhà sản xuất pin EV

Theo vận động hành lang, Tổng thống Obama họp của mục tiêu tạo ra doanh thu lên đến $1 triệu cho xe năng lượng thay thế được trong hoạt động của 2015 sẽ không được có thể trong điều kiện hiện tại. Để đảm bảo thành công, họ muốn bỏ những hạn chế hiện hành về CAFE hướng dẫn hạn chế số lượng xe zero-emission như EVs mà có thể được áp dụng cho các tiêu chuẩn khí thải thấp hơn đặt ra cho ngành công nghiệp

Ô tô được hỗ trợ push vì họ sợ rằng nếu không có sự tích hợp của các trạm nạp tiền và cắt giảm thuế, chi phí cao của xe điện sẽ làm người tiêu dùng để balk lúc chuyển sang EV và gây ra sự chậm trễ trong đá ra khỏi đề xuất ‘pin-powered tiến hóa’ đó là một dự án yêu thích của chính quyền Obama

LOBBY.VN
06-08-2010, 01:27 PM
Thân ở WHO, hồn ở các hãng dược

- Cùng lúc với Nghị viện châu Âu, tạp chí y khoa nổi tiếng của Anh British Medical Journal (BMJ) và Tổ chức báo chí điều tra (BIJ) của Anh cũng công bố kết quả cuộc điều tra phối hợp và kết luận: các chuyên gia y tế hàng đầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ăn tiền của các hãng dược lớn

Cuộc điều tra của BMJ/BIJ đã phơi bày những xung đột lợi ích rõ như ban ngày giữa ngành công nghiệp dược phẩm, WHO và hệ thống y tế cộng đồng toàn cầu. Các nhà báo điều tra đã chỉ mặt điểm tên những nhà khoa học vừa có tên trong bảng lương của các tập đoàn dược phẩm, vừa là thành viên của những nhóm cố vấn cho các kế hoạch chống dịch cúm của WHO. Và trên thực tế WHO dù biết rõ nhưng chưa bao giờ công khai những xung đột lợi ích này.

Những nghi vấn từ năm 1999

Sự thiếu minh bạch đã làm lãng phí niềm tin mà công chúng thế giới đặt vào những tổ chức có uy tín lớn như thế và suy giảm niềm tin này có thể trở thành một nguy cơ trong tương lai
Điều tra của BMJ/BIJ viết

Sau dịch cúm gia cầm ở Hong Kong năm 1997, tháng 4-1999 WHO bắt đầu lên kế hoạch chống một đại dịch cúm toàn cầu có nguy cơ bùng nổ và đã công bố một tài liệu quan trọng “Kế hoạch dịch cúm: vai trò của WHO và các hướng dẫn cho việc lên kế hoạch quốc gia và khu vực”.

Phần chú thích của tài liệu có ghi rõ: R. Snacken, J. Wood, L. R. Haaheim, A. P. Kendal, G. J. Ligthart và D. Lavanchy đã chuẩn bị tập tài liệu này cho WHO, với sự hợp tác của Nhóm làm việc khoa học châu Âu về cúm (ESWI). Tuy nhiên, tài liệu này không tiết lộ một sự thật là Hãng Roche và các hãng sản xuất văcxin chống cúm đã cung cấp vốn hoạt động cho ESWI.

Hai chuyên gia René Snacken (thuộc Bộ Y tế Bỉ) và Daniel Lavanchy (nhân viên WHO), các đồng tác giả “Kế hoạch dịch cúm”, đều từng tham gia vào các hoạt động quảng bá cho Roche. Hai thành viên ESWI là giáo sư Karl Nicholson của ĐH Leicester (Anh) và Abe Osterhaus của ĐH Erasmus (Hà Lan) cũng đều có tên trong bảng lương của Roche từ năm 1998-2000.

Cả hai chuyên gia này từng tham gia chiến dịch thử nghiệm thuốc Tamiflu của Roche. “Đây rõ ràng không phải là một nhóm y tế độc lập” - giáo sư Barbara Mintzes thuộc ĐH British Columbia (Canada), thành viên Tổ chức Health Action International, bình luận.

Năm 1999, hai loại thuốc oseltamivir (Tamiflu) của Roche và zanamivir (Relenza) của GlaxoSmithKline cùng được tung ra thị trường. Cũng trong năm đó, giáo sư Osterhaus viết hàng loạt báo cáo cổ vũ việc sử dụng thuốc chống virut như Tamiflu hay Relenza trong các đại dịch. “Do thiếu nguồn cung cấp văcxin, các loại thuốc chống virut mới chắc chắn sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sứ mệnh giảm số lượng nạn nhân tử vong” - giáo sư Osterhaus viết. Hàng loạt chuyên gia khác cũng nối bước Osterhaus khuyến khích việc sử dụng Tamiflu và Relenza.

Cuối năm 1999, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cấp giấy phép cho thuốc Relenza. Tuy nhiên, ít ai biết rằng trước đó Tổ chức y tế Cochrane Collaboration kết luận không thể xác định được hiệu quả của Tamiflu hay Relenza. Chính ủy ban cố vấn của FDA cũng bác bỏ Relenza với lý do loại thuốc này không có hiệu quả.

Bác sĩ Michael Elashoff, thành viên FDA, tiết lộ ủy ban cố vấn kết luận Relenza chỉ có tác dụng trấn an tâm lý khi bệnh nhân cúm đã sử dụng các loại thuốc khác như paracetamol. Nhưng cuối cùng FDA vẫn cấp phép cho Relenza. “Họ cho rằng sẽ an toàn hơn khi có một loại thuốc trên thị trường trong trường hợp đại dịch xảy ra - bác sĩ Elashoff cho biết - Đó không phải là một quyết định mang tính khoa học”. Một năm sau, đến lượt Tamiflu được FDA cấp phép.

Bên kia Đại Tây Dương, Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu (EMEA) cũng nghi ngờ hiệu quả của Tamiflu và Relenza. Điều đáng nói là hai chuyên gia tư vấn cho EMEA là Annike Linde (Thụy Điển) và René Snacken (Bỉ) đều có tên trong bảng lương của Hãng Roche. Bác sĩ Snacken còn là “chuyên viên liên lạc” với ESWI.

Tư vấn cho WHO, nhận tiền các hãng dược

Tháng 10-2002, các chuyên gia WHO nhóm họp ở Geneva để bàn việc phát triển các hướng dẫn của WHO về việc sử dụng văcxin và thuốc chống virut khi đại dịch cúm xảy ra. Có mặt trong cuộc họp là đại diện hãng Roche, Aventis Pasteur và ba chuyên gia đã giúp Roche bán Tamiflu là các giáo sư Karl Nicholson, Ab Osterhaus và Fred Hayden. Hai năm sau, WHO công bố báo cáo Các hướng dẫn của WHO năm 2004 về việc sử dụng văcxin và thuốc chống virut khi đại dịch cúm xảy ra.

Giáo sư Fred Hayden là tác giả Phần hướng dẫn đặc biệt về thuốc chống virut, trong đó có lời kêu gọi các nước tích trữ thuốc chống virut. Khi đó, ông Hayden là cố vấn của cả Roche và GlaxoSmithKline. Năm 2003, ông Hayden cũng là đồng tác giả một nghiên cứu của Roche, khẳng định Tamiflu giúp giảm 60% tỉ lệ bệnh nhân cúm phải nhập viện.

Giáo sư Arnold Monto, tác giả mục Sử dụng văcxin trong các đại dịch cúm, làm việc cho Roche, GlaxoSmithKline và ViroPharma từ năm 2000-2004. Giáo sư Karl Nicholson, tác giả mục Đại dịch cúm, được các hãng Roche, GlaxoSmithKline, Wyeth, Chiron và Berna Biotech trả lương. WHO cũng không hề công bố các xung đột lợi ích này trước khi xuất bản Các hướng dẫn 2004.

Điều đáng nói là trước đó, WHO đã công bố một loạt quy định chống lại các tình huống xung đột lợi ích. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn BMJ, người phát ngôn của WHO Gregory Hartl tuyên bố: “Tổng giám đốc WHO Margaret Chan luôn quyết tâm đảm bảo sự minh bạch”. Tuy nhiên, văn phòng của bà Chan liên tục từ chối yêu cầu của BMJ đòi công bố mối quan hệ tài chính của các chuyên gia cúm.

“Những người có quan hệ với các công ty sản xuất văcxin và thuốc chống virut không được phép tham gia vào các ủy ban phát triển kế hoạch chống cúm - giáo sư Barbara Mintzes của ĐH British Columbia khẳng định - Loại bỏ các mối quan hệ tài chính là điều cực kỳ cần thiết khi đưa ra những quyết định lớn về y tế cộng đồng”. Bà Mintzes cho rằng lý tưởng nhất là sử dụng các chuyên gia độc lập trong ngành y tế công cộng. “Tuy nhiên, rất khó tìm ra những người như vậy. Một giải pháp là nhận tư vấn từ những chuyên gia có quan hệ với ngành dược phẩm, nhưng không đưa họ vào bất cứ ủy ban ra quyết định nào. Chúng ta cần một bức tường lửa”.

Giáo sư Chris Del Mar, chuyên gia Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược về miễn dịch của WHO (SAGE), cho rằng việc các tác giả của Các hướng dẫn 2004 vừa quảng bá các loại thuốc vừa nhận tiền của chính các hãng dược sản xuất những loại thuốc đó là hành vi “cần phải lên án bằng ngôn từ mạnh mẽ nhất”. Năm 2005, WHO công bố kế hoạch chuẩn bị đại dịch cúm toàn cầu, một năm sau thành lập nhóm làm việc đại dịch cúm. Nhưng WHO vẫn không hề công bố những xung đột quyền lợi theo yêu cầu của giới truyền thông.

Bí mật của Ủy ban khẩn cấp

Một trong những bí mật lớn nhất của WHO là danh tính 16 thành viên Ủy ban khẩn cấp do WHO thành lập năm 2009, với mục đích tư vấn cho tổng giám đốc WHO khi đại dịch cúm nổ ra. Ngoài WHO, không ai biết 16 chuyên gia này là ai. WHO tuyên bố phải giữ bí mật tên tuổi của họ nhằm “bảo vệ các nhà khoa học trước ảnh hưởng của ngành công nghiệp dược”, và cho biết cả 16 thành viên Ủy ban khẩn cấp đều đã ký thỏa thuận bảo mật và công bố các mối quan hệ tài chính cá nhân. Chính ủy ban này đã yêu cầu bà Chan tuyên bố cúm A/H1N1 trở thành đại dịch toàn cầu ngày 11-6-2009.

Giới y tế thế giới đặt câu hỏi: vậy tại sao WHO lại công bố danh tính thành viên các nhóm tư vấn khác như SAGE, để rồi họ có khả năng bị những áp lực bên ngoài, như lập luận của chính WHO? Những người khác cho rằng khi giấu tên các thành viên Ủy ban khẩn cấp, WHO đã triệt tiêu sự giám sát của công chúng và giới truyền thông đối với những chuyên gia đóng vai trò cực kỳ quan trọng: cố vấn cho WHO và các chính phủ khi đại dịch xảy ra.

Một câu hỏi lớn khác được đặt ra: liệu các hãng dược lớn, đã đầu tư khoảng 4 tỉ USD để phát triển văcxin cúm A/H1N1, có “tay trong” trong Ủy ban khẩn cấp hay không. Điều tra của BMJ và BIJ khẳng định có ba cái tên trong danh sách các thành viên Ủy ban khẩn cấp là giáo sư Arnold Monto, giáo sư John Wood và giáo sư Masato Tashiro.

Giáo sư Monto thì đã rõ, ông có quan hệ với rất nhiều hãng dược từ năm 2000-2004. Theo số liệu tài chính hiếm hoi thu thập được của GlaxoSmithKline, ông Monto đã nhận 3.000 USD phí diễn thuyết của GlaxoSmithKline trong quý 4-2009. Trong khi đó, giáo sư Wood thuộc Viện Kiểm soát và tiêu chuẩn sinh học quốc gia Anh (NIBSC) thừa nhận: để đảm bảo hiệu quả công việc, NIBSC phải hợp tác chặt chẽ với ngành công nghiệp dược. “Hiệp hội các nhà sản xuất dược phẩm quốc tế cũng đã công khai cho biết mối quan hệ thân cận của họ với NIBSC và các tổ chức tương tự để phát triển văcxin chống cúm” - ông Wood khẳng định.

WHO hiện cũng đang điều tra lại cách hành xử của chính WHO trong “đại dịch” cúm A/H1N1 và xác định xem liệu Các quy chế y tế quốc tế (IHR) có hiệu quả trong việc đối phó với dịch bệnh hay không. Tuy nhiên, đã có nhiều điều tiếng về Ủy ban điều tra của WHO, bởi 13 trên tổng số 29 thành viên ủy ban là thành viên IHR và một là chủ tịch Ủy ban khẩn cấp.

Có những thực tế không thể chối bỏ: dịch cúm A/H1N1 không hề nghiêm trọng như “kịch bản“ cảnh báo của WHO. Các quốc gia đang “đổ nợ” khi phải ôm một lượng khổng lồ văcxin chống cúm thừa thãi. Nếu WHO không thể trả lời những câu hỏi này thì “nạn nhân lớn nhất” của dịch cúm A/H1N1 sẽ chính là uy tín của WHO.

P/S: Điều tra về xung đột lợi ích liên quan đến WHO trong “đại dịch thế kỷ” cúm A/H1N1

LOBBY.VN
06-13-2010, 06:36 PM
Vận động hành lang ?

- Về dự án đường sắt cao tốc, qua báo chí tường thuật thảo luận ở Quốc hội, được biết: Tổng Công ty Đường sắt là cơ quan chủ đầu tư đã mời 21 đại biểu Quốc hội của 21 tỉnh thành đi tham quan đường sắt cao tốc của Trung Quốc. Không rõ kinh phí tham quan do Quốc hội hay do doanh nghiệp chi ? Liệu đây có là vận động hành lang ? Liệu việc ấy có hợp pháp ?

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/ImageHandler-1.jpg
Đường sắt cao tốc tại Trung Quốc

Nếu 21 vị này chủ động đi tham quan theo quyết định của Quốc hội và bằng kinh phí của Quốc hội để thu thập thông tin, để tìm hiểu rõ vấn đề, nhằm giúp cho việc quyết định, thì không thể gọi là đi tham quan mà là đi công tác, làm công vụ và, khi về, họ phải có báo cáo và như vậy là hợp pháp

Nhưng họ đi tham quan theo lời mời của doanh nghiệp chứ không phải đi công tác? Việc doanh nghiệp làm rõ ràng là hành vi vận động hành lang (tức là tìm cách ảnh hưởng đến những người có quyền quyết định)

Tại nhiều nước, việc vận động hành lang (lobby) là hợp pháp và khá phổ biến. Họ có luật về lobby, nhưng việc lobby nhiều khi rất gần với hối lộ, tham nhũng và mỗi khi có những vụ lớn gây tai tiếng như vậy trong dư luận thì người ta lại hoàn thiện luật pháp về lobby theo hướng minh bạch hơn. Thí dụ, Luật về Đạo đức của Quốc hội Mỹ cấm dân biểu nhận bất cứ món quà nào trên 50 USD (vé coi thể thao, đi chơi, tham quan,...) từ chính phủ liên bang hay tiểu bang, thành phố, hay đại học, hay từ những người lobby (lobbyist) của doanh nghiệp (doanh nghiệp muốn lobby phải qua các tổ chức lobby thứ ba được đăng ký)

Việt Nam chưa có luật về vận động hành lang, vì thế khó có thể xác định hành vi nào là hợp pháp hay không hợp pháp

Thế từ phía các đại biểu Quốc hội đã đi tham quan theo lời mời (và chắc là bằng kinh phí) của doanh nghiệp thì sao? Luật Tổ chức Quốc hội không có quy định đại biểu Quốc hội không được làm những việc gì. Không rõ quy chế nội bộ của Quốc hội quy định thế nào. Có lẽ các luật liên quan là Luật Cán bộ Công chức, và Luật Phòng chống tham nhũng

Rất nên tránh

Vấn đề là liệu các đại biểu Quốc hội có là đối tượng của các luật này hay không? Các đại biểu chuyên trách có thể được coi là cán bộ (theo quy định của Điều 4 của Luật Cán bộ, Công chức, “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước...”; các đại biểu không chuyên trách có thể là cán bộ hay công chức (theo tiêu chí ở nơi làm việc ngoài Quốc hội của họ) nhưng cũng có thể là công dân bình thường (không là cán bộ, cũng chẳng là công chức nhưng là đại biểu Quốc hội)

Chính vì thế, để minh bạch, nên công khai họ tên và chức vụ của 21 vị đại biểu đã đi tham quan và làm rõ họ là đại biểu chuyên trách (khi đó họ là cán bộ) hay là đại biểu không chuyên (khi đó cũng phải làm rõ họ có là cán bộ công chức hay chỉ là công dân), cũng như kinh phí tham quan là do Quốc hội hay doanh nghiệp cấp, thì mới có thể đánh giá về hành vi của họ chấp nhận dịch vụ (tham quan) mà doanh nghiệp chào mời

Nếu họ được coi là cán bộ hay công chức thì trong số nhiều việc họ không được làm có những việc “lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi” (Điều 18 Luật Cán bộ, Công chức; hay “không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình” (Điều 40 Luật Phòng, Chống tham nhũng)

Luật cũng quy định thế nào là vụ lợi: Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng (Điều 2, Luật Phòng, Chống tham nhũng)

Hãy xem việc “đi tham quan” có thuộc các quy định cấm nêu trên hay không. Trong mọi trường hợp, việc đi tham quan theo lời mời (và có lẽ bằng kinh phí) của doanh nghiệp chắc chắn nêu ra những vấn đề xung đột lợi ích nghiêm trọng mà các đại biểu Quốc hội của chúng ta rất nên tránh

Nguyễn Quang A (http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/Chuyen-Hom-Nay/503350/Van-dong-hanh-lang.html)

LOBBY.VN
06-14-2010, 11:41 AM
Nghị trường không còn "đóng cửa bảo nhau"

Ngoài hành lang, nhiều đại biểu phê phán gay gắt các vấn đề quốc kế dân sinh đang được người dân hy vọng họ thổi lửa vào nghị trường. Nhưng lửa hầu hết lại không bùng ở hội trường mà được om ở đâu đó với lời giải thích "chúng tôi còn nhiều dịp để nói". Thành ra, những cuộc chất vấn ở Quốc hội lâu nay được quan niệm hay mặc định là cuộc trình diễn, với sự có mặt cho đủ ban bệ theo cơ cấu: đại diện vùng miền, ngành nghề, giới v.v... Tuy nhiên, ở phiên chất vấn kỳ họp thứ 7 lần này có vị chức sắc trong Quốc hội đã vượt ra thông lệ cũ

Chuyện bình thường thành hiện tượng lạ

Phiên chất vấn Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát về chuyện cho thuê đất rừng đang hồi "cao trào" khi cả hai ĐB Nguyễn Văn Tuyết và Lê Như Tiến đều bấm nút để hỏi tiếp nhưng nhận được câu trả lời chung chung. Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng "giải vây" bằng cách xướng tên mời các Bộ trưởng KH&ĐT, TN&MT, Quốc phòng, Công an cùng lên chia lửa. Cuối hội trường, một cánh tay quả quyết giơ lên. Đó là Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh QH Lê Quang Bình

Ông Bình sang sảng cất lời: "ngay khi có thông tin trên báo chí, chúng tôi đã đi khảo sát và thấy có tới 18 tỉnh đang cho thuê rừng chứ không phải 10 tỉnh như Chính phủ nói"

Con số khiến Hội trường xôn xao, và lại có thêm nhiều ĐB truy vấn về độ vênh. ĐB Nguyễn Đình Xuân còn đề cập đến việc xem lại "chỉ số tín nhiệm"

Bộ trưởng NN&PTNT khi ký vào bản báo cáo đề ngày 7/6 gửi "hỏa tốc" cho Quốc hội ngay trước buổi chất vấn hẳn chưa từng biết đến con số vênh nhau này. Bởi vì trong ít phút giải lao, người ta đã thấy ông Phát chăm chú xem bản báo cáo từ tay ông Lê Quang Bình

Chuyện con số của Chính phủ với Quốc hội vênh nhau là thường. Có vênh nhau thì mới cần Quốc hội đi giám sát. Từ đó, đại biểu có thêm số liệu để so sánh, phản biện. Nếu không, các cuộc giám sát của Quốc hội còn có nghĩa lý gì. Hành động của Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh nên được xem là chuyện bình thường mới phải

Ấy thế mà chuyện này lại được xem như hiện tượng lạ. Có lẽ vì đã từ rất lâu lại mới có một vị Chủ nhiệm Ủy ban dám đứng lên bác lại số liệu từ Chính phủ bằng một điều tra độc lập ngay trong phiên chất vấn truyền hình trực tiếp. Điều này đã phá vỡ cái thông lệ "đóng cửa bảo nhau" lâu nay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/CDP-LQB.jpg
Chủ nhiệm UB Quốc phòng - An ninh Lê Quang Bình và Bộ trưởng NN&PTNN Cao Đức Phát


Thông thường, các ủy ban đi giám sát chuyên đề theo một kế hoạch đã định trước bao giờ cũng phải bàn lên luận xuống, hết hội thảo trong Nam lại ra hội thảo ngoài Bắc để so sánh đối chiếu và tạo cơ hội cho các bộ đến giải trình. Trong nhiều tình huống, các bản báo cáo từ khi khởi thảo đến lúc đưa ra đọc và truyền hình trực tiếp ở Hội trường đã được loại bỏ nhiều số liệu

Thậm chí, có vị trong Ủy ban Thường vụ QH khi nói ngoài hành lang thì chỉ rõ mười mươi thông tin này, con số kia của Chính phủ chưa chính xác, nhưng hỏi vì sao họ không chất vấn trực tiếp các Bộ trưởng, thì lý do đưa ra đều là "còn nhiều diễn đàn khác để nói", rằng vì làm việc ở Trung ương với nhau cả nên nếu có băn khoăn, thắc mắc gì họ sẽ gặp luôn các bộ để cùng bàn thảo (hay thỏa hiệp?) chứ không "lôi nhau ra Quốc hội"

Thực tế, nhiều phiên họp Ủy ban Thường vụ diễn ra quyết liệt "như mổ bò", nhưng hễ cứ ra đến hội trường là các vị trong Ủy ban Thường vụ QH vốn thường ngày nói năng sắc sảo, ăm ắp thông tin đều nhường diễn đàn cho đại biểu địa phương

Nhưng kỳ chất vấn này, chọn một cách ứng xử không theo kiểu "dĩ hòa vi quý" thường tình, ông Bình hẳn phải có lý do

Cánh báo chí không ít người đã "săn" Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh ngay từ đầu kỳ họp vì biết ủy ban của ông đã đi khảo sát việc cho thuê đất rừng và có được không ít thông tin đáng giá. Nhưng viện cớ cuộc khảo sát chưa xong, ông Bình luôn nhã nhặn từ chối. Ông muốn chọn thời điểm

Và ông đã công bố kết quả điều tra vào đúng phiên chất vấn tại Hội trường, khi mà mỗi vị ĐB đang có trong tay bản báo cáo Chính phủ vừa gửi đến với con số hệt như báo cáo gửi lên Thủ tướng cuối năm ngoái. Đồng bào Lạng Sơn, Kon Tum... nếu sáng hôm đó may mắn có điện, hẳn phải hởi lòng hởi dạ bởi lời khẳng định như đinh đóng cột của ông Bình là hầu hết diện tích cho thuê đều ở địa bàn xung yếu quốc phòng an ninh (chứ không phải địa bàn kinh tế khó khăn như Chính phủ nói)

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, người hoạt động lâu năm ở Văn phòng Quốc hội, nói rằng cử tri đánh giá các đại biểu của mình chủ yếu thông qua việc nghe họ phát biểu ở nghị trường

Một ĐB từng theo hai nhiệm kỳ QH là ông Nguyễn Minh Thuyết cho rằng không phải lúc nào cũng nhường người khác phát biểu

Do đó, cử tri rất khó chấp nhận rằng đại biểu mà họ bầu ra, cho dù đang là lãnh đạo các ủy ban Quốc hội và có rất nhiều thông tin mà các đại biểu khác và cử tri không biết, lại chỉ nói ở một diễn đàn khác. Truyền thông không theo dõi, dân không được giám sát. Họ quyết liệt và sắc sảo ở đâu đó không biết, nhưng đến các buổi chất vấn thì họ chỉ nhìn người khác nói

Ông Lê Quang Bình không chỉ là một đại biểu của cử tri Thanh Hóa. Với cương vị Chủ nhiệm một ủy ban, ông có trong tay công cụ để giám sát trên diện rộng những vấn đề lớn

Tìm hiểu chuyện nước ngoài cho thuê đất rừng không phải là chuyên đề giám sát mà Thường vụ giao cho ủy ban năm nay, nhưng trước vấn đề nóng được cả nước quan tâm (cứ xem số câu hỏi gửi cho Bộ trưởng NN và theo dõi các buổi tiếp xúc cử tri), trước kiến nghị các vị lão thành cách mạng, trước thông tin báo chí nêu, Ủy ban đã chủ động đi thu thập thông tin và chọn đúng diễn đàn để nói

Chính ông Bình cũng dứt khoát: "Sau phiên chất vấn này, Chính phủ phải họp lại để bàn sâu, bàn dứt khoát về vấn đề này. Đồng thời phải công bố công khai rộng rãi để công luận, báo chí và nhân dân cùng biết để giám sát"

Xới vấn đề lên thì hãy đi đến tận cùng

Mấy năm nay, người ta vẫn ra Nghị quyết sau từng phiên chất vấn để ràng buộc lời hứa các bộ trưởng. Nhưng rồi chuyện thất thoát lãng phí xây dựng vẫn cứ xảy ra, ngân sách vẫn bội chi liên tục... Và chính thái độ "dĩ hòa vi quý" giữa hai cơ quan hành pháp - lập pháp đã dẫn đến tình huống bất kể đại biểu đề xuất phải đưa nhiều vấn đề nóng vào chương trình họp chính thức nhưng đề xuất này vẫn thường bị bỏ qua. Người ta lấp chỗ trống bằng cách gửi báo cáo riêng cho đại biểu. Thành thử, ai muốn nói, muốn phản biện gì, đều phải đợi đến hôm chất vấn

Chất vấn là một trong các cách để QH thực hiện quyền giám sát và phản biện của mình, buộc Chính phủ phải hoạt động hiệu quả hơn. Chất vấn trên Hội trường dù gay gắt, quyết liệt đến mấy nhưng theo thông lệ cứ xong thì thôi. Họa hoằn có một số đại biểu như ông Lê Văn Cuông, Danh Út, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Đình Xuân thường truy vấn và đeo bám một sự việc đến cùng qua nhiều kỳ họp. Như vậy, hiệu quả chất vấn đôi khi phụ thuộc vào sự tích cực, năng nổ và tâm huyết của một nhóm đại biểu. Mà các kỳ họp cách nhau cả nửa năm. Đôi khi chất vấn đi, chất vấn lại cũng khiến vấn đề trở nên nhàm chán

Trước hội trường, ông Lê Quang Bình đã công bố thông tin mới, cung cấp thêm số liệu và đưa ra khuyến cáo. Từ tín hiệu đáng mừng đó, cử tri có quyền chờ đợi Ủy ban Quốc phòng An ninh của ông đã "xới xáo" vấn đề lên thì hãy làm việc đó cho đến tận cùng, sử dụng những công cụ mà luật pháp cho phép. Người dân đã ghi nhận ngọn lửa tâm huyết ông thổi lên ở hội trường nhưng mong rằng ngọn lửa sẽ được cháy tiếp chứ không phải lụi tàn âm ỉ ở đâu đó

LOBBY.VN
06-18-2010, 11:14 PM
Quốc hội Mỹ lắp “vòng kim cô” với FED


- Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ phải đối mặt với sự giám sát nghiêm ngặt hơn của Quốc hội Mỹ sau làn sóng chỉ trích dữ dội vai trò của “ngân hàng trung ương” trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009.

FED vẫn cứng cựa

Bất chấp sự giám sát chặt chẽ hơn của GAO, quyền lực và sự độc lập của FED vẫn gần như nguyên vẹn. Bởi lẽ sau phản ứng dữ dội của FED, các nghị sĩ đã chấp nhận bỏ hai điều khoản quan trọng khỏi dự luật cải tổ tài chính: đó là việc quốc hội sẽ kiểm tra chính sách thiết lập lãi suất cơ bản của FED - một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm, và việc tổng thống sẽ bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh FED tại New York

Như vậy, ban quản trị FED New York vẫn sẽ tiếp tục bổ nhiệm vị chủ tịch chi nhánh có ảnh hưởng cực lớn này. FED New York là tổ chức duy nhất trong số 12 ngân hàng khu vực của FED có một ghế thường trực trong ủy ban thiết lập chính sách của Ngân hàng trung ương Mỹ. Trước đó, FED cảnh báo hai điều khoản này có thể khiến hoạt động ra quyết định về kinh tế - tài chính của FED chịu ảnh hưởng chính trị từ bên ngoài.

Ngày 16-6, các nghị sĩ Mỹ đàm phán để tích hợp hai phiên bản dự luật cải tổ tài chính của hai viện cho phép cơ quan điều tra của quốc hội giám sát các hoạt động giao dịch quan trọng nhất của FED.

Theo đó, Văn phòng Trách nhiệm giải trình chính phủ (GAO) sẽ kiểm toán các khoản cho vay khẩn cấp của FED cho các tổ chức tài chính trong thời điểm khủng hoảng tài chính, các khoản cho vay lãi suất thấp cho các ngân hàng và các thỏa thuận mua bán chứng khoán của FED nhằm xác lập chính sách tiền tệ.

“FED sẽ trở nên minh bạch hơn nhiều và sẽ thường xuyên bị kiểm tra” - hạ nghị sĩ Dân chủ Melvin Watt khẳng định.

FED là ngân hàng tư nhân ?

Giới chuyên gia đã buộc tội FED góp phần “đổ dầu vào lửa” khiến cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 bùng nổ. Nhiều nhà kinh tế, như ông John Taylor cáo buộc chính sách lãi suất của FED đã dẫn đến tình trạng bong bóng bất động sản tại Mỹ.

Theo họ, giá nhà đất ở Mỹ tăng vọt trong thập niên đầu thế kỷ 21 không phải do cung - cầu mà do FED đẩy cầu lên khi giữ lãi suất cho vay ở mức rất thấp, dẫn đến tình trạng người dân vay quá nhiều và mua nhà một cách khinh suất.

Bong bóng bất động sản bùng nổ, thị trường nhà đất sụp đổ dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính. “FED không phải là thủ phạm duy nhất của cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng đã châm dầu vào lửa khi giữ mức lãi suất 1% vào năm 2003-2004 và chỉ tăng quá ít trong các năm 2004-2006” - nhà kinh tế David Malpass cáo buộc.

Một trong những chỉ trích FED thường hứng chịu là FED quá thân cận với giới ngân hàng, đối tượng mà nó giám sát. Trên thực tế, nếu nhìn vào cơ cấu của FED, có thể thấy cáo buộc này có cơ sở.

FED bao gồm một cơ quan trung ương là ban thống đốc ở Washington và 12 chi nhánh FED địa phương. Theo định nghĩa của FED (www.federalreserve.gov/pf/pdf/pf_1.pdf), các chi nhánh FED địa phương là “các cánh tay hoạt động của hệ thống ngân hàng trung ương, và chúng bao gồm cả các yếu tố công và tư trong tổ chức”. Mỗi chi nhánh FED có chín thành viên trong ban giám đốc.

Các ngân hàng thương mại trong khu vực của chi nhánh FED đó bầu ra ba thành viên, sáu người còn lại do các ngân hàng thành viên của FED và ban thống đốc lựa chọn. FED có khoảng 38 ngân hàng thành viên và các ngân hàng này sở hữu cổ phần vốn của các chi nhánh FED địa phương.

Các đại gia ngân hàng như Citibank và J.P.Morgan Chase nắm đa số cổ phần của chi nhánh FED ở New York. Các chi nhánh FED địa phương chi 6% lợi nhuận cho các cổ đông tư nhân này thông qua hình thức cổ tức. Do đó, không ít người đã chỉ trích FED dù mang tiếng là cơ quan liên bang nhưng thực tế lại là một “ngân hàng tư nhân”.

Từng cho vay 100 tỉ USD/ngày

Từ năm ngoái đến nay, ở cả tòa án và Quốc hội Mỹ, FED đã vận động hành lang dữ dội để chống lại đề xuất của thượng nghị sĩ độc lập Bernard Sander về việc điều tra chương trình cho vay khẩn cấp của FED từ năm 2007. Tuy nhiên, các tòa án và thượng viện Mỹ đều buộc FED phải tiết lộ tên các ngân hàng, công ty tài chính Phố Wall đã vay khẩn cấp từ FED và tài sản các ngân hàng này thế chấp để được vay.

“Chúng ta phải vén bức màn bí mật của cơ quan có lẽ là quan trọng nhất trong Chính phủ Mỹ” - thượng nghị sĩ Sander tuyên bố.

Nhiều nguồn tin cho biết trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, FED đã cho vay khẩn cấp hơn 1.000 tỉ USD với mức trung bình 10-11 tỉ USD mỗi tuần. Vào giai đoạn cao điểm của cuộc khủng hoảng, FED cho vay hơn 100 tỉ USD mỗi ngày. Hiện tại, FED đã dừng phần lớn các chương trình cho vay khẩn cấp. Ngoài đề xuất của thượng nghị sĩ Sander, các hãng thông tấn như Bloomberg News hay Fox News Network đã kiện FED ra tòa, đòi FED phải công khai thông tin về chương trình cho vay khẩn cấp.

FED từ chối công khai chương trình cho vay khẩn cấp với lý do nếu tiết lộ tên các ngân hàng đã vay thì giới khách hàng có thể nghi ngờ khả năng trả nợ của các ngân hàng này và bỏ chạy. Khi đó, các ngân hàng khác cũng sẽ ngại không muốn vay khẩn cấp từ FED, dẫn đến nguy cơ chương trình vay khẩn cấp của FED, một công cụ quan trọng trong khủng hoảng tài chính, trở nên vô tác dụng. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng lập luận của FED không mang tính thuyết phục.

“Người dân Mỹ cần biết hàng ngàn tỉ USD tiền thuế của họ biến đi đâu” - thượng nghị sĩ Sander khẳng định.

Như vậy, dù vẫn còn đầy quyền lực nhưng trong thời gian tới, FED sẽ không còn là một tổ chức bí mật, bất khả xâm phạm nữa

LOBBY.VN
06-22-2010, 04:09 PM
Sony lobby Mỹ 730.000 USD trong quý I

Số tiền các công ty dùng để vận động hành lang (lobby) chính phủ Mỹ được công bố cho thấy muốn kiếm lợi nhiều tại Mỹ, doanh nghiệp phải chi nhiều cho lobby chính phủ

Hai công ty con của Sony - Sony Music Entertainment và Sony Electronics đã chi 730.000 USD trong quý I đầu năm nay để vận động hành lang chính phủ liên bang về chống vi phạm bản quyền nội dung số và các vấn đề khác

Theo hãng tin AFP, con số này tuy giảm nhẹ so với 740.000 USD Sony đã chi cho cùng kỳ năm ngoái nhưng nhiều hơn 570.000 USD Sony đã chi trong quý IV trước đó. Sony cũng vận động hành lang chính phủ liên bang về lập pháp các vấn đề liên quan đến thù lao biểu diễn và phí tần số cho các công ty ghi âm

Trong ba tháng đầu năm, Sony đã vận động hành lang Quốc hội, Ủy ban Truyền thông liên bang, văn phòng tổng thống và các cơ quan chính phủ khác

LOBBY.VN
06-26-2010, 07:31 PM
Nền kinh tế người quen

Tại một hội thảo trao đổi kinh nghiệm đẩy mạnh công tác bán vốn nhà nước tại doanh nghiệp vừa diễn ra ở Hà Nội, tổng giám đốc một công ty chứng khoán tình thực thổ lộ: "Chúng tôi thường tuyển dụng cán bộ là nam, vì thường xuyên phải đi uống rượu, bia tiếp khách"

Cách chia sẻ thật thà của ông làm cả hội trường cười ồ nhưng nó đã phản ánh một sự thật là nền kinh tế của chúng ta đang xây dựng trên những mối quan hệ quen biết, một kiểu làm ăn rất "đặc thù" Việt Nam

Tuần trước, ông bạn vẫn bị cho là "chết gí" ở văn phòng cơ quan một bộ bỗng rủ đi uống bia với thông báo: Tôi "đủ đô" mở công ty rồi ông ạ, tháng này "ra" (tức ra khỏi nhà nước)

Khi một cán bộ cấp bộ "ra" mở một công ty thì chỉ riêng mối quan hệ sẵn có cũng đã có thể đóng góp 50% sự thành công vào sự nghiệp làm ăn của anh. Bởi có quan hệ, anh sẽ có hợp đồng, có dự án, có nguồn việc làm. Có quan hệ, anh có thể bán hay mua và kinh doanh chính những mối quan hệ đó. Ví dụ như anh có thể bán giấy phép đã xin được, bán lại dự án, bán lẻ lại dự án sau khi đã mua sỉ, giá thấp...

Nền kinh tế Việt Nam đang xây dựng trên những mối quan hệ quen biết, một kiểu làm ăn rất "đặc thù" Việt Nam.Thế mới có chuyện ở những khu đô thị mới ra đời trên địa bàn Hà Nội mở rộng, dự án chưa được giải tỏa đền bù nhưng đã được cắt bán buôn cho vài "chủ đại lý" lớn để "chế biến" rồi bán lẻ ra thị trường. Ở không ít dự án bất động sản đang sôi sùng sục tại Hà Nội, phần nào ngon nhất, hời nhất luôn có chủ khi chưa ai biết tới, thậm chí khi dự án còn chưa được vẽ ra giấy. Họ là những "đại gia" đi gom đất của cả vùng với giá bèo bọt, để rồi chỉ vài tháng sau đó, người dân mới ngã ngửa khi biết sẽ có một dự án hoành tráng mọc lên ở đây. Những món hời ấy há dễ có được nếu không dựa trên những mối quen biết lớn?
Cũng vì thế mới có chuyện các cựu quan chức thường được vời vào những công ty tư vấn hay ngoài quốc doanh sau khi đã nghỉ hưu và tận dụng những mối quan hệ lâu năm của mình vào "chương cuối của sự nghiệp". Cũng không lạ gì khi con cháu, người thân của những vị này sống khỏe bằng những mối quan hệ đó

Có một người quen là con của môt vụ trưởng một bộ. Nghề tay phải của anh là công chức của bộ đó, nhưng nghề tay trái là chuyên chạy chọt, giới thiệu, dàn xếp các cuộc gặp gỡ giữa các nhà doanh nghiệp với ông X, bà Y, vị H. Cái nghề mua bán sự quen biết ấy cũng đủ giúp anh sắm vài chiếc ô tô xịn mỗi năm! Song thực tế, sự quen biết chỉ là khúc mở màn, còn diễn biến các câu chuyện kinh doanh đó phải được nối tiếp và lót đường bằng hoa hồng, những khoản lại quả, chưa kể khoản thực thi hợp đồng cũng thuộc về các công ty sân sau

Nói đi thì cũng phải nói lại. Không phải công chức nhà nước cấp cao nào cũng vậy. Một cựu quan chức ngành ngân hàng từng xử lý những vấn đề nóng nhất của thị trường sau khi rút lui khỏi chức vụ đã tâm sự: Thách thức lớn nhất của người lãnh đạo làm đúng sứ mệnh mà anh muốn hay buộc phải gánh vác chính là sự cô đơn. Cô đơn trong các lý tưởng hướng tới và trong các quyết định. Sự cô đơn đến khi anh không thể ra những quyết định chiều theo ý muốn của số đông hoặc một nhóm lợi ích nào đó (mà họ luôn gây sức ép)

Cô đơn vì bản thân anh cũng không có điều kiện để biết hết các thông tin xung quanh một chính sách mà anh sẽ phải ban hành. Cô đơn vì sự quen biết hôm nay, ngày mai bỗng trở thành xa lạ giữa một đám đông khác, để rồi luôn phải thất vọng mỗi khi tự hỏi: "Ai là người thật lòng thật dạ với mình?". Cô đơn vì khi chọn lựa lương tâm chức nghiệp trong quản lý, phải chấp nhận không có mặt "người quen"

Còn nhớ một đại biểu Quốc hội có lần đã phân trần rằng họ cũng là con người, có tình cảm, có "những người quen". Trong số gần năm trăm đại biểu Quốc hội, có bao nhiêu người lựa chọn sự cô đơn khi phải bấm nút cho những siêu dự án mơ hồ?

Và với những ai còn ngồi trên ghế nóng sẽ còn luôn phải trăn trở trước sự lựa chọn: cô đơn và lương tâm chức nghiệp. Sự cô đơn của những chiếc ghế nóng là có thật. Ở bất cứ đâu, nếu anh còn để những mối quen biết lộng hành thì sự chuyên nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và sự liêm chính sẽ phải bị lép vế. Một "nền kinh tế người quen" hẳn nhiên sẽ tiếp tục làm méo mó tất cả các mối quan hệ kinh tế và xã hội khác

LOBBY.VN
06-26-2010, 09:40 PM
Nhóm lợi ích ở ngay trước mắt !

- Tuần trước nhiều báo đăng tin PetroVietnam (tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) đã ký thỏa thuận hợp tác với Tổng cục Thuế. Một trong những nội dung của thỏa thuận này là hai bên sẽ phối hợp trong việc tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách thuế, chính sách quản lý thuế, nhất là các văn bản pháp quy về thuế “tác động nhiều đến sản xuất kinh doanh” của PetroVietnam...

Chúng ta thường nói đến nhóm lợi ích và tác động của nhóm lợi ích lên chính sách. Thỏa thuận nói trên chính là một minh họa rất điển hình cho hiện tượng này. Xin nói ngay rằng bản thân khái niệm nhóm lợi ích không hàm ý tốt hay xấu, việc nhóm lợi ích tìm cách để tác động lên chính sách là chuyện khó tránh.

Tuy nhiên, thỏa thuận giữa Tổng cục Thuế và PetroVietnam là một hình thức “hợp tác” quá lộ liễu, chắc chắn sẽ bị các cơ quan chức năng “thổi còi”. Vai trò, chức năng của Tổng cục Thuế như một cơ quan nhà nước là phải giữ sự công tâm về quản lý thuế đối với mọi đối tượng phải đóng thuế, không thể có chuyện “hợp tác” với đối tượng chịu thuế này mà có khả năng gây thiệt hại đến đối tượng chịu thuế khác.


Hợp tác này còn lộ liễu ở chỗ nó ghi rõ PetroVietnam, thông qua Tổng cục Thuế, sẽ có tác động lên các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, bộ khi ra nghị định, thông tư hay cơ quan lập pháp như Quốc hội khi thông qua luật thuế mới hay sửa đổi, bổ sung luật thuế hiện hành sao cho có lợi đối với PetroVietnam.

Để dễ hình dung, thử tưởng tượng Tổng cục Thuế ký một văn bản như thế với một tập đoàn tư nhân hay ở Việt Nam có nhiều tập đoàn tương tự như PetroVietnam!

Ở những nước khác, các nhóm lợi ích thường vận động hành lang thông qua các quỹ, các viện nghiên cứu hay nói chung là các hình thức gián tiếp khác nhau.

Ví dụ một tập đoàn dầu khí có thể thành lập một quỹ nghiên cứu tác động của chính sách thuế lên hoạt động của họ và nhấn mạnh, chẳng hạn, khía cạnh đầu tư để bảo vệ môi trường trong khai thác dầu khí sẽ khác đi nếu chính sách thuế được điều chỉnh... Sau đó, quỹ này sẽ công bố nghiên cứu, có thể mời cơ quan hành thu thuế hay ủy ban nghiên cứu thuế, tham gia hội thảo... Họ cũng có thể dùng báo chí hay công luận để phổ biến nghiên cứu hòng tác động lên chính sách.

Các nhóm lợi ích khác, có thể có mối quan tâm ngược lại với tập đoàn dầu khí này, cũng sẽ tiến hành các bước tương tự nhưng ngược lại. Cuối cùng, sự cân bằng lợi ích của các nhóm khác nhau sẽ dẫn đến chính sách tương đối tốt nhất cho đa số và cho xã hội.

Chúng tôi tin rằng cơ quan chức năng sẽ hủy bỏ thỏa thuận nói trên giữa Tổng cục Thuế với PetroVietnam cũng như với các doanh nghiệp khác, nếu có trong tương lai.

Vấn đề là các nhóm lợi ích khác cũng đang có những “hợp tác” như thế, có thể tinh vi hơn. Minh bạch trong quá trình xây dựng chính sách, hỗ trợ các tổ chức dân sự để họ có thể nói lên tiếng nói đại diện cho lợi ích của người dân, nâng cao năng lực chuyên môn của đại biểu Quốc hội... là những biện pháp phải làm để đón đầu và hóa giải các nhóm lợi ích mang tính cục bộ hay không thật sự đại diện cho lợi ích của đất nước.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn (http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/3 6585/)

LOBBY.VN
06-26-2010, 10:55 PM
"Vận động hành lang" trong hoạt động lập pháp các nước
và xu hướng ở Việt Nam

"Vận động hành lang" có lẽ bắt nguồn từ bối cảnh ra đời và hoạt động của nghị viện truyền thống Anh quốc. Trong cơ chế hai viện khởi nguyên của Anh quốc, thành viên Viện nguyên lão (Thượng viện) thường chủ yếu đại diện cho quyền lợi của các lãnh chúa rất gắn bó với quyền lợi hoàng gia và hưởng tước lộc cả đời từ hoàng gia, do đó dân chúng ít được tiếp cận với họ.

I. Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp các nước

"Vận động hành lang" có lẽ bắt nguồn từ bối cảnh ra đời và hoạt động của nghị viện truyền thống Anh quốc. Trong cơ chế hai viện khởi nguyên của Anh quốc, thành viên Viện nguyên lão (Thượng viện) thường chủ yếu đại diện cho quyền lợi của các lãnh chúa rất gắn bó với quyền lợi hoàng gia và hưởng tước lộc cả đời từ hoàng gia, do đó dân chúng ít được tiếp cận với họ. Bổ sung cho sự thiếu hụt này là cơ chế Viện dân biểu (Common House), nguyên nghĩa là nghị viện của (và đại diện quyền lợi của) "thường dân". Thành viên Viện dân biểu do dân bầu trực tiếp và họ có được bầu tiếp hay không tùy thuộc vào sự tin cậy của cử tri. Sau này, cho dù đồng thời phải tuân thủ các lợi ích chính trị của các đảng phái khác nhau nhưng thành viên Viện dân biểu vẫn phải coi việc đại diện quyền lợi của cử tri bầu ra họ là yếu tố quan trọng quyết định việc thắng cử trong đợt bầu cử tiếp theo. Vì vậy, các thành viên Viện dân biểu luôn coi trọng sự ủng hộ của cử tri. Mỗi lần từ địa phương tới họp, đại biểu Viện dân biểu thường dành thời gian đọc tài liệu, trao đổi với các đồng nghiệp tại "phòng chờ" hoặc "hành lang" nghị viện, nơi có đặt các dãy ghế dài, bàn đọc… Luật nghị viện cho phép các nghị sĩ có thể ra ngoài phòng họp trao đổi với nhau hoặc với bất kỳ người nào để bổ sung thông tin tại phòng chờ hành lang này

Nhiều khi đại diện các cử tri hoặc người đại diện cho họ trong vận động tại nghị viện - thường là những người có kinh nghiệm, là chuyên gia biết về vấn đề và biết cách quan hệ- đến khu hành lang này để gặp gỡ, bày tỏ quan điểm nhằm cung cấp thông tin, thuyết phục nghị sĩ của họ bỏ phiếu ủng hộ hoặc không ủng hộ những vấn đề, chính sách hoặc dự luật đang được bàn thảo. Từ đó, những người hoặc tổ chức chuyên nghiệp làm nhiệm vụ “con thoi” giữa cử tri với nghị sĩ nhằm tác động tới chính sách và dự luật tại nghị viện được gọi là "người vận động hành lang"[1]. Hoạt động nhằm mục đích tác động tới các nghị sĩ để ủng hộ hoặc không ủng hộ một chính sách, được gọi là hoạt động vận động hành lang.
Ở Hoa Kỳ, sự tham gia của công dân vào chính trị nói chung và quá trình ra quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống dân chủ truyền thống Mỹ. Hiện đã có hàng chục nghìn nhóm công dân tự nguyện liên kết với nhau để cùng tác động vào chính sách theo góc nhìn lợi ích của họ[1]. Theo thống kê của Thư viện Hạ viện Mỹ (2003), có hơn 3.700 nhóm lợi ích được đăng ký hoạt động vận động hành lang đối với các thành viên Quốc hội và chính quyền ở Thủ đô Washington D.C. Những nhóm có ảnh hưởng nhất có khả năng huy động hàng trăm ngàn cử tri vào chiến dịch vận động của họ

1. Sức mạnh của các nhóm vận động

Chính khả năng vận động và liên kết cử tri là sức mạnh vận động của các nhóm quyền lợi đối với nghị sĩ của mình. Nếu các nghị sĩ mong muốn được tái cử, thì việc làm hài lòng cử tri là trách nhiệm lớn nhất đối với họ. Để thực hiện trách nhiệm này, nghị sĩ không chỉ đơn thuần chứng minh sự mẫn cán của mình tại nghị trường hoặc tại đơn vị bầu cử mà còn thông qua các lá phiếu[1] hoặc tham luận bày tỏ quan điểm lập pháp phản ánh những mối quan tâm của cử tri của họ hoặc họ phải biết cách giải thích thỏa đáng cho cử tri về một hành động bỏ phiếu bất thường nào đó của mình

Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri thường chi phối kết quả bỏ phiếu cuối cùng. Trong cuộc bỏ phiếu về đạo luật tài chính cho nông nghiệp năm 2001, các cử tri vùng đánh cá da trơn của Mỹ đã thành công trong việc vận động gây sức ép nghị sĩ của mình bỏ phiếu cho một điều khoản bổ sung trong đó có quy định buộc phải đổi tên các sản phẩm cá da trơn nhập khẩu khác với loài cá "Catfish" của Mỹ và ghi rõ trên nhãn sản phẩm- mở đầu cho chiến dịch và thủ tục kiện bán phá giá đối với cá da trơn của Việt Nam và một số nước khác nhập khẩu vào Mỹ. Trong cuộc cạnh tranh vận động này, nhóm lợi ích của các nhà nhập khẩu cá da trơn và người tiêu dùng Mỹ đã không có sự vận động ngược lại đáng kể

Cao hơn sự kết hợp thành nhóm cử tri có cùng lợi ích là sự kết hợp thành hiệp hội. Thành viên của các hiệp hội có sự liên kết bền vững hơn các nhóm lợi ích, và do đó, họ hình thành tổ chức vận động hành lang có tính chất chuyên nghiệp dựa vào mối quan hệ tương hỗ với các nghị sĩ, nhân viên của họ, bằng các chuyên gia chuyên vận động hành lang. Một chuyên gia vận động hành lang cho một hiệp hội sẽ nói thay cho nhiều người khi trình bày các quan điểm chính sách trước Quốc hội. Cao hơn nữa là sự liên kết của các hiệp hội tạo thành các liên minh có chung tiếng nói, có quan điểm vận động chung về những vấn đề chính sách lớn khiến cho Quốc hội khó có thể bỏ qua ý kiến của các liên minh này hoặc có trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì tiếng nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm, chính sách đó

2. Vận động hành lang dựa trên sự chuyên nghiệp

Thuyết phục dựa trên bằng chứng: những người vận động hành lang muốn có tiếng nói hiệu quả trong quá trình ra quyết định thì, bên cạnh tiếng nói của số đông cử tri mà mình đại diện còn phải dựa trên sự thuyết phục khoa học và bằng chứng cụ thể. Họ phải là chuyên gia trên các lĩnh vực chính sách cần vận động, phải có kỹ năng hình thành và gửi các thông điệp đầy ý nghĩa, có bằng chứng thuyết phục tới đúng người và đúng lúc; biết làm việc với những thành viên chủ chốt của nghị viện, kể cả giới lãnh đạo nhóm đảng phái trong nghị viện và với nhân viên của họ. Vì vậy, sự vận động yêu cầu tính chuyên nghiệp

Vận động trung thực tạo diễn đàn thảo luận xã hội về chính sách: Các "chuyên gia” vận động hành lang làm cho các nghị sĩ và các nhân viên của họ không có cảm giác bị "quấy rầy" mà ngược lại, chính là sự hỗ trợ thông tin và củng cố lập luận cho nghị sĩ và nhóm đảng phái của họ. Đây là sự tương tác giữa sự vận động một chiều và sự cộng tác, tham gia của công chúng trong quá trình ra quyết định của chính phủ thông qua cơ quan đại diện- một sự tham gia tích cực bổ sung cho quá trình ra quyết định. Các chuyên gia vận động giúp nghị sĩ điều tra, thu thập thông tin và huy động sự tham gia rộng rãi của công chúng (theo nhóm lợi ích nhất định) đối với những vấn đề chính sách. Vì vậy, sự vận động trung thực chính là nhằm bổ sung các quan điểm nhiều chiều của xã hội, sự trao đổi xã hội của các đối tượng thi hành luật, chính sách để ủng hộ quyết định của nhà nước

Yêu cầu thông tin công khai: do bản tính chuyên nghiệp trong vận động và sự tham gia tương hỗ nói trên của công chúng trong quá trình ra quyết định, nên thông tin công khai minh bạch về quá trình ra quyết định là yếu tố tạo điều kiện cho sự tham gia. Các chuyên gia vận động hành lang phải được tiếp cận với các nguồn thông tin mới nhất về vấn đề ra quyết định. Sự tiếp cận này cũng có thể nhưng không chỉ thông qua giới truyền thông mà còn thông qua nghị sĩ, nhân viên phục vụ nghị sĩ và năng lực tổ chức nghiên cứu, điều tra của các hiệp hội, liên minh các hiệp hội

3. Đồng tiền bóp méo dân chủ

Vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập thông tin và tác động, nhưng đồng tiền khi dan díu với quyền lực chính trị sẽ đẻ ra nguy cơ bè đảng, bóp méo dân chủ, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng nói trong quá trình ra quyết định. Điều này đúng với các tổ chức vận động chuyên nghiệp, các cá nhân vận động đã đăng ký tại Nghị viện Hoa Kỳ; đứng sau lưng họ là các tập đoàn có lợi ích từ việc vận động. Đây cũng là một nguy cơ cho nền dân chủ vì các thế lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động và bóp méo công lý. Pháp luật cần có hành lang quy định để kiểm soát việc tạo dựng quỹ vận động để bảo đảm vận động trung thực, vì không phải nhóm lợi ích nào cũng có đủ năng lực tài chính để chi trả cho việc gây ảnh hưởng

Trong số những cá nhân và tổ chức đã đăng ký tại Quốc hội Hoa Kỳ, thống kê cho thấy: 72% trong số họ đại diện cho các tổ chức và hiệp hội kinh tế, 8% đại diện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ dân quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho những nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật[1]. Như vậy, số người hành nghề vận động hành lang đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm số lượng áp đảo. Một khảo cứu của Quốc hội Canada cũng cho thấy, giới doanh nhân nước này đã dành một thời gian và tiền bạc rất lớn cho việc vận động các chính sách có lợi cho mình[1]. Ưu thế về tài chính trong vận động hành lang đã bóp méo nền dân chủ phương Tây, thao túng đáng kể đời sống chính trị các quốc gia này

Vận động hành lang của nước ngoài tại Mỹ: trường hợp Trung Quốc
Ngay từ sau thế chiến thứ hai, Trung Hoa dân quốc đã hình thành ở Hoa Kỳ một hiệp hội Trung Quốc gồm những người bạn Mỹ của Trung Quốc (The China Society); tương tự như vậy, có các hiệp hội khác đóng vai trò vận động chính sách Mỹ đối với khu vực như "The Asian Society"[1] hoặc The Korean Society

Nhóm vận động hành lang có ảnh hưởng rộng lớn đối với dân chúng có thể kể đến là Tổ chức Nông nghiệp liên bang Mỹ. Thành lập năm 1919, tổ chức này có hơn 4.9 triệu gia đình thành viên tại 50 bang của Mỹ và Puerto Rico, các thành viên tổ chức như Hiệp hội sản xuất hàng hóa tiêu dùng nông nghiệp tại Mỹ. Tổ chức này được đăng ký và thừa nhận là tổ chức vận động hành lang có khả năng huy động sự ủng hộ của dân chúng lớn nhất đối với các vấn đề quốc nội và quốc tế liên quan đến số phận của nông dân và những người chăn nuôi gia súc Mỹ

Hiệp hội Trung Quốc và các nhà vận động tại Mỹ cho quyền lợi của CHND Trung Hoa trong thương mại với Mỹ đã tận dụng tối đa sự ủng hộ của Tổ chức nông nghiệp liên bang Mỹ để mở rộng quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (NTR) cho Trung Quốc được gia hạn hàng năm. Trung Quốc là thị trường lớn thứ sáu cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Mỹ. Sự vận động hành lang cho phép Trung Quốc đổi lại việc chấp nhận hàng xuất khẩu nông nghiệp Mỹ vào Trung Quốc bằng chế độ thương mại bình thường NTR hàng năm và hàng dệt may Trung Quốc vào Mỹ. Quan hệ Mỹ-Trung dần trở thành chủ đề thảo luận hàng năm ở Washington và trong các cân nhắc của Quốc hội về việc liệu có nên dành cho Trung Quốc những lợi ích thương mại. Tuy Thượng viện luôn đồng ý với việc Tổng thống khôi phục lại NTR, song lại có một nghị quyết khác ở Hạ viện từ chối việc dành lợi thế thương mại của Mỹ cho Trung Quốc. Những quan điểm chính trị khác nhau này vốn là một lợi thế truyền thống trong chính sách đối ngoại Mỹ- nguồn gốc của cái gọi là "tiêu chuẩn kép" trong thương mại quốc tế của Mỹ và châu Âu

Sự vận động trái chiều do các lợi ích khác nhau ở Mỹ dẫn đến các lý do hạn chế thương mại bình thường với Trung Quốc xuất phát từ các tiêu chí khác như những tranh luận về các vấn đề phi thương mại như vấn đề nhân quyền, hoạt động tình báo đối với công nghệ vũ khí hạt nhân của Mỹ, những luận điệu về tài trợ tài chính bất hợp pháp cho các chiến dịch tranh cử; và sự xung đột về chính trị giữa Trung Quốc với Tây Tạng và Đài Loan... có ý nghĩa quan trọng về mặt chính sách đối ngoại đại diện cho quan điểm của các nhóm cử tri chống đối việc mở rộng quy chế đối xử thương mại ưu đãi cho Trung Quốc. Cả hai quan điểm trái ngược trên đây đều thể hiện trên báo chí trong suốt thời gian 60 ngày Hạ viện Mỹ thảo luận về vấn đề này và kết thúc bằng kết quả bỏ phiếu thuận tại Hạ viện về duy trì thương mại bình thường với Trung Quốc năm 1999 với tỷ lệ chênh lệch là 260-170 thuận theo hướng nới rộng quy chế NTR với Trung Quốc. Vận động thuận cho chiều hướng bình thường hóa thương mại với Trung Quốc chính là các nhóm kinh doanh hàng nông nghiệp và nông dân Mỹ thông qua tổ chức Nông nghiệp liên bang Mỹ để nhằm giành thị trường xuất khẩu hàng nông nghiệp của Mỹ vào Trung Quốc. Các nhóm kinh doanh và nông dân đã bao vây nghị sĩ Hạ viện bằng các cuộc điện thoại, thư điện tử, thư cử tri và các báo cáo ngắn theo chuyên đề để những người này bị thuyết phục về những lợi ích của việc phê chuẩn. Khi Trung Quốc đã là thành viên của WTO, các nhà vận động cho lợi ích nông nghiệp Mỹ lại bắt đầu cuộc vận động giành quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Trung Quốc

4. Luật vận động hành lang

Vì lý do bảo đảm quyền gây ảnh hưởng của công chúng tới các quyết định chính trị một cách trung thực, đồng thời chống lại các hành vi Lobby không trung thực (như hối lộ hoặc gây ảnh hưởng tới chính khách thông qua quyền lợi vật chất cho nghị sĩ hoặc cho các cuộc vận động bầu cử), Quốc hội Mỹ đã ban hành Luật Lobby. Ngày 18/1/2006, Luật này lại được phe Cộng hòa trong Quốc hội Mỹ đề nghị sửa đổi[1], mặc dù đề nghị này nhằm xoa dịu công chúng về vụ quan hệ vụ lợi kinh tế giữa nhà Lobby Jack Abramoff với nghị sĩ Đảng Cộng hòa, nhằm cứu vãn thiệt hại chính trị của Đảng này trong cuộc bầu cử sắp tới. Kiến nghị sửa đổi Luật Lobby quy định cấm các hình thức quà cáp “bồi dưỡng” cho các nghị sĩ có giá trị từ 20 USD trở lên, tặng vé máy bay, chiêu đãi các kỳ nghỉ, các "chuyến đi thực tế" của các nghị sĩ theo lời mời của các tổ chức, cá nhân, mời cơm thân... mà không hạn chế các nhà vận động hành lang tiếp cận các nhà làm luật

Các bang của Hoa Kỳ cũng có những luật quy định riêng đối với hoạt động vận động hành lang và vận động tài chính của các đảng cho các cuộc bầu cử

II. Xu hướng vận động hành lang ở Việt Nam

1. Hiến pháp quy định về quyền tham gia

Công dân Việt Nam được thừa nhận có quyền "tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân" (Điều 53 Hiến pháp 1992). ở mức độ tham gia cao hơn, Hiến pháp 1992 tại Điều 11 ghi nhận quyền làm chủ ở cơ sở của công dân: "Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội... tổ chức đời sống công cộng”

Về vai trò và nghĩa vụ hợp tác của người đại biểu nhân dân với cử tri trong thực hiện "quyền tham gia", Điều 97 Hiến pháp quy định "Đại biểu Quốc hội ... không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước”. Như vậy, về nguyên tắc, bất kỳ người dân nào cũng có quyền tiếp xúc và yêu cầu bất kỳ đại biểu Quốc hội nào lắng nghe ý kiến của mình và "phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan". Trong khi đó, tại địa phương, đại biểu hội đồng nhân dân có nhiệm vụ chủ động "động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước" (Điều 121, Hiến pháp năm 1992)

Như vậy, nền tảng Hiến định đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước, đặc biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt ý kiến của nhân dân đối với chính sách, pháp luật

2. ý nghĩa chính trị của sự tham gia của công chúng vào lập pháp

Xuất phát từ nền tảng Hiến pháp và xem xét bản chất của pháp luật, các chính sách thể hiện trong các văn kiện pháp lý thuộc mọi thẩm quyền, có giá trị ràng buộc toàn dân, có thể lập luận những lý do và ý nghĩa chính trị sau đây của sự tham gia của công chúng vào lập pháp theo nghĩa rộng là việc đặt ra các quy phạm có ý nghĩa ràng buộc chung mọi người dân:

1) Pháp luật[1] do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành theo sự ủy nhiệm của người dân thông qua Hiến pháp và chế độ bầu cử, do đó, người dân có quyền có ý kiến về việc đặt ra pháp luật. Đây là ý nghĩa chính trị của sự ủy nhiệm trong chế độ dân chủ đại diện của chế độ ta. Sự ủy nhiệm này không phải là trao toàn bộ quyền lực của nhân dân cho bộ máy nhà nước mà là ủy nhiệm có sự giám sát và góp ý. Sự tín nhiệm được đo lường thông qua các cuộc bầu cử, trong đó đặc biệt cần nhắc tới là sự tín nhiệm cá nhân của cử tri đối với cá nhân đại biểu do mức độ hợp tác và hiệu quả đại diện của người đại biểu. ý nghĩa chính trị này lập luận cơ sở của quan hệ vận động Cử tri - Đại biểu

2) Pháp luật được ban hành như một mặt bằng chuẩn chung nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong xã hội vốn không đồng nhất về lợi ích, quyền lợi và địa vị kinh tế, chính trị cũng như những khác biệt khác như khác biệt về giới, về nhóm dân tộc, các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Do tính chất không đồng nhất này, hay còn gọi là sự không cân xứng về vị thế và lợi ích của đối tượng áp dụng nên các nhóm lợi ích khác nhau cần được phát biểu quan điểm và vận động nhà lập pháp chú ý tới mặt bằng không đồng đều này để ban hành những quy phạm ngoại lệ, quy phạm ưu đãi có điều kiện hoặc chọn một giải pháp lập pháp giản tiện và hiệu quả hơn nhằm cân bằng lợi ích/sự thiệt hại một cách tương đối


3) Xuất phát từ hai luận điểm trên đây, sự tham gia ý kiến một cách chủ động của những đối tượng bị điều chỉnh bởi chính sách và pháp luật (vận động, tác động tới chính sách và pháp luật) nhằm bảo đảm tính bao quát, thực tế của pháp luật và qua đó bảo đảm tính khả thi cao.

Xu hướng và điều kiện

Căn cứ vào những luận điểm trên đây về "quyền tham gia" và ý nghĩa chính trị-pháp lý của quyền này trong lập pháp, chúng tôi cho rằng, không có lý do gì cản trở sự vận động hành lang ở Việt Nam. Sự tiên đoán về xu hướng phát triển của vận động hành lang tại Việt Nam phụ thuộc vào một số điều kiện và hoàn cảnh sau đây:

1) Mức độ liên kết và kết nối của công dân, của các nhóm lợi ích: sự liên kết và kết nối này hiện đang được thực hiện thông qua các thiết chế tập trung như Mặt trận tổ quốc, Công đoàn. Bên cạnh ưu thế chính trị của các tổ chức này đối với sự thống nhất và đoàn kết dân tộc cũng đồng thời thể hiện sự hạn chế của các tổ chức này trong nền kinh tế thị trường có nhiều lợi ích đan xen và ngược chiều. Môi trường pháp lý về lập hội và hoạt động của hiệp hội, các tổ chức nhân dân là sự bổ sung cần thiết để đa dạng hóa và tạo điều kiện cho sự liên kết và kết nối của công dân theo các nhóm lợi ích và vấn đề để thể hiện tiếng nói của mình trong lập pháp.

2) Cần nghiên cứu bổ sung sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập pháp từ giai đoạn sớm: giai đoạn sáng kiến lập pháp và giai đoạn soạn thảo, nhất là các giải pháp lập pháp có ý nghĩa thi hành trên thực tế, mang tính chất cân bằng lợi ích chung.

3) Cần bổ sung vào cơ chế và quy định về lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật bằng "cơ chế mở" để cử tri và các tổ chức có thể bày tỏ quan điểm và cung cấp thông tin tới các nhà lập pháp và chính phủ, cơ quan sáng kiến lập pháp, cơ quan soạn thảo, công chức của các cơ quan này về khía cạnh chính trị và lợi ích của các phương án lập pháp. Cơ chế này nên là cơ chế đối thoại xã hội mở thông qua thủ tục và không thủ tục (ví dụ: qua kênh báo chí) và phải có phản hồi từ cơ quan nhà nước. Theo chúng tôi, đối thoại xã hội về các khía cạnh chính trị của giải pháp lập pháp là quan trọng hơn sự hiến kế về các giải pháp kỹ thuật, vì chưa chắc các nhà lập pháp thông minh sẽ chọn biểu quyết cho một quy phạm đúng về pháp lý thay vì một lựa chọn đúng về chính trị (phản ứng thích hợp trong môi trường chính trị thích hợp qua đối thoại xã hội). Sự cân bằng lợi ích tương đối hợp lý trong các giải pháp lập pháp sẽ có ý nghĩa nhiều hơn sự sáng tạo quy phạm độc đoán của nhà quản lý.

4) Cần có quy định đăng ký và kiểm soát các tổ chức, cá nhân, hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực vận động chuyên nghiệp đối với các cơ quan nhà nước; các hình thức vận động chuyên nghiệp phân biệt với sự đóng góp của nhân dân qua thực hiện "quyền tham gia".

5) Bổ sung vào thủ tục cho phép sự gia hạn xem xét các dự án luật/ chính sách mà công luận có nhiều ý kiến khác nhau và bổ sung hình thức đối thoại công chúng (public hearings) để các cơ quan thẩm tra, thẩm định dự án luật có thể nghe các bằng chứng, lập luận khác nhau.

6) Vận động hành lang về chính sách và pháp luật có ý nghĩa hiệu quả không phải trong giai đoạn cuối cùng khi thời gian nghị trường đã hết, mà chỉ thực chất nếu được tiến hành từ giai đoạn chính phủ.Vì vậy, quy định về lấy ý kiến nhân dân trong giai đoạn lập pháp của Quốc hội cũng như vận động đại biểu Quốc hội sẽ chỉ có ý nghĩa hình thức. Tuy nhiên, sự giám sát của Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đối với quy tắc vận động sẽ có tác dụng bảo đảm việc vận động hành lang được dân chủ và thực chất.

7) Công khai, minh bạch và cho phép công chúng tiếp cận các thông tin trong quá trình lập pháp là điều kiện cho phép vận động trung thực. Báo chí và các phương tiện truyền thông cần phát huy vai trò tạo dựng diễn đàn thảo luận xã hội giúp cơ quan hành pháp nhận biết về lợi ích cũng như rủi ro ban hành một chính sách nhất định. Quy trình xem xét dự án luật tại hai kỳ họp là một quy trình tốt để công luận được thông tin về dự thảo luật một cách đầy đủ.

Cuối cùng, tôi cho rằng, ngay từ bây giờ, đã tới lúc cần nghiên cứu tính đến các giải pháp lựa chọn về thủ tục và lập pháp để thừa nhận, điều chỉnh hiện tượng vận động hành lang trong hoạt động lập pháp, lập quy ở nước ta trong thời gian gần; nhất là cần chú ý mục đích điều chỉnh để cân bằng lợi ích, bảo đảm một xã hội phát triển hài hòa. Trong đó, cần chú ý hiện tượng một số hiệp hội kinh tế có vị thế áp đảo trong vận động hành lang, trong khi có những nhóm lợi ích khác lại chưa kịp chuẩn bị để chủ động tham gia, dẫn đến sự bất công hoặc lách luật, không thi hành pháp luật. Ngăn chặn các hiệp hội vận động hành lang là trái với quy luật nhưng cũng không thể để mặc các nhà vận động muốn làm gì thì làm, mạnh ai người nấy làm, thui chột sự tích cực của xã hội dân sự.

Nguyễn Chí Dũng
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 79, tháng 9/2006

LOBBY.VN
06-27-2010, 12:16 PM
Lỗ hổng luật pháp

Công luận đang xôn xao, bàn luận việc thỏa thuận "hợp tác" giữa Petrovietnam thông qua Tổng cục Thuế sẽ có tác động đến các cơ quan nhà nước để sao cho có lợi cho Petrovietnam.

Trong thuật ngữ quản trị học có nguyên tắc "không được phép song trùng vai trò quản lý và bị quản lý ở 1 người thuộc 2 cấp phụ thuộc trực tiếp" . Nguyên tắc tối cao của luật pháp là có thể thỏa mãn tối đa lợi ích của cá nhân, nhóm lợi ích này nhưng không được làm hại đến cá nhân và nhóm lợi ích khác. Bởi vậy, công luận đang xôn xao, bàn luận việc thỏa thuận "hợp tác" giữa Petrovietnam thông qua Tổng cục Thuế sẽ có tác động đến các cơ quan nhà nước để sao cho có lợi cho Petrovietnam.

Nếu tôi nhớ không nhầm, đây không phải là lần đầu có sự "bắt tay" dạng này. PetroVietnam từng hợp tác với Bộ Tư pháp và một số đơn vị khác về cơ chế quản lý và giáo dục chính trị tư tưởng... Cái khác của lần này là hình như, sự bắt tay này có vẻ lộ liễu như thách thức dư luận xã hội và thể chế nhà nước?

Nước ta còn nghèo, ngân sách hiện nay còn dựa vào nguồn thu lớn là tiền bán dầu khí. Khi biết chuyện, một số người mới có cảm giác: Tổng cục Thuế phải có trách nhiệm đặc biệt quan tâm "chăm sóc" đại gia dầu khí để tận thu cho nguồn ngân sách của nhà nước. Hành động bắt tay khiến dư luận đặt câu hỏi, phải chăng có người đang tính chuyện "chung chi" trên lưng những người dân nghèo.

Một khi hai "nhà" ôm hôn thắm thiết trước khi ngồi vào bàn thảo luận, ai dám chắc họ không thông đồng với nhau để bớt xén nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước với các khoản thuế đã được ưu ái xem xét

Ở các nước, các nhóm lợi ích có quyền thông qua các hiệp hội ngành nghề, tập đoàn, doanh nghiệp để tác động với các chính sách, quyết sách cụ thể nhưng phải trong khuôn khổ của luật pháp, thể chế, có hành lang pháp lý để sự tác động vào chính sách được minh bạch, không bị lạm dụng. Các thành viên Chính phủ, đặc biệt là các vị dân biểu luôn tiếp cận, lắng nghe các kênh thông tin đa chiều, tỉnh táo, phân tích đánh giá quyền lợi chung của đất nước và tiếng nói của người dân trong quá trình xây dựng các văn bản pháp quy cũng như khi ban hành văn bản pháp luật để đạt được sự đồng thuận cao trong xã hội.

Ở Việt Nam, một số lần chúng ta dường như đã buộc phải quen hơn với các quy trình ngược. Không ít các Thông tư, Nghị định trái ngược với Luật; Xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước thường rất chậm và đi sau quy hoạch của các ngành, các địa phương; Quy hoạch tổng thể đi sau quy hoạch chi tiết....

Trước đây, Tổng Công ty cao su Việt Nam (nay gọi là Tập đoàn công nghiệp cao su) thỏa thuận riêng với Bộ Tài chính nguyên tắc tính lương theo tỷ lệ doanh số. Đây là việc làm chưa đúng về khoa học quản lý kinh tế vì tiền lương là chi phí bỏ ra để có doanh số cho nên khi doanh số âm thì vẫn phải trả tiền lương. May cho ngành cao su là gặp thuận lợi được mùa, được giá nên lương cao ngất ngưởng so với các doanh nghiệp nông nghiệp khác đang hưởng thang lương theo quy định của Bộ Thương binh xã hội và Bộ Tài chính ban hành.

Bởi thế, đây đó người ta mới có cảm giác, dường như một số chủ trương, chính sách đang bị các nhóm lợi ích chi phối, tác động. Đơn cử là các sắc thuế nhập khẩu rất "cảm tính" dẫn đến sự bảo hộ cho sản xuất (ERP- Bảo hộ hữu hiệu) gần như sụp đổ[1]. Nhiều chuyên gia phản bác về tính "hợp pháp" các câu chuyện lobby của Hiệp hội ô tô Việt Nam, Hiệp hội thép và ngay cả Hiệp hội doanh nghiệp trẻ tiến hành dự án các tập đoàn tư nhân!

Lobby - Vận động hành lang cần thiết trong sinh hoạt vận động nghị trường nhưng phải công khai, minh bạch trong khuôn khổ của pháp luật. Ngay các nước tư bản lobby cũng có nhiều cái dở, nhưng bù lại họ có hệ thống báo chí, công luận và cả cơ quan chuyên môn luôn "săm soi" vạch ra những cái sai để những người đề xuất, người thẩm định, và người ra quyết định có nhiều cơ sở xem xét, đánh giá vì quyền lợi chung của cả cộng đồng. Đấy là lobby hoạt động trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền. Nó hoàn toàn khác với cái gọi là lobby theo mối quan hệ "móc ngoặc", phạm pháp, có vẻ như đang thịnh hành ở Việt Nam.

Đất nước muốn ổn định và phát triển bền vững theo dòng chảy của thời đại, cần phải gấp rút tu chỉnh lại Hiến pháp 1992. Bài trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An ngày 24/6/2010 về vai trò của nhân dân trong việc phúc quyết và sửa đổi Hiến pháp được đông đảo nhân dân tán thành, ủng hộ rất đáng suy ngẫm. Để các chính sách luôn vì lợi ích của nhân dân, không bị chi phối, tác động vì lợi ích cục bộ của các nhóm lợi ích, phải nâng cao chất lượng "đầu vào" của Ban chấp hành Trung ương, các đại biểu Quốc hội và các thành viên của Chính phủ. Luật Lobby (vận động hành lang), Luật trưng cầu dân ý và Luật tiếp cận thông tin... rất cần thiết.

Cần phải cảnh giác trước những ý kiến tham mưu hoặc "những sáng kiến mang lại nhiều lợi ích" do những nhóm lợi ích cục bộ đưa ra nhưng đổi lại là sự hy sinh quyền lợi của đất nước ngày hôm nay và để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu chúng ta

LOBBY.VN
07-03-2010, 12:45 PM
Thương vụ tàu Mistral giữa Nga và Pháp có thể đổ bể ?

- Một ủy ban đặc biệt của chính phủ được thành lập để nghiên cứu việc mua tàu mang trực thăng lớp Mistral của Pháp do Phó Thủ tướng, Chủ tịch hội đồng giám đốc tập đoàn đóng tàu thống nhất của Nga Igor Sechin lãnh đạo. Theo tờ Kommersant của Nga, điều này có nghĩa là hợp đồng mua tàu Mistral của Pháp do Bộ Quốc phòng vận động hành lang có thể sẽ không diễn ra vì ông Sechin được cho là người không ủng hộ hợp đồng này

Thay vào đó, tập đoàn đóng tàu thống nhất có thể bắt đầu chế tạo tàu tương tự như tàu Mistral với tập đoàn STX của Hàn Quốc tại Kronstadt, Nga

Thông tin trên được Phó Thủ tướng Nga Sergei Ivanov tuyên bố vào chiều 02/7. Tuy nhiên, ông không nói rõ thành phần đầy đủ của ủy ban và quyền hạn của ủy ban này. Trong khi đó ông Sechin không bình luận về việc thành lập ủy ban này

Cho đến nay, cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện hợp đồng mua tàu Mistral của Pháp là công ty xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport. Vào tháng 6, Tổng Giám đốc công ty Anatoly Isaikin cho rằng, trong các cuộc hội đàm với Pháp có cả sự tham gia của đại diện Bộ Quốc phòng Nga. Nhưng nguồn tin của tờ Kommersant cũng như một vài nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga cho biết, hiện nay “ủy ban này sẽ chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề của hợp đồng từ việc bắt đầu nghiên cứu tính hợp lý của hợp đồng đến việc trang bị vũ khí cho tàu”. Đại diện Bộ Quốc phòng Nga cũng vẫn sẽ tham gia vào quá trình thực hiện hợp đồng này còn công ty Rosoboronexport sẽ chịu trách nhiệm đơn thuần “về mặt kỹ thuật của hợp đồng tiềm năng này”

Trong khi đó, một vài nguồn tin tiết lộ với tờ Kommersantbản thân ông Igor Sechin kịch liệt phản đối hợp đồng trực tiếp mua tàu Mistral của Pháp. Họ giải thích rằng, tổ hợp công nghiệp quốc phòng “không chỉ quan tâm đến việc nhập khẩu các tàu quân sự mà còn tới cả việc đóng chúng tại Nga và việc nhận các hợp đồng của Bộ Quốc phòng Nga". Trong chuyến thăm Paris hồi tháng 6, Phó Thủ tướng Sechin nói rằng việc mua tàu Mistral không phải ở “bản thân tàu Mistral” mà là “công nghệ đóng loại tàu này”. Tập đoàn đóng tàu thống nhất của Nga muốn đóng tàu lớp Mistral tại Nga, chứ không chỉ mua tàu hoàn thiện. Bộ Quốc phòng Nga giải thích cần thiết mua tàu Mistral là vì tính đa chức năng của nó và có kế hoạch sử dụng tàu tại vùng Viễn Đông

Việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Igor Sechin làm chủ tịch ủy ban phụ trách việc mua tàu Mistral là “chiến thắng quan trọng của những ai không tán thành hợp đồng mua trực tiếp tàu Mistral”, Phó Giám đốc Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ Konstantin Makyenko nhận định. Chuyên gia trên nhận định, hiện nay, hợp đồng chắc chắn đang bị cản trở còn các cuộc tranh cãi xung quanh hợp đồng này sẽ càng “rôm rả” hơn từ vấn đề mua tàu đến khả năng đóng tàu này tại Nga. Nếu ủy ban này do Phó Thủ tướng Igor Sechin lãnh đạo thì việc mua tàu trước hết nhằm mục đích nắm được công nghệ đóng tàu chắc chắn sẽ không được chào đón. Nhưng, ông cho biết rõ hơn rằng, toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ phía Hàn Quốc sẽ sẵn sàng chia sẻ công nghệ cho Nga ở mức độ nào cũng như thời gian thực hiện dự án

LOBBY.VN
07-05-2010, 05:16 PM
HUNGARY TỐN BẠC TRIỆU HÀNG TUẦN
ĐỂ VẬN ĐỘNG MỸ BỎ VISA

Dutko Worldwide, một hãng tư vấn Mỹ được Hungary trả 5.000 USD (chừng 1 triệu Ft) hàng tuần để "vận động hành lang" trong Quốc hội Hoa Kỳ nhằm mục đích Mỹ bỏ thị thực nhập cảnh cho công dân Hung. Không chỉ riêng Hung, mà nhiều nước thành viên EU khác cũng ủy nhiệm Dutko Worldwide vì mục đích này, và theo Simonyi András - đại sứ Hungary tại Washington -, điều này được thực hiện trên cơ sở đấu thầu hoàn toàn hợp thức.

Như đã đưa tin, Cộng hòa Hungary đang rất hy vọng được Hoa Kỳ miễn visa trong thời gian tới và để đạt được điều đó, nước này đang thuê các dịch vụ "vận động hành lang" của Dutko Worldwide, một hãng giàu kinh nghiệm, rất có uy tín và ảnh hưởng đối với cả hai đảng Xã hội và Dân chủ. Ông Simonyi András cho biết: việc ủy nhiệm hãng này đã được bàn bạc từ nửa năm nay và trong khuôn khổ một cuộc đấu thầu theo các quy định nghiêm ngặt của Liên hiệp Châu Âu, Dutko Worldwide đã giành được vai trò này. Hiện tại, 4 nước thuộc khối Visegrád (Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Czech và Slovakia), cũng như hai nước vùng vịnh Baltic (Litvania và Lettonia), hàng tuần đều trả 5.000 USD cho Dutko Worldwide để hãng này vận động Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cho phép công dân các nước kể trên được nhập cảnh Mỹ mà không cần xin chiếu khán.

Trả lời câu hỏi liệu bao giờ Hoa Kỳ miễn visa cho công dân Hung, đại sứ Simonyi András cho rằng không nên "đoán già đoán non", vì "điều gì phải đến sẽ đến" theo đúng lịch trình và các kế hoạch được bàn thảo. Nhà ngoại giao Hung nhấn mạnh: ông sẽ là người hạnh phúc nhất nếu quyết định được đưa ra trước khi nội các Bush mãn nhiệm, tức tháng 1-2009.

Ông Simonyi András cũng cho biết: cho dù quyết định được đưa ra đi nữa, vẫn phải chờ một khoảng thời gian nhất định để thực hiện các thủ tục hành chính, cho đến khi thủ tục miễn thị thực được thực hiện.

LOBBY.VN
07-09-2010, 11:59 AM
Tái cấu trúc tiến trình xây dựng quyết sách

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó.

Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 4 (nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán)... Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết sách tương ứng với nó- đó là quy trình từ dưới lên, quy trình dân chủ với sự tham gia của mọi thành phần xã hội, có khả năng hoạch định được những quyết sách có chất lượng cao.

Chúng ta xuất phát từ đâu ?

Trong hội thảo đi tìm mô hình tăng trưởng cho Việt Nam do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 23/6/2010, Gs. Kenichi Ohno phân chia 5 đẳng cấp quốc gia như sau:

- Đẳng cấp hạng 5, thấp nhất: nông nghiệp tự cung tự cấp, phụ thuộc vào viện trợ. Đây là đẳng cấp của Việt Nam năm 1986, năm Đổi mới.

- Đẳng cấp hạng 4: sản xuất giản đơn: Nuôi tôm, bóc vỏ, xuất khẩu. Nhập nguyên liệu dệt, sản xuất vải, may áo, đem bán. Khai thác tài nguyên, sơ chế, bán cho Trung Quốc... Đẳng cấp của Việt Nam hiện nay.

- Đẳng cấp hạng 3: có các ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành này được nuôi dưỡng bởi các công ty đầu tư nước ngoài. Đây là trình độ hiện nay của Thái Lan, Malaysia, một phần lực lượng kinh tế của Trung Quốc.

- Đẳng cấp hạng 2: Làm chủ công nghệ, quản lý, sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Đây là đẳng cấp của Hàn Quốc, Đài Loan, và một số thành phố phía Đông của Trung Quốc.

- Đẳng cấp hạng nhất: Sáng tạo (trong đó có cải tiến) trong sản xuất như là kẻ dẫn đầu. Đây là đẳng cấp của Mỹ, Nhật, EU.

Nhiệm vụ của Việt Nam là trong vòng khoảng 2 thế hệ, phải từ tiến hóa thành quốc gia "hạng nhất", sáng tạo với tư cách là kẻ dẫn đầu. Để thực hiện được mục tiêu này chúng ta cần đến tính khoa học và dân chủ trong cấu trúc của tiến trình ra quyết sách, và cách sắp xếp thế trận hợp lý để thực thi các quyết sách đó

Khiếm khuyết của tiến trình hoạch định quyết sách nhìn từ những siêu dự án

Thời gian qua, Việt Nam chứng kiến sự nợ rộ của những siêu dự án: "quy hoạch Hà Nội", "thành phố ven sông Hồng", "đường sắt cao tốc"... Những dự án này đều do các nhóm tư vấn nước ngoài thực hiện.

Những tổ chức tư vấn này đề xuất những hạng mục đòi hỏi một khả năng tài chính và kỹ thuật mà Việt Nam hiện chưa làm nổi. Nếu phê duyệt dự án, cách duy nhất để thực hiện là vay ODA và trao thị phần cho nước mình vay.

Các Nhóm tư vấn nước ngoài này không hề độc lập mà chỉ là một mắt xích trong "binh pháp ODA" của các nước phát triển hơn ta. Các nhà khoa học Việt Nam chỉ được biết đến các dự án đó khi cơ quan chủ trì đem ra "lấy ý kiến" và "xin phê duyệt". Vì thế hầu như họ phải phản biện trong tình trạng chạy theo đuôi tình thế.

Kết quả tất yếu của cách vận hành chính sách như trên là, những khoản "béo bở" nhất của đại dự án thì thuộc về nước ngoài. Người Việt Nam, do ràng buộc của tài chính, kỹ thuật và điều khoản hợp đồng ODA, chỉ có thể làm thuê bên lề. Trong một "thế trận" như vậy, cả một khoản đầu tư khổng lồ được tung ra, nhưng không trở thành động lực vật chất, không trở thành cơ hội cho sự phát triển của các công ty, viện nghiên cứu của Việt Nam.

Bên cạnh đó, ngay cả ở nhiều quyết sách do Việt Nam hoàn toàn chủ động thực hiện, chất lượng cũng thấp. Cách đây chưa lâu, Đề án 112, cải cách hành chính theo hướng xây dựng "chính phủ điện tử" là một ví dụ.

Qua các siêu dự án trên cho thấy chất lượng nhiều quyết sách của Việt Nam còn thấp. Nguyên nhân của điều này là tính bất hợp lý trong cấu trúc của tiến trình hoạch định quyết sách.

- Trong các Bộ Trung ương cũng không có các cơ quan hoạch định quyết sách chuyên nghiệp, tập hợp những tài năng thực sự và được đãi ngộ xứng đáng. Các cán bộ ở các Bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc một lúc và không được đãi ngộ để thoát khỏi nỗi lo cơm áo. Họ gần như bỏ rơi quản lý chiến lược, sa vào quản lý các dự án cụ thể. Khi họ viết nghiên cứu chiến lược thì hầu như chỉ biết đến Bộ mình mà không thảo luận với chuyên gia ở các Bộ, Ngành liên quan, không tham khảo ý kiến các Viện nghiên cứu, các trường đại học.

Mặt khác, khi tư duy quyết sách, không thể không tham khảo ý kiến các Nhóm xã hội liên quan, đặc biệt là các Hội nghề nghiệp của xã hội dân sự. Nhưng ở nước ta, các Nhóm xã hội này đang gặp vấn đề. Hoặc là bị nước ngoài thao túng như Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô (VAMA), hoặc không được cấu trúc một cách hợp lý như Hiệp hội lương thực (VFA), hoặc còn chưa trưởng thành để có tiếng nói với chính sách như Hội Nông dân... Và hơn hết, các Hội này, chẳng hạn Hội nông dân và Hội lương thực, không có cơ chế nào để đối thoại với nhau mỗi khi xung đột lợi ích. Mạnh được, yếu thua. Ta sống, mày chết.

Bên cạnh đó, khi mỗi "chiến lược" được viết xong, không có bất kỳ một think tank(s) nào được đặt hàng thẩm định, phản biện. Đơn giản chỉ vì chúng ta không có một think tank nào để làm việc đó.

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định

1. Chính phủ cần xây dựng tầng lớp tư duy chiến lược chuyên nghiệp thông qua hình thức các think tank(s). Ở Trung Quốc, thời đại của những quân sư phe phẩy quạt mo như Gia Cát Lượng của Lưu Bị, đã qua từ lâu. Học tập mô hình ra quyết sách của các nước tiền tiến, Trung Quốc đã xây dựng khoảng hơn 700 think tanks, tức các cơ sở nghiên cứu chiến lược và chính sách, cả ở cấp chính phủ lẫn địa phương, nhà nước lẫn dân sự, và cả những cơ sở nửa nhà nước nửa dân sự

2. Việt Nam cần tái cấu trúc các Hiệp hội nghề nghiệp, theo 2 nguyên tắc "Dân chủ" và "Tất cả cùng thắng". Dân chủ để giải quyết mọi vấn đề thông qua đối thoại và tư duy chiến lược, để không ai bị loại bỏ tiếng nói vì bất cứ lý do gì. "Tất cả cùng thắng" để mọi thành phần dân tộc đều có cơ hội tìm kiếm miếng cơm manh áo trên quê hương mình, không phải theo nguyên tắc "ta sống, mày chết" của chủ nghĩa tư bản thời hoang dã. Một ví dụ. Việt Nam có hiệp hội các nhà sản xuất ô tô xe máy, nhưng lại không có Hiệp hội các nhà nhập khẩu ô tô xe máy. Hậu quả của thế trận này là, trong lĩnh vực ô tô, Việt Nam chỉ tồn tại một nhóm lợi ích duy nhất, do nước ngoài thao túng, có khả năng tác động tới bộ phận hoạch định chính sách của Nhà nước, làm cho chính sách thuế nhập khẩu ô tô bất hợp lý một cách dai dẳng, bóp chết mọi hi vọng nội địa hóa ngành công nghiệp này, dù các nhà nghiên cứu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lên tiếng từ hơn 10 năm nay

3. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần được loại bỏ cấu trúc tương tự như các cơ quan hành chính hiện nay, tái cấu trúc theo một "thế trận" mà các chức năng nghiên cứu và đào tạo có thể được vận hành thông suốt. Đẳng cấp của trường đại học được tính bằng đẳng cấp của người thầy đại học, và đẳng cấp của viện nghiên cứu được đo bằng đẳng cấp của nhà nghiên cứu mà nó có. Do đó, xây dựng đại học "đẳng cấp quốc tế" là xây dựng những người thầy đẳng cấp "quốc tế", thay đổi số phận của đại học Việt Nam là thay đổi số phận của người thầy đại học của Việt Nam, tái cấu trúc đại học là tái cấu trúc quá trình phát triển trí tuệ và các năng lực của người thầy. Đối với các viện nghiên cứu cũng vậy. Lấy "người thầy" và "nhà nghiên cứu" làm điểm xuất phát để hoạch định chiến lược, con đường phát triển nền đại học và khoa học Việt Nam

Lực lượng này cần trường thành vì đây là một trong những môi trường tạo tiền đề về tổ chức và tri thức để nuôi dưỡng và sinh thành những nhà tư duy chiến lược trong các lĩnh vực khác nhau, không chỉ cho hôm nay mà còn cho các thế hệ kế cận

Khi nào xây dựng lại và tái sắp xếp tất các các thành tố xã hội nêu trên, thì Việt Nam sẽ có điều kiện tương đối đầy đủ để xây dựng quyết sách theo quy trình dân chủ như thường thấy ở các quốc gia hạng nhất, quy trình "từ dưới lên", quy trình có khả năng kiến thiết những chính sách chất lượng cao.

Quy trình này sẽ làm cho quá trình hoạch định chính sách thực sự là một cuộc thử thách trí tuệ, khi mà mọi thành phần xã hội đều được tham gia tiếng nói hoàn toàn khác với sự dễ dàng ra một quyết sách theo lề thói quan liêu. Khi bắt đầu nghiên cứu chính sách, việc tham khảo tư vấn nước ngoài, cũng như việc tham vấn ý kiến của tất cả các Nhóm xã hội, là hết sức cần thiết, nhưng tuyệt đối không thể để rơi vào tình thế lệ thuộc

Việt Nam cần có một lực lượng hoạch định chính sách chuyên nghiệp, với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội khác nhau. Các nhóm lợi ích và các cơ quan tư vấn nước ngoài như World Bank, Ngân hàng ADB, JICA của Nhật... không được phép tư vấn trực tiếp cho các Bộ, các cơ quan ra quyết định, mà chỉ được phép làm việc với các Nhóm nghiên cứu chính sách chuyên trách của Chính phủ. Điều này sẽ giúp Việt Nam nắm bắt chính xác các vấn đề thực tiễn của đất nước theo quy trình "từ dưới lên", và tiếp cận một cách chủ động các kinh nghiệm quốc tế, song không để cho các nhóm tư vấn nước ngoài và các nhóm lợi ích thao túng chính sách.

Quá trình tranh luận và đối thoại, cùng tất cả các dạng thức của nó như "đề xuất" và "bác bỏ", "chứng minh" và "phản bác", "biện hộ" và "phê phán"... cần phải được tiến hành triệt để trước khi quyết sách được hoàn tất để trình Quốc hội. Chỉ có như thế, các chính sách lớn khi trình lên Quốc hội mới có thể đến trạng thái "chuẩn không cần chỉnh" ở khâu phân tích chiến lược. Và từ đây, niềm hi vọng thúc đẩy Việt Nam tiến hóa từ quốc gia hạng 4 lên những đẳng cấp cao hơn mới bắt đầu không còn là một ảo vọng

Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó. Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 5 và hạng 4. Nếu chỉ bằng lòng với việc "nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán" thì cũng không cần lắm đến tính dân chủ của tiến trình ra quyết định. Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết định tương ứng với nó. Dùng mô hình ra quyết định của nền kinh tế đẳng cấp hạng 4 thì không thể xây dựng được những chính sách có khả năng đi tới nền kinh tế hạng 1

Công việc "sắp xếp lại giang sơn" này, nếu không phải là những nhà lãnh đạo đang đứng ở những "đỉnh cao chỉ huy" (hay là "những cao điểm chiến lược") của đất nước, với đầy đủ quyền lực trong tay, thì không ai làm được

Nguyễn Lương Hải Khôi

LOBBY.VN
07-14-2010, 05:16 PM
Phố Wall lung lạc Quốc hội Mỹ như thế nào ?

- Giới vận động hành lang là phần không thể thiếu trong nền chính trị Mỹ. Những gì họ đã làm trong thời gian gần đây liên quan đến dự luật cải tổ hành chính càng cho thấy quyền lực trong bóng tối của họ.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/432359.jpg
Chuyên gia vận động hành lang Tony Podesta tự tin về tương lai

Trong hai tuần qua, khi các thành viên Thượng viện và Hạ viện Mỹ tranh cãi nảy lửa về những khác biệt trong hai phiên bản của dự luật cải tổ tài chính, Phố Wall cũng mở chiến dịch vận động dữ dội nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại có thể phải gánh chịu khi dự luật được thông qua. Theo ước tính sơ bộ, Phố Wall đã chi 1,4 triệu USD mỗi ngày để thuê tổng cộng 2.063 chuyên gia vận động hành lang với mục tiêu duy nhất: làm suy yếu dự luật cải tổ tài chính.

Nghề “trao thông tin”

Các nhà vận động hành lang khẳng định vai trò của họ không phải là gây sức ép hay ảnh hưởng, mà đơn thuần chỉ là “trao thông tin” cho các nghị sĩ quốc hội. “Các nghị sĩ quốc hội muốn hiểu rõ những gì họ đang làm. Họ thường xuyên viết luật nhưng không nghĩ đến việc luật đó sẽ được áp dụng như thế nào trong các trường hợp khác nhau - một nhà vận động giải thích - Khi hiểu rõ hậu quả của những gì họ định làm thì họ sẽ ra những quyết định đúng đắn hơn”.

Lợi khoe, hại che

Trong tòa nhà Quốc hội Mỹ tại đồi Capitol, hằng ngày các chuyên gia vận động hành lang - những người đàn ông bảnh bao trong các bộ vest đắt tiền - thường xuyên lượn ra lượn vào. Họ không ngại tiết lộ nhiệm vụ của mình là “tóm lấy một cố vấn cấp cao của phe Cộng hòa, nhồi vào đầu ông ta ý tưởng về việc viết lại luật Volcker”

Luật Volcker, lấy tên của cựu chủ tịch Cục Dự trữ liên bang (FED) Paul Volcker, cấm các ngân hàng đổ tiền vốn vào các giao dịch tài chính mạo hiểm như địa ốc hay chứng khoán cá nhân. Đó là điều khoản mà nhiều chuyên gia tài chính tin rằng sẽ giúp ngăn chặn khủng hoảng tài chính lặp lại

Giới vận động hành lang đã không thể xóa nó khỏi dự luật cải tổ tài chính của ông Obama, nhưng đã tìm cách cắt xén bớt nó bằng cách rót vào tai các nghị sĩ những gợi ý như hãy cho phép các ngân hàng, quỹ đầu tư dành một vài phần trăm vốn vào các khoản đầu tư mạo hiểm, hoặc hoãn thi hành luật Volcker, hoặc miễn áp dụng đối với các ngân hàng lớn.

Các nhà vận động hành lang cũng hoạt động dữ dội để tiêu diệt hoặc làm suy yếu điều khoản cấm các ngân hàng tham gia thị trường chứng khoán phái sinh, thị trường trị giá 615.000 tỉ USD. Vũ khí của họ chính là những nghiên cứu, khảo sát cực kỳ chi tiết về những bất lợi của các điều khoản hạn chế Phố Wall, trong khi lờ tịt đi những lợi ích thiết thực mà các điều khoản này có thể đem lại

Và khi hai viện hoàn tất thương lượng, luật Volcker đã yếu đi rõ rệt. Các ngân hàng vẫn có quyền sở hữu cổ phiếu tư nhân và cổ phiếu quỹ đầu tư nếu không vượt quá 3% vốn ngân hàng. Đồng thời, phiên bản cuối của dự luật cải tổ tài chính vẫn cho phép các ngân hàng lớn giao dịch một số sản phẩm của thị trường chứng khoán phái sinh. Các chuyên gia tài chính ước tính trong tổng số 615.000 tỉ USD của thị trường này, gần 500.000 tỉ USD sẽ không bị đụng đến

Cũng nhờ những nỗ lực vận động hành lang quyết liệt, hai ngân hàng Fannie Mae và Freddie Mac cùng với ngành sản xuất ôtô Mỹ và các hãng đo định mức tín nhiệm trở thành những kẻ thắng trong phiên bản cuối cùng của dự luật cải tổ tài chính, như đánh giá của nhiều chuyên gia tài chính. Dù nhận của chính phủ 125 tỉ USD nhưng Fannie và Freddie đều hoàn toàn miễn nhiễm với các điều khoản kiểm soát giới ngân hàng

Nghề có giá

Ông Tony Podesta, một trong những nhà vận động hành lang nổi tiếng ở Washington, kiêu hãnh khẳng định dù Tổng thống Obama liên tục chỉ trích sự ảnh hưởng của giới vận động hành lang, thì nhu cầu dành cho họ vẫn liên tục gia tăng

“Điều mỉa mai là cứ mỗi lần tổng thống nói rằng các chuyên gia vận động hành lang chúng tôi có đủ mọi quyền lực và ảnh hưởng thì những người chưa thuê được một nhà vận động nào lại phát cuồng lên đi tìm cho bằng được một người - ông Podesta hể hả - Tổng thống nói quá khả năng của chúng tôi, nhờ đó giúp tăng nhu cầu dịch vụ cho chúng tôi”

Bằng chứng là theo Trung tâm Chính trị phản ứng (CRP) ở Washington, vận động hành lang có lẽ là ngành công nghiệp ăn nên làm ra nhất. Tại thủ đô nước Mỹ có tổng cộng 1.900 hãng vận động hành lang, chiêu mộ một đạo quân hơn 11.000 “tay súng”

Trong thời gian qua, đối tượng khách hàng lớn nhất của họ là các ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà môi giới cổ phiếu, quỹ đầu tư, chuyên gia giao dịch chứng khoán... Nhiều tập đoàn chi hàng triệu USD mỗi năm cho dịch vụ vận động hành lang. Chỉ trong năm 2009, doanh thu của các công ty vận động hành lang đạt tới 3,49 tỉ USD

Trong bốn năm qua, Hãng Podesta Group của ông Podesta đã tăng gấp ba lần nhân lực. Trong dự luật cải tổ tài chính, ông Podesta vận động ở 25 điểm khác nhau cho những tập đoàn lớn như Bank of America, và các công ty khác nhỏ hơn

Ngay sau khi Quốc hội Mỹ kết thúc thảo luận vụ này, ông Podesta lập tức chuyển sang làm “trung gian” giữa Hãng dầu khí BP với các nhà điều tra của Quốc hội về vụ tràn dầu trên vịnh Mexico. Ông Podesta cũng thu hút vô số khách hàng từ ngành bảo hiểm y tế sau khi Tổng thống Obama đưa ra luật cải tổ bảo hiểm y tế

Washington đang tìm cách đưa ra các biện pháp hạn chế giới vận động hành lang. Nhưng những nhà vận động như ông Podesta tỏ ra rất tự tin. “Họ (chính quyền) sẽ làm bất cứ điều gì có thể - ông Podesta tuyên bố - Nhưng dù họ có cấm các nhà vận động hành lang lấy bằng lái xe đi chăng nữa, chúng tôi vẫn sẽ mua xe hơi và thuê tài xế”

LOBBY.VN
07-14-2010, 05:21 PM
3,3 tỷ USD cho các hoạt động vận động hành lang

- Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Các vấn đề chính trị Mỹ cho biết, năm 2009, nước này phải chi tới 3,3 tỷ USD cho các hoạt động vận động hành lang

Trong đó, chi cho vận động hành lang đối với các nghị sỹ Quốc hội và cơ quan hành chính liên bang lên tới 2,5 tỷ USD. Tuy nhiên, số nhà vận động hành lang tham gia thị trường năm 2009 ít hơn năm 2008 (13.426 so với 14.808 người)

Thanh tra PCTN (http://chongthamnhung.thanhtra.com.vn/UserPages/N ews/detail/tabid/73/newsid/729/seo/3-3-ty-USD-cho-cac-hoat-dong-van-dong-hanh-lang/Default.aspx)

LOBBY.VN
07-17-2010, 04:31 PM
FIFA cấm vận động hành lang khi xin đăng cai World Cup

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/172514214.jpg
Chủ tịch của FIFA, ông Sepp Blatter

Tổ chức hành chính bóng đá lớn nhất thế giới - FIFA vừa ban hành một số điều luật mới cấm các nước xin đăng cai các VCK World Cup 2018 và 2022 tiến hành vận động hành lang với các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA (gồm 24 người)

Trước đây, đại diện của các nước xin đăng cai World Cup được tự do gặp gỡ các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA mà không cần phải báo cáo. Nhưng theo luật mới này, mọi sự liên hệ (dù trực tiếp hay gián tiếp) của đại diện các nước xin đăng cai với 24 thành viên trong Ủy ban điều hành của FIFA (kể cả đại diện của những người này) đều phải được báo cáo trước với FIFA bằng văn bản. Ngoài ra, trong báo cáo còn phải nói rõ nguyên nhân của việc liên hệ và cả những thông tin khác nếu cần

Việc FIFA ra luật mới này được xem là một biện pháp ngăn chặn những hành vi tiêu cực trong việc vận động hành lang của các nước xin đăng cai World Cup. Điển hình là vụ bê bối gần đây do báo chí Úc khui ra liên quan đến việc chính Ủy ban vận động đăng cai World Cup 2022 của nước này đã hối lộ các thành viên trong Ủy ban điều hành FIFA dưới những hình thức khôn khéo như tặng quà cáp đắt tiền, các chuyến du lịch sang trọng…

Vào ngày 11.12 tới đây, Ủy ban điều hành FIFA sẽ họp tại Zurich (Thụy Sỹ) để bỏ phiếu chọn quốc gia đăng cai World Cup 2018

LOBBY.VN
08-07-2010, 04:05 PM
Hội Nhà văn giải thích sự cố 'vận động hành lang'

Ngay trước giờ bầu BCH hôm 5/8, nhiều đại biểu Hội nhà văn nhận được một mẩu giấy, ghi tên khoảng 20 người với lời khuyên nên bầu cho họ. Sự việc gây khó chịu cho một số nhà văn, nhưng các thành viên Ban chấp hành giải thích, đó là việc làm hợp pháp.

Động thái "vận động hành lang" diễn ra vào ngày làm việc căng thẳng và có nhiều tranh cãi nhất về các vấn đề nhân sự của Đại hội Hội nhà văn khóa VIII, tổ chức tại Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trong khi gần 900 đại biểu đang chăm chú theo dõi thảo luận về quy chế và phương thức bầu cử thì một nhà thơ trẻ nổi tiếng, đi lại trong hội trường, tặng báo cho các đồng nghiệp. Trong tờ báo kẹp mẩu giấy ghi tên một số thành viên "cần chú ý để bầu vào BCH khóa VIII", như một hình thức vận động. Một số hội viên bất ngờ và bức xúc khi biết chuyện này, trong khi nhiều người cho biết, họ đã quá quen với các hình thức lobby trước những hoạt động bầu cử nhân sự Hội Nhà văn.

Trao đổi với VnExpress.net về vấn đề này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - tân Phó chủ tịch Hội - thẳng thắn: "Tôi có biết tin này. Tôi có nhìn thấy tờ giấy đó dù tôi không được phát. Và tôi biết, trong danh sách đó có tên tôi và các nhà văn như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân và những người khác. Hình như khá đông những người có tên trong đó đã vào BCH. Trước hết, tôi nghĩ, họ là những người xứng đáng. Hơn nữa, chỉ một tờ giấy đó không thể lung lạc được các nhà văn. Họ đều là những người có chính kiến".

Ông Thiều bày tỏ thêm, thái độ bức xúc của các nhà văn với hành động này cho thấy, họ còn chưa quen với các hình thức vận động hậu trường. Theo ông, đó là "chuyện rất bình thường, biểu thị sự dân chủ và là việc làm hợp pháp".

Chia sẻ với quan điểm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà văn Khuất Quang Thụy - thành viên BCH - cũng cho rằng, đó là hoạt động vận động bầu cử cho nhóm một cách hợp lệ. Hơn nữa, đoàn chủ tịch Đại hội cũng đã thông báo, mẩu giấy này không phải là tài liệu chính thức của đại hội mà chỉ là ý kiến của cá nhân.

Ngoài câu chuyện vận động hành lang, bên lề đại hội Hội Nhà văn còn xảy ra những sự cố khiến nhiều người băn khoăn, phải chăng đời sống văn học Việt Nam còn thiếu những cuộc đối thoại cởi mở giữa nhà văn với nhà văn; giữa nhà văn với lãnh đạo Hội.

Cũng trong sáng 5/8, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo, sau nhiều lần xung phong nhưng không được mời phát biểu, đã phải tự đi tìm micro để bày tỏ ý kiến của mình. Tuy nhiên, khi ông chỉ vừa mới nói vài ba câu thì micro đột ngột tắt. Nhà văn Hồ Anh Thái - thành viên BCH khóa VII - được một đại biểu yêu cầu giải trình về thái độ thiếu hợp tác với Hội trong nhiệm kỳ của mình. Anh giãi bày: "Tôi muốn công khai quan điểm về cách điều hành Hội. Nhưng đại hội không có diễn đàn để hội viên chất vấn và tôi giải trình".

Còn gần trưa ngày 6/8, khi được mời lên tham luận về nội dung điều lệ Hội, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã chia sẻ cảm xúc của ông về những nhà văn đã mất và trình bày bài phát biểu của mình. Trong khi phát biểu, ông nhiều lần bị chủ tịch đoàn cắt ngang và mời xuống. Cuối cùng, nhà thơ phải bỏ dở tham luận.

Những chuyện gây ồn ào đại hội này đã lần lượt được các thành viên Ban chấp hành đưa ra lời giải thích. Theo Chủ tịch Hữu Thỉnh, sự việc xảy ra với nhà phê bình Trần Mạnh Hảo là do sự cố kỹ thuật. Ông khẳng định sẽ nghiêm khắc kiểm điểm bộ phận âm thanh.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, "ở một góc độ nào đó", ông "có thể đồng ý với quan điểm của nhà văn Hồ Anh Thái". Theo ông, đại hội "có quá ít khe hở cho việc trao đổi bàn luận", bởi "số ngày làm việc ít quá nhưng lại nhiều tham luận quá, nhiều công việc khác quá"

Nguyễn Quang Thiều cũng ít nhiều chia sẻ với tâm trạng của hai đồng nghiệp Trần Mạnh Hảo và Bùi Minh Quốc. Ông thừa nhận, Ban tổ chức có phần còn hơi lúng túng khi xử lý vấn đề.

"Có những lúc chúng ta nên lắng nghe, dù người nào đó có nói nặng nề, dù cho người đó mang đầy bức xúc. Hãy lắng nghe họ như lắng nghe một nhân vật của chúng ta, lắng nghe một số phận. Chúng ta có khả năng để đối thoại với họ, anh Bùi Minh Quốc hay Trần Mạnh Hảo và những người khác nữa. Ở đây, có những xử lý của Ban tổ chức còn hơi lúng túng, gây nên sự hiểu nhầm, ví như micro đột nhiên vụt tắt. Mỗi nhà văn từ người trẻ nhất đến người lớn tuổi nhất đều có bản lĩnh, ý chí, trí tuệ, để lắng nghe và phân biệt điều đó ra sao. Chúng ta không nên sợ hãi điều đó. Tôi nghĩ điều này cần cải tiến. Còn không gian trao đổi của nhà văn thì không chỉ diễn ra ở đại hội, mà nên xây dựng nhiều sự kiện văn hóa, sinh hoạt thường xuyên hơn trong đời sống cộng đồng", ông Thiều nói

Còn nhà văn Khuất Quang Thụy - người điều hành phiên họp sáng 6/8 - cho biết, nhà thơ Bùi Minh Quốc bị Ban tổ chức ngắt lời vì ông phát biểu lạc đề và quá giờ. "Nội dung thảo luận hôm đó là điều lệ hội nên những điều anh Quốc nói hơi lạc đề. Hơn nữa, anh phát biểu quá giờ và thời gian làm việc buổi sáng đã hết, nên Đoàn chủ tịch quyết định dừng lại"

Đại hội Hội Nhà văn khóa VIII diễn ra trong 3 ngày, từ 4 đến 6/8. Đại hội đã bầu ra BCH mới gồm 15 thành viên. Nhà thơ Hữu Thỉnh tái đắc cử chức Chủ tịch Hội

LOBBY.VN
08-07-2010, 04:16 PM
Nghề vận động hành lang cho nước ngoài tại Hoa Kỳ

Vận động hành lang (tiếng Anh là lobby) cho nước ngoài đã trở thành một dịch vụ kinh doanh lớn đối với đa số công ty uy tín ở Washington D.C. Theo dữ liệu từ Bộ Tư pháp, danh sách những người đăng ký đại diện cho nước ngoài khoảng 1.800 trong nửa đầu năm 2005 đã lên 1.900 trong nửa đầu năm 2009. Các nhà hoạt động nhân quyền nói rằng có một bước gia tăng nhảy vọt về vận động hành lang, đặc biệt trong những khu vực sử dụng đồng USD, và với một số nước đang chịu sự trừng phạt của Mỹ

Chỉ riêng nửa đầu năm 2009, Cộng hòa Congo đã chi 1,5 triệu USD cho các công ty PR (giao tế) và lobby cũng như các đại diện khác, theo nguồn tin từ Bộ Tư pháp Mỹ. Angola, một trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới, đã chi hơn 3 triệu USD trong cùng kỳ. Các đại diện lobby của Đức quốc xã tại Washington trước Thế chiến II đã làm bại hoại cả các công ty, tạo một vết nhơ phải mất nhiều thập niên để tẩy xóa. Sau khi nắm quyền lực trong một cuộc đảo chính hồi mùa hè qua, và đang phải đối diện với những chỉ trích trực tiếp từ chính quyền Obama, các nhà cầm quyền quân sự mới của Honduras đã nhanh chóng chi phí ít nhất 400.000USD thuê các công ty quyền lực Mỹ để vận động hành lang cho họ

Vận động hành lang đã trở thành những hoạt động khá mập mờ. Luật pháp Mỹ yêu cầu các nhà lobby phải công khai tất cả các hợp đồng với những thân chủ nước ngoài, nhưng sự thực là hồ sơ về các thân chủ nước ngoài cung cấp vốn không có nhiều thông tin. Một số nhà lobby còn không có cả hồ sơ. Sự gia tăng vận động hành lang cho người nước ngoài cũng có thể đem lại thỏa hiệp đối với chính sách gần đây và trong tương lai của các quan chức Mỹ. Trong vai trò giám sát, các lobby có thể đại diện và là cầu nối cho đa số các chế độ tai tiếng nhất trên thế giới với chính phủ Mỹ

Vận động hành lang có thể làm giảm áp lực đối với những chế độ độc tài. Sau những năm vận động hành lang căng thẳng, Tổng thống Teodoro Obiang của Equatorial Guinea đã làm chuyển đổi hình ảnh của ông đối với Washington, từ một nhà cầm quyền “tai tiếng” trở thành đồng minh của Mỹ và là bạn thân thiện của giới doanh nghiệp Mỹ. Năm 2006, trong cuộc họp với ông Obiang ở Foggy Bottom, Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã tuyên bố ông là một “người bạn tốt”. Năm ngoái, ông Obiang đã có dịp hội kiến với Tổng thống Obama. Có nhiều quốc gia vẫn thuê các nhà lobby ở Washington để xử lý vấn đề như các cuộc tranh cãi về thương mại, hoặc những kiện tụng về quyền sở hữu trí tuệ, kể cả quá trình tranh thủ những hậu thuẫn chính trị. Được biết số tiền hàng năm ông Obiang đã chi cho các nhà vận động hành lang ở Mỹ lên đến một triệu USD

P/S: Cả thế giới đều muốn chơi với Mỹ, muốn chơi với Mỹ hiệu quả thì cần phải thông qua giới Lobbyist tại Washington

LOBBY.VN
08-08-2010, 05:58 PM
Môi giới vốn: Nghề mới !

Khi tín dụng NH gặp khó, hướng đi của các DN là phát hành trái phiếu DN. Nhưng cung - cầu không dễ gặp nhau nên nghề môi giới vốn bắt đầu xuất hiện và trở nên có giá

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2010 khoảng 10,52%, trong đó tín dụng bằng VND chỉ tăng 4,6%, còn tín dụng ngoại tệ tăng tới 27%

Có 2 nguyên nhân được coi là ảnh hưởng chính đến mức tăng trưởng tín dụng thấp, đó là nguồn vốn huy động trong dân cư chưa đủ lớn và DN không dễ chấp nhận mức lãi suất vay vốn ngân hàng thực tế lên đến 17 - 18%.

Chính vì vậy, thay vì thông qua các tổ chức tín dụng như công ty tài chính, ngân hàng thương mại…, thì một bộ phận cá nhân, dựa vào quan hệ và thông tin đã thực hiện hoạt động kết nối nhu cầu tín dụng trực tiếp giữa DN cần vốn và những người có vốn.

Thống kê sơ bộ cho thấy, trong thời gian vừa qua, không ít DN đã phát hành thành công trái phiếu DN với tổng giá trị huy động lớn, lãi suất huy động hợp lý hơn so với lãi suất vay vốn ngân hàng như: Tập đoàn Sông Đà phát hành 1.500 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất năm đầu là 15%/năm, các năm sau là lãi suất trung bình của 4 ngân hàng cộng 4%; Tổng công ty Vinaconex phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 2 năm, lãi suất năm đầu 14%/năm, năm thứ hai là lãi suất bình quân 4 ngân hàng cộng 3,4%;

Tổng CTCP Đầu tư và Xây dựng Bình Chánh phát hành 300 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất năm đầu 12,5%/năm, các năm tiếp theo bằng lãi suất bình quân 4 ngân hàng cộng 4%...

Tuy nhiên, để có được những đợt phát hành thành công như trên, không phải DN nào cũng có cơ may trực tiếp tìm được người sẵn sàng cung ứng vốn hoặc gặp thuận lợi trong quá trình làm việc với các tổ chức trung gian thu xếp vốn.

Lãnh đạo một DN ngành vận tải đường biển cho biết, DN muốn vay vốn ngân hàng bằng USD để đầu tư thêm một tàu biển theo kế hoạch mà ĐHCĐ đã đề ra từ đầu năm. Nhưng khi trao đổi với ngân hàng đối tác thì được trả lời, với mức lãi suất vay USD chấp nhận khoảng 6%/năm, DN khó lòng huy động được toàn bộ số vốn như nhu cầu.

Tại một DN ngành thủy sản đang niêm yết trên Sở GDCK TP. HCM, lãnh đạo DN đang tích cực triển khai các bước để có thể sớm hoàn thành việc phát hành trái phiếu, nhưng người môi giới không phải là tổ chức tín dụng, mà là cá nhân.

Anh Đ., một môi giới chứng khoán tự do, sau một thời gian phụ trách phòng VIP của 3 CTCK tại Hà Nội đã thiết lập được mạng lưới khách hàng lớn, trong đó bao gồm cả một số quỹ đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy, thay vì chỉ thực hiện môi giới đầu tư cổ phiếu, anh Đ. còn kiêm luôn cả nghề môi giới vốn.

Bằng việc hợp tác với hai ngân hàng quen, thêm một CTCK đứng ra làm đơn vị tư vấn để hợp thức hóa thủ tục, hiện tại, anh Đ. đang làm môi giới để phát hành trái phiếu cho 3 DN (trong đó có 1 DN niêm yết).

Không chỉ có anh Đ., việc tận dụng mối quan hệ để kết nối nhu cầu vốn của các cá nhân (đôi khi chỉ là cho một thương vụ cụ thể) thời gian gần đây đã trở thành trào lưu.

Với việc xuất hiện ngày càng nhiều các "đại gia" trên TTCK, thì khi thị trường trầm lắng, nhu cầu phân tán một phần rủi ro bằng việc đầu tư vào trái phiếu DN tăng lên, khiến các môi giới cá nhân vì thế cũng tăng cường hoạt động.

Điều này không chỉ giúp DN huy động được vốn rẻ hơn, mà còn giúp những đơn vị, cá nhân tận dụng tốt hơn nguồn vốn nhàn rỗi so với gửi tiết kiệm tại ngân hàng.

Theo anh Đ., có nhiều thương vụ thu xếp vốn mang danh nghĩa CTCK tư vấn, nhưng thực tế là do các môi giới cá nhân đứng ra làm trung gian.

Xu hướng sử dụng môi giới cá nhân không chỉ xuất phát từ sự chủ động tìm hiểu và kết nối nhu cầu của chính môi giới, mà đôi khi các tổ chức tín dụng cũng muốn phát huy kênh tín dụng này để bán trái phiếu.

Giai đoạn cuối năm 2009, đầu năm 2010, giám đốc tín dụng một công ty tài chính đã liên tục tuyển dụng "chân rết" ngoài thị trường, chỉ nhằm mục đích là tìm DN hoặc cá nhân có năng lực tài chính để bán trái phiếu DN.

Theo vị này, việc tìm "chân rết" không chỉ giúp công ty tiết kiệm chi phí tiền lương, mà quan trọng là hiệu quả hoạt động cao, do tận dụng được mối quan hệ thân thiết của từng "chân rết" với lãnh đạo DN.

"Không ai có thể đảm bảo mình biết rõ DN nào thừa vốn, vì vậy, tận dụng thế mạnh của mỗi cá nhân trong từng thương vụ sẽ giúp chúng tôi bán trái phiếu dễ dàng hơn nhiều so với việc chào bán công khai", vị này nói.

Dù vậy, khó khăn nhất trong các thương vụ là thiếu cơ chế trả phí cho môi giới. Theo đó, để hợp thức hóa, công ty tài chính nêu trên đã ký kết một hợp đồng trung gian với một DN thân quen khác, sau đó DN thân quen này ký hợp đồng với cá nhân môi giới và DN mua trái phiếu. Vậy là, phải qua 2 cầu, đồng vốn mới đến được đích của nó.

Rõ ràng, môi giới vốn của các cá nhân đang phát triển và chứng minh được hiệu quả. Để phát huy tiềm năng của khối này và thuận tiện cho việc giám sát, nên chăng cơ quan quản lý sớm có hành lang pháp lý để môi giới vốn thực sự trở thành nghề minh bạch trên thị trường vốn

Bùi Sưởng - ĐTCK (http://cafef.vn/2010080710241391CA31/moi-gioi-von-nghe-moi.chn)

LOBBY.VN
08-09-2010, 10:11 PM
Quan chức không môi giới dự án FDI

- “Trao đổi với lãnh đạo nhiều địa phương, họ thừa nhận có sự thiếu thận trọng cần thiết khi thẩm định dự án, vì có nhiều dự án lớn do T.Ư giới thiệu về. Vì vậy, khi dự án đổ bể thì không truy trách nhiệm cho ai được”

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ với Tiền Phong, quanh chuyện thu hút FDI tại Việt Nam

Không làm được thì mời ra

Báo Tiền Phong vừa đăng loạt bài về Những đại dự án FDI vốn ảo. Câu chuyện này cho thấy những bất ổn nào trong thu hút FDI tại Việt Nam, thưa bà?

Formosa không phải là đơn vị mạnh về ngành thép ở Đài Loan. Tuy nhiên, chúng ta lại chào đón họ vào với số vốn đăng ký lên tới 16 tỷ USD, thực sự tôi cũng thấy ngạc nhiên. Nếu thẩm tra lại, hỏi các cơ quan Đài Loan là biết ngay năng lực của họ

Rất nhiều trường hợp doanh nghiệp hiện nay trước khi đặt bút ký hợp đồng với đối tác nào đó thì họ thuê tư vấn, ngân hàng thẩm tra lại đối tác. Các cơ quan đầu mối của ta ở bên ngoài như Thương vụ cũng có thể hỗ trợ việc thẩm tra này. Chi vài trăm USD sẽ biết được năng lực thực sự của doanh nghiệp trước khi ký những hợp đồng triệu USD, làm như thế chắc chắn sẽ bớt rủi ro. Với những dự án lớn như vậy, thiếu việc thẩm tra là đáng tiếc

Các cơ quan nhà nước ở cấp T.Ư khi phân cấp cho địa phương cũng nên quan tâm hỗ trợ, nhất là những địa phương gặp khó khăn, thiếu điều kiện, năng lực thẩm định. Nên giúp địa phương thẩm tra lại chứ không nên hùa theo ngay. Bởi khi dự án đổ bể hậu quả rất lớn

Đối với các dự án ảo, chính quyền đã lỡ cấp phép thì các bộ ngành cần tích cực cùng với địa phương rà soát lại, chứ không nên để các địa phương tự làm. Với những dự án nhà đầu tư làm chậm trễ nhưng họ vẫn muốn làm tiếp thì phải kiên quyết buộc họ đảm bảo đúng tiến độ

Số tiền đặt cọc cũng phải đảm bảo theo quy định, không thực hiện được thì mời họ ra. Quá trình họ mang vốn đầu tư vào phải giám sát chặt. Các con số do Bộ KH&ĐT đưa ra cho thấy các nhà đầu tư chỉ có 28% vốn khi cam kết thực hiện dự án. Đây là tỷ lệ quá nhỏ, không đảm bảo để thực hiện dự án. Phải có đòi hỏi nghiêm ngặt về việc này

Quan chức không làm môi giới

Thực tế cho thấy có một số quan chức Việt Nam là những người đóng góp tích cực trong việc đưa các dự án lớn vào, trong đó có cả những dự án rởm như dự án thép 30 tỷ USD của tập đoàn Eminence đầu tư vào Thanh Hóa năm 2007?

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Khi thực hiện phân cấp mạnh như hiện nay, chúng ta đã làm loãng, thậm chí nhòa đi trách nhiệm của cơ quan cấp phép. Việc chọn nhầm các dự án rởm và bị đổ bể thường được đổ do phân cấp, do địa phương không có đủ năng lực thẩm định. Nhưng về các địa phương thấy hầu hết lãnh đạo các tỉnh đều nói rất nhiều trường hợp dự án FDI lớn là do T.Ư giới thiệu

Có những dự án được cho là triển khai do sức ép từ ông này, ông nọ. Đến khi địa phương hỏi ý kiến thì bộ này, bộ kia không trả lời, hoặc trả lời theo kiểu cứ làm đi. Chính vì vậy khi dự án có vấn đề, sẽ rất khó biết trách nhiệm thuộc về ai

Cách phân cấp hiện nay không ổn, không làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan. Cùng với đó là thiếu hệ thống giám sát xem những người đưa ra quyết định đã làm đầy đủ quy trình theo quy định của pháp luật chưa

Giờ có nhiều trường hợp, như việc cho thuê đất rừng chẳng hạn, chính Phó Thủ tướng giải thích là địa phương làm đúng quy trình. Nếu như vậy quy trình của chúng ta sai, có vấn đề. Nếu quy trình có vấn đề thì lỗi thuộc về những người đặt ra quy trình đó. Không thể đơn giản vì làm đúng quy trình nên khi có vấn đề xảy ra thì ai cũng đổ tại quy trình và không ai chịu trách nhiệm. Nếu được thẩm định độc lập, có sự giám sát của dân có lẽ đỡ hơn

Bà nhìn nhận thế nào việc quan chức dẫn mối dự án và có cảnh báo gì về việc này?

Theo tôi, cá nhân quan chức đi giới thiệu dự án đầu tư ở các địa phương là việc không hay, không nên làm. Chúng ta có sự lẫn lộn trong vai trò của các cơ quan trong việc đi xúc tiến, thúc đẩy quan hệ với việc tham gia các dự án cụ thể

Với những dự án nhà đầu tư làm không đúng nhưng quan chức vẫn cố ép địa phương thực hiện thì rất cần phải xem xét lại. Xem đằng sau sự nhiệt tình đó là cái gì. Chuyện quan chức đi làm xúc tiến đầu tư như vậy cần chấm dứt. Các quan chức có cương vị cao thì càng không nên làm việc này. Chỉ nên cam kết nếu nhà đầu tư làm nghiêm túc thì sẽ nhận được sự ủng hộ tối đa của Nhà nước, còn việc giải quyết cụ thể thì để các cơ quan địa phương làm việc theo chức trách. Phải rạch ròi quan chức không nên là nhà môi giới

Phải có định hướng

Các chuyên gia cho rằng thu hút FDI của Việt Nam còn nhiều bất ổn, các địa phương mới chú ý đến số vốn đăng ký chứ không có sự chọn lọc dự án theo hướng đặt nặng việc chuyển giao công nghệ, tạo việc làm?
Ở những nước có trình độ phát triển cao như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu hay ở Nhật Bản thì họ vẫn thu hút đầu tư nước ngoài. Cách thu hút của họ hoàn toàn khác với ta. Không phải Chính phủ đứng ra thu hút đầu tư mà Chính phủ chỉ tạo môi trường phát triển và hoan nghênh các doanh nghiệp vào làm theo đúng luật pháp. Các dự án vào nước họ đều được thẩm định rất kỹ lưỡng

Thay đổi cần thiết trong thu hút FDI ở Việt Nam trong thời gian tới, theo tôi cái mình cần là công nghệ, năng lực quản lý, kết nối thị trường để Việt Nam tham gia chuỗi thị trường toàn cầu chứ không phải như cách làm lâu nay. Công nghệ đưa vào ở mức rất thấp, không đáng kể. Ngay cả ở những lĩnh vực được coi là chất lượng cao thì hàm lượng công nghệ cũng vẫn thấp. Nhà đầu tư chỉ đưa vào những khâu sản xuất với công nghệ thấp nhất. Như dự án của Canon tại Việt Nam chủ yếu là lắp ráp

Lobby & FDI (http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/509181/Quan-chuc-khong-moi-gioi-du-an-FDI.html)

LOBBY.VN
08-18-2010, 09:39 AM
Sứ giả của Việt Minh trong những ngày Hà Nội khởi nghĩa


Do nắm được một số nhân sĩ trí thức cao cấp (qua cơ sở của Đảng dân chủ) mà tôi được biết ông Phan Kế Toại-Khâm sai Bắc Bộ, muốn tiếp xúc với Việt Minh. Biết ông là người có lòng yêu nước và dân tộc...

Ngày 15/8/1945, Uỷ ban quân sự cách mạng (tức UBKN) được thành lập và ông Lê Trọng Nghĩa là một trong năm người trong UBQSCM: Nguyễn Khang, uỷ viên thường vụ Xứ uỷ; Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy), cán bộ Xứ uỷ, Lê Trọng Nghĩa, cán bộ Xứ uỷ, Nguyễn Quyết , Bí thư Thành uỷ , Nguyễn Duy Thân, Thành uỷ. Trong căn phòng nhỏ ở 89 Lê Hồng Phong, nhìn mái tóc ông bạc trắng như cước, lòng tôi chợt se se nỗi niềm thương ông lận đận.

Nhưng khi kể cho tôi nghe những ngày được bay trong ánh sáng cách mạng, ông như quên hết mọi ưu phiền.Và cho đến hôm nay, tôi mới được ông cho biết, đêm 19/8, ông chọn tên mới - Lê Trọng Nghĩa là có ý nghĩa chung và riêng: Lê Trọng là tỏ lòng nhớ ơn người thầy đã giáo dưỡng tâm hồn ông thuở ấu thơ; nghĩa là kỷ niệm cuộc khởi nghĩa vĩ đại của dân tộc. Và tôi như thấy những hồi ức lấp lánh ánh sáng Tháng Tám cờ bay.

"Tôi sinh năm 1921 trong một gia đình công giáo toàn tòng ở Yên Hưng (Quảng Ninh), nhưng từ bé, tôi được cha mẹ cho lên Hà Nội học ở trường Gia Long. Trong làn sóng đấu tranh sôi nổi của phong trào đòi dân chủ , hoà bình, tôi tham gia Đoàn thanh niên dân chủ, tuyên truyền sách báo công khai của Mặt trận dân chủ Đông Dương.

Năm 1939, thực dân Pháp tăng cường khung bố nên tôi phải về Hải Phòng học trường Bô-an ở đây, tôi cùng anh Nguyễn Đình Thi xây dựng tổ Việt Minh và hoạt động bí mật. Sau khi đỗ đíp - lôm, chúng tôi lên Hà Nội, tôi vào trường Thăng Long, Nguyễn Đình Thi vào trường Bưởi và chúng tôi vẫn tiếp tục hoạt động.

Đầu năm 1942, tôi bị bắt, rồi bị Pháp tống vào Hoả Lò. Tháng 3/1945, tôi cùng với các anh Trần Đăng Ninh, Trần Tử Bình, Lê Tất Đắc vượt ngục Hoả Lò và lao ngay vào việc chuẩn bị khởi nghĩa.

Tôi được công nhận là Đảng viên chính thức của Đảng cộng sản, sau đó anh Lê Đức Thọ giao nhiệm vụ phụ trách Đảng đoàn khối Dân chủ đảng của Bắc kỳ và Hà Nội. Lúc đó, đảng Dân chủ đang sôi nổi vận động nhân sĩ, trí thức tham gia mặt trận Việt Minh.

Do nắm được một số nhân sĩ trí thức cao cấp (qua cơ sở của Đảng dân chủ) mà tôi được biết ông Phan Kế Toại-Khâm sai Bắc Bộ, muốn tiếp xúc với Việt Minh. Biết ông là người có lòng yêu nước và dân tộc, nhân cơ hội này, tôi muốn gặp ông Toại để tiếp xúc, thăm dò thái độ của ông.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/vietminh2.jpg
Ông Lê Trọng Nghĩa

Cuối tháng 7, lần đầu tiên, tôi gặp ông tại dinh Khâm sai, trân trọng trình bày chương trình của Việt Minh. Với sự quan tâm và cởi mở, ông tỏ thái độ trọng thị Mặt trận Việt Minh nhưng cũng chưa ngả hẳn về Việt Minh.

Tiếp đó, nhân dịp Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc, ông Phan Kế Toại báo cho tôi biết và tỏ ý muốn giới thiệu tôi gặp Thủ tướng. Tôi đã mạnh bạo gặp ông Trần Trọng Kim để biết rõ hơn thái độ trước thời cuộc của người cầm đầu chính phủ Huế. Ngay từ đầu, tôi đã bị mặc cảm bởi cách bắt tay của ông Trần Trọng Kim. Có lẽ nghe ông Phan Kế Toại giới thiệu gặp gỡ đại diện của Việt Minh, ông Trần Trọng Kim không ngờ lại gặp người đại diện trẻ như tôi. Ông Kim cho rằng trong tình thế hiện nay, phải dựa vào Nhật để giành độc lập hoàn toàn. Tôi trình bày rõ quan điểm là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, giành lấy chính quyền thì mới có độc lập hoàn toàn.

Mỗi người đều đưa ra quan điểm riêng của mình. Ông Trần Trọng Kim ngỏ ý muốn củng cố chính phủ Huế, nhưng sau đó đã đề nghị: "Hai bên cùng muốn đi đến cái đích độc lập dân tộc, chúng tôi đi đường vòng, các ông đi đường thẳng, nhưng vẫn có thể hợp tác với nhau, chúng tôi ở vòng trong, các ông ở vòng ngoài".

Tôi cũng không đồng ý quan điểm này. Không khí ngày một căng thẳng. Tôi nhớ mới câu nói của ông, đại ý: "Lịch sử sẽ phán xét cho công việc của chúng tôi".

Khâm sai Phan Kế Toại thấy vậy , bèn đứng lên nói: "Xin Cụ, thế nào Chính phủ cũng xem xét lại vấn đề này vì Việt Minh ở Bắc kỳ mạnh lắm; nhân dân theo họ." Chính câu nói này của ông Toại làm tôi yên tâm. Và chỉ hơn một tháng sau, Cách mạng Tháng Tám thành công là minh chứng hùng hồn cho đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng.

Tôi hỏi ông:

- Khi đó, bác còn quá trẻ mà dám một mình đi gặp gỡ, "thuyết pháp" với các nhân vật chóp bu của chính phủ bù nhìn, có lúc nào bác thấy run không?

-Mặc cảm ban đầu với ông Trần Trọng Kim thì có, run thì không vì tôi đã đối thoại chững chạc, đường hoàng với tư cách của một cán bộ Việt Minh đã nắm chắc và tuyệt đối tin tưởng vào sự đúng đắn, sáng suốt của chương trình Việt Minh nhằm vận động toàn dân đoàn kết để tạo nên sức mạnh vô địch của cuộc khởi nghĩa.

-Cuộc gặp gỡ nào để lại cho bác nhiều ấn tượng nhất?

-Cuộc gặp Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn. Lúc đó, ông là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ra Bắc cùng đoàn đại biểu chính phủ Trần Trọng Kim để điều đình với Nhật và liên lạc với Việt Minh, mời Việt Minh hợp tác với chính phủ. Sớm 18/8, ông Hãn đích thân đến trụ sở Uỷ ban quân sự cách mạng (UBQSCM) ở 101 Gambetta (nay là Trần Hưng Đạo) để nêu lại vấn đề Việt Minh hợp tác mà lần trước, ông Trần Trọng Kim đã nêu. Anh Nguyễn Khang giao cho tôi thay mặt UBQSCM tiếp ông Hoàng Xuân Hãn

Qua thái độ cử chỉ, những tin tức ông thông báo cho biết về Chính phủ bù nhìn và đề ra giải pháp, tôi thật sự xúc động trước tấm lòng yêu nước của ông"

Trong hồi ký "Câu chuyện về những cuộc đấu tranh và tiếp xúc giữa Việt Minh với chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội", tôi được đọc những dòng ông Lê Trọng Nghĩa viết rõ hơn về cuộc gặp gỡ này: Ông Bộ trưởng ăn mặc chỉnh tề. Coi ông có vẻ hiền lành nhưng không giấu được cử chỉ của người đang xúc động mạnh. Tôi trân trọng mời. Ông cũng không chờ thêm, tự giới thiệu là người đại diện cao cấp của Thủ tướng chính phủ lúc đó đang ở Hà Nội, đến để báo những tin quan trọng, khẩn cấp.

Ông cho biết Khâm sai Phan Kế Toại ngay từ đêm 17 đã từ bỏ nhiệm vụ và rời nhiệm sở (Dinh Khâm sai). Ngày 18, Chính phủ, nhà vua đã cử bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Chủ tịch Uỷ ban chính trị kiêm Khâm sai Bắc Bộ thay ông Phan Kế Toại. Quân đội Đồng minh đã bắt đầu lên đường chia nhau vào chiếm miền Nam và miền Bắc vĩ tuyến 16 nước ta rồi

Ngừng một chút như nén xúc động, ông tiếp: Đất nước có nguy cơ đe doạ lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa". Và ông gợi ý luôn: "Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng nên để chính phủ tiếp tục quản lý các thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng minh trong lúc này. Những tin túc của ông thật hệ trong và gây bất ngờ.Tôi ôn tồn từ chối khéo với lý do giản đơn chỉ có Việt minh mới duy nhất có đủ tư cách, danh nghĩa và khả năng để đối phó với tình hình và Việt Minh chúng tôi đã sẵn sàng"

Cuộc gặp gỡ đã để lại những ấn tượng sâu sắc và cũng giúp cho tôi thấy rõ được tầm quan trọng và chủ trương đúng đắn của Trung ương, Xứ uỷ trong việc tập hợp và liên kết với các nhân vật tầng lớp trên đang có ảnh hưởng lớn trong nhân sĩ trí thức như ông Hoàng Xuân Hãn

Sáng 19/8, cả Hà Nội xuống đường với rừng cờ , biểu ngữ của hàng nghìn quần chúng cuồn cuộn đổ về quảng trường Nhà hát lớn

Theo sự phân công của Uỷ ban khởi nghĩa (UBKN), anh Nguyễn Khang, anh Trần Tử Bình và tôi chỉ đạo mũi chiếm phủ Khâm sai, sau đó anh Trần Quang Huy dẫn đầu quần chúng sang chiếm Toà thị chính; anh Nguyễn Quyết chỉ đạo mũi chiếm Trại bảo an binh, Sở mật thám, Ty liêm phóng.

Tại Trại bảo an binh, trong khi lực lượng vũ trang đã vào Trại, chiếm được kho súng và phân phát cho anh em thì ở ngoài cổng trại, quân đội Nhật cho xe tăng đến bao vây. Anh Quyết từ trong trại gọi dây nói báo cáo tình hình căng thẳng

Trong tình thế cấp bách, anh Nguyễn Khang và anh Trần Tử Bình quyết định để tôi đi gặp quân Nhật. Từ phủ Khâm sai, tôi lấy xe limuzin, cắm cờ đỏ sao vàng, đến gặp viên sĩ quan Nhật ở trước rạp Tháng Tám bây giờ để đối thoại, nói rõ Trại bảo an binh thuộc quyền Phủ Khâm sai của người Việt, người Nhật sắp về nước không nên can thiệp. Viên sĩ quan đã phải chấp nhận, cho quân rút về doanh trại ở Phạm Ngũ Lão nhưng vẫn muốn tôi phải nói chuyện vói thượng cấp của họ theo kỷ luật nhà binh

Với sức mạnh như thác đổ của quần chúng, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, lại có sự điều đình thương lượng kịp thời của ta, Trại bảo an binh đã về tay chính quyền cách mạng mà không phải đổ máu. Ta đã chiếm được các cơ quan đầu não về chính trị và quân sự của địch nhanh gọn

Ngay tối 19/8, Thường vụ Xứ uỷ họp, quyết định thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Bộ do anh Nguyễn Khang làm Chủ tịch. Uỷ ban đã ra mắt đồng bào ngay sáng 20/8/1945 tại vườn hoa Con Cóc trước cửa Bắc Bộ Phủ

UBNDCMLT Hà Nội cùng được thành lập do anh Trần Quang Huy làm Chủ tịch. Sau đó, anh Khang cử tôi và anh Trần Đình Long gặp ngay Tổng tư lệnh kiêm Đại sứ toàn quyền Nhật, tướng Tsuchihashi tại 33 Phạm Ngũ Lão để nói cho họ biết: Ta không đụng đến người Nhật và mong rằng họ không gây rắc rối hay xung đột cho ta

Cuộc hội đàm đầu tiên giữa đại diện chính quyền cách mạng với viên tướng cao cấp của Nhật đã thắng lợi to lớn, ngoài cả dự kiến ban đầu. Họ xác định thái độ không can thiệp vào nội bộ người Việt, mặc nhiên thừa nhận chúng tôi là nhà chức trách đương quyền và cử sĩ quan liên lạc với ta

65 năm đã qua, sứ giả của Việt Minh trong mùa thu Cách mạng,"Thiếu niên Việt Minh" Đoàn Xuân Tín sau khởi nghĩa là Chánh Văn phòng quân uỷ hội và là đại biểu Quốc hội khoá I (năm 1946), Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy (1947-1948), sau đó là Cục trưởng cục 2 Bộ Quốc phòng.

Với vẻ trầm ngâm, chậm rãi, ông nói: Cuộc cách mạng Tháng Tám đã thành công tốt đẹp.Tôi rất vinh dự và tự hào đã là một cán bộ Việt Minh, người đảng viên của Đảng trong thời kỳ lịch sử ấy. Công cuộc đổi mới của Đảng đã và sẽ đi tới thắng lợi mới khi biết phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân, biết lắng nghe tiếng nói, nguyện vọng tha thiết của của nhân dân, đem lại dân chủ thực sự cho dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã làm được trong cách mạng Tháng Tám

Những năm 80-90 của thế kỷ XX, ông là dịch giả của cuốn sách Why Vietnam (Tại sao Việt Nam) và nhiều công trình dịch thuật có giá trị để bảo vệ chủ quyền biên giới. Bản thảo sách "Từ Hoả Lò thẳng đến dinh Khâm sai Bắc Bộ" đang được ông trau chuốt dể nhìn lại thời khắc không thể nào quên trong Mùa thu Cách mạng mà với ông, đó là sức mạnh to lớn, kỳ diệu của đồng chí đồng bào đang nổi dậy giành quyền sống trong độc lập tự do


PHẠM KIM THANH (http://tuanvietnam.net/2010-08-17-su-gia-cua-viet-minh-trong-nhung-ngay-ha-noi-khoi-nghia)

LOBBY.VN
08-20-2010, 08:41 PM
Khi các nhà độc quyền năng lượng ra giá...

Bản kiến nghị tăng giá điện có tính đột biến vừa qua mang hơi hướng tiếp thu kinh nghiệm vận động chính sách của một số Hiệp hội có tính bảo hộ và độc quyền tương tự ở Việt Nam và thế giới

"Úm ba la, cả 3 cùng có lợi"

Ngày 9/8/2010, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) loan báo sẽ gửi văn bản tới Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng để kêu trời rằng, với giá bán lẻ điện bình quân năm 2010 là 1.058 đồng mỗi kWh, thì trong 6 tháng đầu năm, EVN đã lỗ trên 3.000 tỷ đồng; đồng thời kiến nghị xóa bỏ giá điện bậc thang để áp dụng 2 loại giá điện, mà theo đó các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, cán bộ hưu trí, học sinh, sinh viên... được áp dụng giá điện có hỗ trợ của Nhà nước đối với 50 kWh đầu tiên. Riêng các hộ sử dụng điện có mức sống trung bình trở lên áp dụng giá bán 7-8 cent mỗi kWh (khoảng 1.500 đồng mỗi kWh), tức tăng gần 50% so với giá hiện hành. Hiệp hội cũng kiến nghị, thành lập một Tổng công ty quản lý giá điện trực thuộc EVN cho hộ nghèo và giá điện phục vụ công ích xã hội...

Các ý kiến chủ đạo trên đây là kết quả của cuộc hội thảo-hiệp thương kiểu "anh nói đỡ cho tôi, tôi sẽ kêu hộ anh" , "Úm ba la, 3 ta cùng có lợi" giữa chủ yếu là lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty lớn như Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp than và khoáng sản - những đại gia cùng đẳng cấp đang độc quyền ngành năng lượng ở Việt Nam

Theo ước tính sơ bộ, với sản lượng của ngành điện hiện nay, chỉ cần tăng 1 đồng, ngành điện sẽ thu thêm được tới 100 tỉ đồng/năm chứ không ít. Giá điện tăng 500 đồng, tức chỉ vài "xen" theo cách gọi khéo, thì ngành điện định thu thêm "sau một đêm ngủ dậy" mà không cần làm gì tới 50.000 tỉ đồng/năm, tức xấp xỉ 2,5 tỷ USD? Quả là vụ làm ăn lời bạc tỷ từ cóp nhặt từng xu chứ chả bỡn

Những câu hỏi không lời đáp

Bản kiến nghị có vẻ mang đậm hơi hướng tiếp thu kinh nghiệm vận động chính sách của một số Hiệp hội có tính bảo hộ và độc quyền tương tự ở Việt Nam và thế giới

Không hiểu khi đồng thuận cao trong việc "ra giá" điện với mức "khủng" như trên, "Hiệp hội Năng lượng" nói chung và EVA nói riêng đã biết phải làm gì và thực tế đã làm hay chưa những việc để cải thiện tình hình. Liệu các cơ quan đã công khai kiểm toán hay chưa các tổn thất điện năng, năng suất lao động, định mức tiêu thụ vật liệu, cũng như các chi phí tiền lương và hư hao, thất thoát đủ loại khác... được tính tất tần tật vào giá thành hay mức tăng giá điện và các dạng năng lượng khác?

Nhân tiện, sao những cơ quan này không tổ chức hội thảo trước khi tiến hành hội thảo tăng giá điện như vậy?

Hơn nữa, làm cách nào để xác định chính xác, minh bạch, kịp thời theo cả tiêu chí định tính và định lượng 2 nhóm đối tượng để áp giá điện mới theo sáng kiến đột phá của Hiệp hội năng lượng và EVA? Và liệu "cơ chế 2 nhóm đối tượng" này có là kẽ hở để dung dưỡng "cơ chế xin-cho" trong xếp hạng giàu - nghèo (như đã từng xảy ra chuyện chạy xếp hạng xã nghèo để nhận tiền hỗ trợ từ Chính phủ trong thời gian qua ở một số tỉnh) và phát sinh các dạng hạch toán "xập xí xập ngầu" có tính chất ăn gian và tham những, gây thất thoát trong quản lý thu tiền điện trong tương lai?

Phải chăng xác định các hỗ trợ chính sách giá điện theo tiêu chí định lượng là 50 kw đầu gây bất công và thiệt hại cho xã hội hơn là cách tính theo tiêu chí chủ yếu có tính định tính cao là trung bình và nghèo. E rằng khi triển khai kiểu hỗ trợ mới này có lẽ ngành Thống kê Việt Nam sẽ "choáng" vì độ vênh số liệu tương ứng giữa ngành mình và ngành điện không chỉ về tỷ lệ giàu-nghèo trong nước...

Và khái niệm "Tổng công ty quản lý giá điện cho 2 nhóm đối tượng" trên là gì, hình hài và cơ chế của nó ra sao? Đó là Tổng công ty kinh doanh thương mại hay cơ quan quản lý hành chính Nhà nước thay cho Vụ giá của Bộ Tài chính. Một khi đã là cạnh tranh thị trường đúng nghĩa giá là do thị trường quy định, còn hiện nay chưa có cơ chế thị trường trong ngành điện thì sao lại cần một định chế kiểu "vừa đá bóng vừa thổi còi" như vậy? Đúng là người ta hay "cuốc giật vào lòng" thật, các cụ nhà ta dạy cấm có câu nào sai!

Người tiêu dùng hiện tại trả tiền cho người tiêu dùng tương lai

Mục tiêu tăng giá điện như biện minh của các đại gia độc quyền cao nêu trên là vì để có giá điện thị trường, cũng như trước mắt để có vốn đầu tư phát triển ngành điện là lôgic ngược, vì chỉ có giá thị trường khi có cạnh tranh và kiểm soát cạnh tranh thị trường lành mạnh

Hơn nữa, không thể bắt người tiêu dùng hiện tại trả tiền cho người tiêu dùng tương lai, cũng như không nên để những nhà đầu tư không đủ năng lực gạt bỏ những nhà đầu tư hiệu quả và bắt cả xã hội làm con tin bảo đảm cho lợi ích cục bộ của mình

Thực tế cho thấy, không sợ thiếu vốn, thiếu hàng hóa và sản phẩm dịch vụ cho nhu cầu ngày càng tăng cao của thị trường, dù đó là điện năng, mà chỉ sợ thiếu cơ chế khuyến khích và quản lý đầu tư hiệu quả, cũng như thiếu cơ chế tuyển chọn đúng đội ngũ cán bộ, chuyên gia và nhà đầu tư có đủ năng lực, tâm và tầm để phát triển ngành điện và các dạng năng lượng khác vì lợi ích chung của quốc gia và cộng đồng

LOBBY.VN
08-22-2010, 08:33 AM
Microsoft lobby Mỹ về chính sách Internet Trung Quốc


Microsoft đã chi 1,85 triệu đô trong quý II để vận động hành lang (lobby) chính phủ Mỹ về bản quyền phần mềm, công nghệ trong y tế và các vấn đề khác

Theo hãng tin AP, so với cùng kỳ năm ngoái, ngân sách chi cho lobby của Microsoft giảm nhẹ. Các vấn đề đa dạng Microsoft lobby trong quý vừa qua cũng phản ánh lĩnh vực kinh doanh rộng lớn hãng. Microsoft đã vận động chính phủ liên bang Mỹ về lập pháp liên quan đến chính sách Internet của Trung Quốc, cải tổ chính sách sáng chế và thị thực cho kỹ sư nước ngoài…

Là hãng phần mềm lớn nhất thế giới, Microsoft liên tục chống lại vi phạm bản quyền phần mềm và các công ty bị hãng cho là vi phạm sáng chế của mình. Microsoft đặc biệt vận động chính phủ Mỹ về vi phạm bản quyền ở Trung Quốc

Microsoft cũng có thể hưởng lợi từ đạo luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ - một trong những dự luật hãng đã vận động, và các đề xuất khác về hồ sơ y tế điện tử. Microsoft có một bộ phận y tế với các sản phẩm giúp bệnh viện hợp nhất dữ liệu từ các nguồn khác nhau để tạo thành một bức tranh tổng thể về lịch sử chăm sóc sức khỏe và y tế của bệnh nhân. Hãng cũng vận động về các vấn đề quyền riêng tư liên quan đến hệ thống HealthVault của họ. Đây là hệ thống mà người dùng có thể sử dụng để lưu trữ thông tin y tế của mình

Microsoft sử dụng khoảng 89.000 nhân viên trên toàn cầu. Trong đó, riêng ở Mỹ có đến 54.000 nhân viên và rất nhiều là người nước ngoài. Microsoft ủng hộ việc tăng số lượng thị thực dành cho nhân viên nước ngoài làm việc ở Mỹ

Hãng cũng đã vận động chính phủ Mỹ về nhân quyền và Internet ở Trung Quốc. Đầu năm nay, đối thủ của Microsoft là Google đã đóng cửa công cụ tìm kiếm Trung Quốc của mình và chuyển người dùng sang website ở Hong Kong để phản đối việc chính phủ Trung Quốc cương quyết kiểm duyệt kết quả tìm kiếm

LOBBY.VN
08-26-2010, 10:36 PM
Không có chức mà vẫn có quyền


Một nhà đầu tư nước ngoài sau nhiều năm lăn lộn làm ăn ở nước ta đã nhận xét:"bên cạnh một chính phủ đang điều hành đất nước bằng công cụ luật pháp, còn có một thành phần vô chính phủ hoạt động song hành tuy không có chức mà vẫn có quyền, nhờ có mối quan hệ gắn bó với nhiều nhân vật có thế lực"

Xin được bắt đầu bài viết ngắn này với hai mẩu chuyện nhỏ nhặt thường ngày. Ai đã từng có nhu cầu sửa chữa căn nhà đang ở hẳn đều thấm thía nỗi khổ về thủ tục. Có thể nói những qui định pháp luật trong lĩnh vực xây dựng nhà ở riêng lẻ hiện nay khá chặt chẽ, đặc biệt là các biện pháp chế tài, xử phạt vi phạm rất nghiêm khắc

Điều nghịch lý, chính sự khắt khe ấy lại là mảnh đất màu mỡ cho các bộ phận liên quan có chức năng kiểm tra việc xây dựng, mà thông thường là có đến năm bảy nhóm thay nhau liên tục đi "thị sát". Thế nhưng nếu chủ nhà nắm bắt được con bài tẩy của đường dây này, cho dù có vi phạm nghiêm trọng đến đâu thì mọi chuyện cũng sẽ chẳng có gì ầm ỉ và tất nhiên là phải chi ra một khoản tiền cao hơn nhiều lần tiền trà nước. Sau đó sẽ chẳng còn ai làm khó dễ việc sửa chữa hay xây dựng vì đã được "bảo kê". Đó là nguyên nhân của hiện tượng bát nháo như nhà xây vượt tầng, lấn chiếm, thậm chí xây nhà không phép đang diễn ra ở nhiều nơi

Tương tự như vậy, bạn muốn mở một quán ăn nhỏ kiếm sống qua ngày. Thôi thì biết bao nhiêu qui định rườm rà và thủ tục nhiêu khê. Làm theo hướng dẫn của chính quyền thì sẽ phải mất khá nhiều thời gian mới có thể hoàn thành mọi thứ giấy tờ chứng minh đủ điều kiện mở quán. Nhưng có khi chỉ cần bắt mối được với một nhân viên của Uỷ ban phường thì đảm bảo "khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành", vì đồng tiền có khả năng công phá mọi thủ tục

Đó chính là chuyện thường ngày xảy ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, là hình thái thấp nhất, đơn giản nhất của hoạt động vô chính phủ, điển hình cho một nghịch lý đang tồn tại hiện nay là "càng khó càng... dễ"

Hoạt động nói trên được nâng cấp và tinh vi trong sự vận động, tham gia vào đời sống kinh tế ở tầm vĩ mô, khi mà những thành viên đơn lẻ kết lại với nhau thành một mạng lưới, một đường dây trong những phi vụ bắc cầu cho các dự án lớn

Một nhà đầu tư nước ngoài sau nhiều năm lăn lộn làm ăn ở nước ta đã nhận xét rằng "bên cạnh một chính phủ đang điều hành đất nước bằng công cụ luật pháp, còn có một thành phần vô chính phủ hoạt động song hành tuy không có chức mà vẫn có quyền, nhờ có mối quan hệ gắn bó với nhiều nhân vật có thế lực"

Thành phần vô chính phủ là ai ? Đó là các cậu ấm cô chiêu con cháu của những người có chức quyền, là thân nhân xa gần, là bè bạn chí cốt của một số quan chức đương nhiệm hay cán bộ cấp cao đã về hưu nhưng vẫn còn dây mơ rể má trong bộ máy điều hành nhiều ngành hoạt động

Bạn đừng ngạc nhiên khi nhìn thấy trong bàn tiệc giữa những người mới quen, ai đó trong số này tự giới thiệu với bạn anh ta là rể, là cháu, là con nuôi của ông này cụ nọ, sẵn sàng chạy giấy phép cho các dự án đầu tư, chi phí thấp hơn các khoản tiền lót đường mà thời gian có được tờ giấy phép lại nhanh hơn

Và bạn cũng đừng lấy làm lạ khi thấy một anh chàng vô công rổi nghề đang ngồi đấu hót với bạn bè ở quán cà phê, bất chợt rút điện thoại di động gọi trực tiếp cho một quan đầu tỉnh mà sau vài câu thăm hỏi thân tình là những đề nghị rất cụ thể nhờ giải quyết chuyện khúc mắc trong làm ăn ở địa phương. Đó là lúc hoạt động vô chính phủ phát huy tác dụng, "nói đâu có đấy", hiệu quả rất cao

Thành viên của lực lượng vô chính phủ không chỉ đơn giản nhờ có mối thân quen với người có quyền lực mà trong số họ nhiều người học rộng hiểu nhiều, không những am tường tình hình làm ăn mà còn nhanh nhạy trong việc nắm bắt thời tiết chính trị

Đây là một thực thể rất khó "bắt tận tay day tận mặt" cũng như chưa có tên gọi, nhưng rõ ràng đang tác động mạnh trong đời sống kinh tế xã hội của chúng ta hiện nay, do biết vận dụng qui luật "bánh ít đi bánh qui lại"

TRẦN TRỌNG THỨC (http://tuanvietnam.net/2010-08-24-khong-co-chuc-ma-van-co-quyen)

LOBBY.VN
08-28-2010, 10:12 AM
“Tướng quân bóng tối” muốn bước ra ánh sáng

- Ichiro Ozawa, chính trị gia đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ), từng được mô tả là “tướng quân bóng tối” suốt 20 năm qua. Giờ đây ở tuổi 68, “kẻ buôn vua” này lại đang muốn làm vua, một tham vọng có thể đe dọa sự tồn vong của DPJ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/443974.jpg
Ở giai đoạn hoàng hôn trong sự nghiệp, “tướng quân trong bóng tối” Ichiro Ozawa muốn bước ra ánh sáng

Báo Japan Times đưa tin hồi giữa tuần, cả chính trường Nhật đã chấn động khi ông Ozawa, cựu tổng thư ký DPJ, tuyên bố sẽ thách thức chức chủ tịch đảng với Thủ tướng Naoto Kan trong cuộc bầu cử nội bộ đảng ngày 14-9. Do DPJ nắm quyền kiểm soát hạ viện, người chiến thắng trong cuộc bầu cử chắc chắn nắm ghế thủ tướng. “Ozawa sẽ không tranh cử nếu ông ấy không nghĩ mình có cơ hội chiến thắng”, báo Wall Street Journal dẫn lời giáo sư chính trị học Gerald Curtis thuộc Đại học Columbia

Ông Ozawa, nhân vật từng được mệnh danh là “tướng quân bóng tối”, đã từ chức tổng thư ký DPJ hồi tháng sáu khi cựu thủ tướng Yukio Hatoyama rời nhiệm sở do không giành được sự tín nhiệm của người dân

WSJ bình luận ông Ozawa sẽ phải đối mặt với nhiều bất lợi lớn trong cuộc đối đầu với ông Kan. Thứ nhất, toàn bộ thành viên nội các và phần lớn lãnh đạo DPJ không ưa ông. Quan trọng hơn là công chúng Nhật lại không tin tưởng ông

Theo khảo sát của Hãng Nippon News Network trong tuần này, 79% người được hỏi khẳng định không ủng hộ ông Ozawa giữ bất cứ chức vụ gì trong DPJ, trong khi 61% cho biết họ muốn ông Kan tiếp tục nắm quyền. Dù uy tín ông Kan đang sụt giảm mạnh do muốn tăng thuế tiêu thụ, nhưng ông là thủ tướng thứ năm trong vòng bốn năm qua, và người dân Nhật đã quá mệt mỏi khi phải chứng kiến chính phủ thay đổi xoành xoạch

Ông Ozawa tuy bị mất uy tín do hiện đang bị điều tra hình sự do có dính dáng đến vụ bê bối quỹ chính trị mờ ám, nhưng các thành viên DPJ, chứ không phải công chúng Nhật, mới là những người quyết định kết quả cuộc bầu cử ngày 14-9. Trong nội bộ đảng, ông Ozawa nổi tiếng là “vua bầu cử” và là chiến lược gia chính trị hiệu quả nhất nước Nhật. Ông đóng vai trò quan trọng trong việc đưa khoảng 150 nghị sĩ giành ghế tại quốc hội, chiếm hơn 1/3 sức mạnh của DPJ. Ông cũng có sự ủng hộ từ phe của cựu Thủ tướng Hatoyama gồm 60 nghị sĩ khác. Trong lúc đó, uy tín của ông Kan đang sa sút sau khi DPJ thất bại ở cuộc bầu cử thượng viện hồi tháng 7. Và ở tuổi 68, cuộc bầu cử ngày 14-9 là cơ hội cuối cùng của ông Ozawa để lên nắm chiếc ghế quyền lực nhất

Giới quan sát bình luận tham vọng của ông Ozawa có thể khiến DPJ đảo lộn. Tỉ lệ ủng hộ của người dân Nhật dành cho DPJ đã sụt giảm mạnh, do vậy việc ông Ozawa lên nắm quyền sẽ chỉ khiến người dân càng thêm bất mãn. “Nền tảng DPJ đang bị rạn nứt nghiêm trọng - WSJ dẫn lời nhà phân tích chính trị Minoru Morita ở Tokyo - Kể cả một cơn địa chấn nhỏ cũng có thể khiến DPJ sụp đổ”. Mà Ozawa lại là một cơn địa chấn lớn

Cơn chấn động mới trên chính trường Nhật (http://tuoitre.vn/The-gioi/397603/%E2%80%9CTuong-quan-bong-toi%E2%80%9D-muon-buoc-ra-anh-sang.html)

LOBBY.VN
08-29-2010, 11:50 AM
Các nước Arab vận động Mỹ chống Israel

Bỏ qua những cảnh báo từ nước Mỹ, các quốc gia Arab vẫn đang tích cực vận động hành lang trong giới chức chính quyền Washington chấm dứt mọi ủng hộ đối với chương trình hạt nhân bí mật của Israel và gây sức ép buộc quốc gia Do Thái này phải đồng ý cho các thanh sát viên của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tới kiểm tra

Trả lời phỏng vấn hãng AP ngày 15/8, một số nhà ngoại giao của các nước Arab thậm chí còn nhấn mạnh rằng, nhiều quốc gia Arab Hồi giáo cảm thấy bị đe dọa bởi chương trình hạt nhân của Israel. Một số quốc gia thậm chí đã họp bàn và thành lập một đơn vị chuyên vận động hành lang tại Mỹ cùng các nước đồng minh của Israel nhằm yêu cầu những nước này thuyết phục Israel tham gia cuộc họp vào tháng 9 tới của IAEA

Đối với họ, động thái chỉ trích chính quyền Tel Aviv của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng trước cho thấy rằng, Mỹ cũng mệt mỏi với những "trò đánh đu" của Israel và rằng, đã đến lúc Israel phải tôn trọng sự hợp tác của quốc tế trong quá trình tiến tới phi hạt nhân trên Trái đất.

Điều kiện duy nhất mà các nước Arab yêu cầu lúc này là Israel mở cửa cho thế giới biết chương trình hạt nhân của họ và để từ đó, các cuộc đàm phán về một Trung Đông phi hạt nhân hóa sẽ được tiến hành một cách cởi mở, chân thành

Cũng theo quan niệm của một số nhà ngoại giao Arab thì khi Israel công khai hóa chương trình hạt nhân, Chính phủ Iran cũng sẽ học tập theo và thế giới không còn phải bán tín bán nghi về chương trình hạt nhân của Iran nữa

Rõ ràng, nhu cầu phi hạt nhân hóa ở Trung Đông đã trở nên cấp bách trong thế giới Arab. Hôm 8/8, Chủ tịch Liên đoàn Arab Amr Moussa đã viết thư chia sẻ với hãng thông tấn AP rằng, các quốc gia Arab sẵn sàng tham gia hội nghị do IAEA tổ chức vào tháng 9 và sẽ cố gắng thuyết phục sự ủng hộ từ Israel, Iran

Trong một dự thảo tuyên bố chung tại một cuộc họp trước đó, các nước Arab thậm chí còn đặt ra mục tiêu kêu gọi Israel nhanh chóng gia nhập Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Một bản sao của dự thảo tuyên bố chung này đã được gửi tới Đại sứ quán Bỉ ở Cairo và Ngoại trưởng Bỉ Steven Vanackere bởi Bỉ hiện là quốc gia đang giữ chức Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU)

Theo dự kiến, trong vài ngày tới, dự thảo tuyên bố này sẽ được gửi lên cả IAEA, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Ngoại trưởng Nga, Ngoại trưởng Trung Quốc, Ngoại trưởng Anh, Ngoại trưởng Pháp

Được biết, hồi tháng trước, Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu trong một cuộc hội đàm cũng cam kết sẽ cùng nhau hợp tác để tránh việc Israel bị cô lập tại Hội nghị của IAEA. Là quốc gia luôn lên tiếng phản đối chương trình hạt nhân của Iran , song Israel lại có vũ khí hạt nhân và không mấy khi muốn quốc tế thảo luận về vấn đề này. Trong 18 năm qua, đây là lần đầu tiên các quốc gia Arab thống nhất thái độ trong việc chỉ trích Israel về chương trình phát triển hạt nhân của nước này

LOBBY.VN
08-29-2010, 12:15 PM
Vụ hối lộ làm rung động Canada

Cuộc cạnh tranh và vận động hành lang giữa hai tập đoàn chế tạo máy bay hàng đầu thế giới là Airbus và Boeing nhằm cố chiếm được hợp đồng bán máy bay trị giá hàng chục tỉ USD cho Hãng Hàng không Canada (Air Canada) diễn ra quyết liệt

Cuối cùng thì Tập đoàn Airbus đã chiến thắng khi ký được hợp đồng bán 34 máy bay vận chuyển hành khách A 320s trị giá 12 tỉ USD cho Air Canada. Tức giận vì thua cuộc, Tập đoàn Boeing thông qua một số phương tiện truyền thông ở Canada đã tố cáo nhiều quan chức Chính phủ Canada, trong đó có cả Thủ tướng đương nhiệm Brian Mulroney và Chánh văn phòng nội các Fred Doucet đã nhận hối lộ hàng triệu USD để giúp Tập đoàn Airbus giành được hợp đồng bán máy bay cho Air Canada

Từ đó bùng nổ vụ tai tiếng đưa và nhận hối lộ làm rung động Canada từ thập niên 90 thế kỷ XX cho đến nay mà sự kiện mới nhất là việc Thủ tướng Canada Stephen Harper, vào tháng 4/2008, thông báo quyết định của Chính phủ và Quốc hội về việc thành lập một ủy ban đặc biệt để tái điều tra vụ đưa và nhận hối lộ liên quan đến Tập đoàn Airbus vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước

Trước đó, vào năm 1993, sau khi trở thành Thủ tướng Canada, ông Jean Chétien, đã quyết định cho mở một cuộc điều tra về vụ hối lộ liên quan đến thương vụ bán máy bay của Tập đoàn Airbus vào năm 1989 như là hành động thực thi một trong những lời hứa mà ông cam kết với cử tri trong chương trình vận động tranh cử trước đó

Sau gần 3 năm điều tra, lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Canada (RCMP) đã cho công bố kết luận làm rung động Canada, đó là việc cựu Thủ tướng Brian Mulroney (nhiệm kỳ 1984-1993) và Chánh văn phòng nội các Fred Doucet đã nhận hối lộ tất cả 1.050.000 USD của Tập đoàn Airbus để giúp cho tập đoàn này giành được hợp đồng bán 34 máy bay A 320s cho Air Canada

Kết luận điều tra còn cho biết, ông Mulroney đã nhận hối lộ số tiền 500.000 USD làm 2 lần. Lần thứ nhất là 300.000 USD được chuyển từ một tài khoản mang mã hiệu BRITAN qua một ngân hàng ở Thụy Sĩ đến một ngân hàng ở thành phố New York của Mỹ

Lần thứ hai là 200.000 USD từ một tài khoản mang mã hiệu FRANKFURT qua một ngân hàng cũng ở Thụy Sĩ đến một ngân hàng ở thành phố New York. Có điều là tuy tích cực điều tra nhưng RCMP vẫn không biết được danh tính của cá nhân hay tổ chức nào đã chuyển tiền cho ông Mulroney

Đồng tình với kết luận điều tra của RCMP là nhận định và buộc tội của các phương tiện thông tin đại chúng ở Canada. Các tờ báo lớn như Globe and Mail, The National Post, các hãng truyền hình và phát thanh CBC, CTV đồng loạt đưa tin và cả thực hiện các phóng sự điều tra chỉ với mục đích là buộc tội ông Mulroney nhận hối lộ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/18_karl824-to.jpg
Karlheinz Schreiber, nhân vật quan trọng của vụ đưa và nhận hối lộ làm rung chuyển Canada


Cuộc chiến pháp lý trở nên gay gắt vào các năm 1997-1998 khi ông Mulroney kiên quyết bác bỏ mọi cáo buộc nhận hối lộ và quay sang kiện chính phủ của Thủ tướng Chétien về tội vu khống và bôi nhọ danh dự cá nhân với yêu cầu phải bồi thường thiệt hại lên đến 50 triệu USD

Đến năm 1999, sau nhiều lần tranh kiện, Tòa án Tối cao Canada đã phán quyết cáo buộc ông Mulroney nhận hối lộ của Tập đoàn Airbus là không có căn cứ và tuyên Chính phủ Canada phải bồi thường 2,1 triệu USD thiệt hại danh dự cho ông Mulroney

Vụ hối lộ làm rung động Canada tưởng đâu bị chìm xuồng sau phán quyết của tòa án tối cao nhưng bỗng bùng nổ trở lại vào năm 2001 bởi vụ bắt giữ một người Canada gốc Đức tên Karlheinz Schreiber theo lệnh truy nã đặc biệt của Bộ Nội vụ Đức

Giới buôn bán vũ khí và vận động hành lang quốc tế không lạ gì Schreiber, bởi vì y nguyên là một điệp viên của Cơ quan Tình báo Đức (BND) bị sa thải vào năm 1988, sau đó lợi dụng thời cơ sụp đổ của các quốc gia XHCN Đông Âu vào năm 1990 để buôn bán vũ khí lấy cắp từ các kho quân giới của các quốc gia này

Trở nên giàu có, Schreiber đã hào phóng chi hàng triệu USD cho các chiến dịch tranh cử của các chính trị gia Đức, trong đó có việc chi 1,5 triệu USD gây quỹ vận động tranh cử cho đảng Liên minh Dân chủ Thiên Chúa giáo (CDU) của Thủ tướng Helmut Kohl

Sau khi vụ việc đổ bể, Schreiber bỏ trốn đến Canada và được nhập quốc tịch Canada vào năm 1995. Vào ngày 21/2/2001, Scheiber bị Cảnh sát Canada bắt giữ theo lệnh truy nã của Bộ Nội vụ Đức tại thành phố Toronto

Qua điều tra Schreiber, có sự phối hợp với Bộ Nội vụ Đức, ông ta thú nhận mình chính là chủ nhân của hai tài khoản mang mã hiệu

Britan và Frankfurt, từng vận động hành lang và môi giới bán máy bay của Tập đoàn Airbus cho Air Canada vào năm 1989. Đây cũng chính là người đã chuyển tiền cho ông Mulroney

Thú nhận của Schreiber một lần nữa lại làm sống dậy và bùng nổ vụ hối lộ từng làm rung động Canada vào thập niên 90 thế kỷ XX, đến nỗi từ năm 2003 đến năm 2008, Quốc hội và Chính phủ Canada đã tổ chức nhiều phiên họp để bàn đến việc nên hay không nên tái điều tra về vụ nhận hối lộ của cựu Thủ tướng Brian Mulroney

Cuối cùng, trước sức ép của dư luận, nhất là từ các phương tiện thông tin đại chúng, vào ngày 26/4/2008, Thủ tướng Stephen Harper thông báo về việc chính phủ và Quốc hội sẽ thành lập một ủy ban đặc biệt để tái điều tra vụ nhận hối lộ của ông Mulroney. Do là một nhân chứng quan trọng nên Schreiber sẽ không được dẫn độ về Đức theo như đề nghị của Bộ Nội vụ Đức mà vẫn bị giam giữ tại Canada

Cuộc điều tra của Ủy ban đặc biệt dự kiến kéo dài trong vòng 18 tháng và nếu bị buộc tội, cựu Thủ tướng Mulroney sẽ phải lĩnh mức án 5 năm tù giam. Và đây cũng sẽ là trường hợp đầu tiên trong lịch sử Canada, một cựu thủ tướng bị kết tội và phải thụ án tù giam

LOBBY.VN
08-31-2010, 10:38 PM
Doanh nghiệp tư nhân: Vẫn sống nhờ mối quan hệ

- Chỉ có vỏn vẹn hơn 1 tiếng đồng hồ thảo luận với hai chủ đề lớn: "phân bổ nguồn lực tài chính" và "vai trò kinh tế tư nhân", hầu như các chuyên gia mới chỉ bước đầu nhận diện một số điểm yếu và kiến nghị một vài chính sách

Ủy ban Kinh tế Quốc hội sáng nay (30/8) đã tổ chức hội thảo bàn về "Mô hình tăng trưởng kinh tế: phân bổ nguồn lực tài chính và vai trò của kinh tế tư nhân"

Kinh tế tư nhân như ốc đảo

Như nhận xét của TS Nguyễn Đức Thành (Trung tâm nghiên cứu CEPR - ĐH Quốc gia), khu vực DN tư nhân non trẻ của Việt Nam ví như hòn đảo giữa khu vực kinh tế nhà nước, bị chi phối cả về đạo đức kinh doanh lẫn nhiều yếu tố khác. Xem xét hiệu quả đầu tư không nhất thiết phải xem tỷ lệ nào (nhà nước hay tư nhân) chiếm bao nhiêu mà phải có cách tiếp cận mới

Theo TS Nguyễn Đức Thành, cần tách hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN ra khỏi các hoạt động liên quan đến hoạch định chính sách. DNNN đang phải đảm trách nhiều nhiệm vụ chính trị, xã hội (an sinh, chống lạm phát). Việc trộn lẫn chức năng khiến DNNN không đủ sức mạnh cạnh tranh quốc tế

TS Nguyễn Đức Thành phân tích, DNNN có mối quan hệ chính trị tốt, dẫn đến khả năng thao túng chính sách, thao túng thông tin, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế. Yêu cầu cải cách cấp thiết vẫn là sự minh bạch tài chính

Ông Lê Đăng Doanh bổ sung, ông chủ các DN tư nhân ở VN tuy mua sắm máy bay, tiêu dùng hạng sang nhưng vẫn chưa đủ sức cạnh tranh quốc tế, cũng chưa cống hiến là bao cho sự phát triển của nền kinh tế. "Họ sống nhờ các mối quan hệ, khai thác gỗ, khai thác tài nguyên", ông Doanh nói

Bàn về sự bất bình đẳng, ngay một đại diện của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cũng chia sẻ: "Tín dụng đang đi vào những mối quan hệ thân quen chứ không phục vụ cho chính sách"

Vị nữ lãnh đạo này kể lại, nhiều doanh nhân từ các công ty niêm yết kêu với bà rằng không hiểu tại sao họ chỉ có vài nghìn cổ đông nhưng luôn phải niêm yết tài chính công khai, trong khi đáng lý, những DNNN thuộc sở hữu toàn dân mới cần phải niêm yết và công khai tài chính.

"Nhà đầu cơ thông minh kiếm nhiều hơn doanh nhân đổi mới"

Mối quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân càng được làm rõ khi GS Hansjoerg Herr (Đức) phân tích một số "oái oăm" trong phân bổ nguồn lực tài chính. Dòng tiền đang đổ vào chứng khoán, bất động sản, đầu cơ trong khi đáng lẽ được đầu tư cho sản xuất

"Tôi nghe nói ở Việt Nam, nếu anh là nhà đầu cơ thông minh, anh sẽ kiếm được nhiều tiền hơn những doanh nhân có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Điều này không tương thích cho một xã hội phát triển", ông Hansjoerg Herr nói. Ông cũng chỉ ra những hệ lụy từ về tình trạng đô la hóa nền kinh tế, quy mô phình to của thị trường chứng khoán, đồng thời phân tích những vấn đề xung quanh phát triển thị trường tín dụng nội địa

Dẫn lại kinh nghiệm các nước Đông Á, đặc biệt Trung Quốc, vị GS Đức cho hay, dòng tiền đầu tư chủ yếu cho sản xuất, chế tạo. Nhà nước Trung Quốc hạn chế cho vay bất động sản, tiêu dùng, thậm chí cả chi tiêu công

Không đưa ra những khuyến nghị cụ thể về mô hình tăng trưởng hay tái cơ cấu, nhưng vị GS người Đức cảnh báo: "Đa số các nước phát triển đều phải tạo ra được một cú hích từ trong nội bộ"

Chủ trì một nghiên cứu về "tính bền vững của mô hình tăng trưởng kinh tế VN giai đoạn đổi mới", TS Nguyễn Phi Lân (Ngân hàng Nhà nước VN) cảnh báo: "Ổn định kinh tế vĩ mô phải đi đôi với ổn định chính trị. Cần thường xuyên tiến hành đổi mới để tạo ra sự phát triển liên tục cho Việt Nam"

LOBBY.VN
09-02-2010, 10:21 PM
Iran: Tổng thống Brazil định "lobby" Pháp, Nga, Trung Quốc

Tổng thống Iran Ahmadinejad lên tiếng ca ngợi quan điểm "dũng cảm" của ông Lula da Silva

Thông báo trên website của tổng thống Iran cuối ngày 30/5 cho biết, Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva sẽ lên kế hoạch kêu gọi sự ủng hộ từ Pháp, Nga và Trung Quốc để đạt được một hợp đồng nhiên liệu hạt nhân của Iran

Theo báo cáo trên website này thì trong cuộc điện thoại với Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, ông Lula da Silva cho biết sẽ đàm phán với người đồng nhiệm phía Pháp Nicolas Sarkozy, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nhằm có được sự ủng hộ của các bên về hiệp định Tehran 17/5

"Hiệp định Tehran đã đặt các nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an vào một tình thế nhạy cảm" - trích lời ông Lula trong cuộc nói chuyện với tổng thống Iran

"Để có được sự ủng hộ đối với hợp đồng này, trong tuần này tôi sẽ nói chuyện với tổng thống Pháp Sarkozy, tổng thống Nga Medvedev và chủ tịch Trung Quốc. Cộng hòa Hồi giáo Iran có thể hoàn toàn được đảm bảo về sự giúp đỡ đầy đủ từ Brazil", ông Lula da Silva nói

Hôm 17/5 tại Tehran, ba nước gồm Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil đã thống nhất một thỏa thuận chung. Theo đó, chính phủ Iran đồng ý chuyển 1.200kg uranium làm giàu ở mức 3,5% sang Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lấy uranium làm giàu ở mức 20%. Tuy nhiên, hiệp định trao đổi nhiên liệu phải được nhóm Viena gồm Iran, Pháp, Nga, Mỹ và IAEA phê chuẩn chính thức mới được tiến hành

Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn nỗ lực thúc đẩy một nghị quyết của LHQ nhằm trừng phạt Iran khi thấy rằng Hiệp định Tehran 17/5 không đủ để chứng minh rằng chương trình hạt nhân Iran là vì mục đích hòa bình

Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an - nơi sẽ "duyệt" nghị quyết trừng phạt nhằm vào Iran. Dù vậy, tổng thống Iran Ahmadinejad vẫn lên tiếng ca ngợi quan điểm "dũng cảm" của ông Lula da Silva về hợp đồng này - thông báo trên website cho biết

LOBBY.VN
09-08-2010, 06:44 AM
Những quyết định khó hiểu của một Thứ trưởng Dược


Sau khi kết luận của Thanh tra Chính phủ chỉ rõ những sai phạm trong việc mua thuốc Tamiflu phòng chống cúm H5N1 của Bộ Y tế làm lãng phí hàng trăm tỉ đồng, dư luận đã đặt câu hỏi những ai đứng sau vụ việc này? Một trong số đó chính là ông Cao Minh Quang đã từng giữ chức Cục trưởng Cục Quản lí dược và hiện giờ là Thứ trưởng Y tế phụ trách dược

Có thể nói, ông Quang từ khi giữ chức Cục trưởng Cục Quản lí dược và đến khi là Thứ trưởng y tế phụ trách dược đã kí những quyết định rất khó hiểu

Vào cuối năm 2008, dư luận đã xôn xao trước việc ông Cao Minh Quang với tư cách là Thứ trưởng Y tế đã lên tiếng tố cáo việc “vận động hành lang” của hãng MSD (Mỹ) khi xin cấp phép đăng kí lưu hành vaccine ung thư cổ tử cung Gardasil tại VN. Lúc đó, nhiều người cho rằng, ông Quang là một “người hùng” dám đấu tranh, phanh phui tiêu cực của chính ngành y tế. Ông Quang đã làm một việc rất khác thường là viết một bức thư bằng tiếng Anh, đóng dấu đỏ của Bộ Y tế gửi đến “tổng hành dinh” của MSD tại Mỹ để thông báo về việc MSD tại VN “lobby” quan chức y tế để được cấp phép lưu hành vaccine tại VN. Khi trả lời báo giới, ông Quang khẳng định: Có bằng chứng xác thực trong vụ nghi án lobby này

Thế nhưng, ngay sau đó dư luận đặt câu hỏi: MSD lobby ai? khi mà người kí quyết định lưu hành vaccine ung thư cổ tử cung Gaddasil vào VN không ai khác chính là ông Cao Minh Quang

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/b4277fb4a7394eb7884256666490180b.jpg
Ông Cao Minh Quang, Thứ trưởng Y tế

Vào thời điểm nghi án lobby của MSD rộ lên cũng là lúc ông Quang kí một quyết định khác cho phép vaccine ung thư cổ tử cung Cervarix của hãng GSK vào VN nhưng với chỉ định rộng rãi cho em gái và phụ nữ từ 10-55 tuổi. Đây là một quyết định khó hiểu, vì vaccine Gardasil chỉ dùng cho độ tuổi từ 9-26 và đặc biệt vaccine Cervarix lưu hành ở nhiều nước cũng có chỉ định từ 10-25 tuổi. Trước sự việc này, Hội đồng xét duyệt thuốc và vaccine, sinh phẩm y tế đã họp và đưa ra quyết định giảm độ tuổi sử dụng vaccine Cervarix chỉ từ 10-25 tuổi. Ông Quang đã không giải thích vì sao lại có ưu ái đặc biệt như vậy đối với GSK!

Về phía MSD sau khi nhận được thông báo từ Thứ trưởng Y tế VN đã có phản ứng và yêu cầu ông Quang cung cấp bằng chứng về việc lobby. Rồi sau đó, sự việc giải quyết thế nào đã được giữ kín. Và theo thông tin riêng của PV thì ông Quang đã phải có lời xin lỗi MSD

Để cố gắng thể hiện là “người hùng” ông Quang đã đưa ra những tuyên bố về tiêu cực trong ngành dược và thật trớ trêu khi Thanh tra Chính phủ vào cuộc đã phanh phui ra những việc làm bất minh của chính lãnh đạo ngành dược

Có lẽ hình ảnh “người hùng” của ông Quang đã hoàn toàn sụp đổ khi mà Thanh tra Chính phủ đưa ra kết luận rõ ràng về vụ mua thuốc Tamiflu phòng chống dịch cúm H5N1 năm 2006. 4 công ty được coi là “ruột” của ông Quang đã được chọn để “rót” 562 tỉ đồng tiền ngân sách để mua nguyên liệu thuốc Tamiflu của Ấn Độ, hạn dùng chỉ 3 năm với giá cao gấp đôi so với nguyên liệu của hãng Roche có hạn dùng 10 năm. Điều đáng nói hơn nữa là trong phi vụ làm ăn này, 4 công ty dược đã được hưởng tới 6 triệu USD tiền “hoa hồng” từ nhà cung cấp nguyên liệu

Đến tháng 2.2008 toàn bộ 9,7 triệu viên Tamiflu đã hết hạn sử dụng và số nguyên liệu dự trữ cũng hết hạn sử dụng vào tháng 2.2009. Khi đó, ông Cao Minh Quang lại đưa ra một quyết định khó hiểu nữa là cho phép thuốc Tamiflu và nguyên liệu đã hết hạn gia hạn thêm 1 năm nữa. Là người đã từng làm công tác kiểm nghiệm thuốc, quản lí cả ngành dược, ông Quang phải hiểu rõ việc thuốc hết hạn là không được phép sử dụng. Tại sao ông Quang lại kí một quyết định cho gia hạn sử dụng thuốc thêm 1 năm nữa? Có phải đó là việc làm cố tình để che dấu nguồn thuốc kém chất lượng !?

Hàng trăm tỉ đồng của nhà nước đã bị bỏ phí bởi quyết định của lãnh đạo Bộ Y tế mà trong đó có phần trách nhiệm lớn của ông Cao Minh Quang – Thứ trưởng Y tế

Những quyết định khó hiểu của vị Thứ trưởng này trong những năm qua luôn đi ngược lại với hình ảnh “người hùng” mà ông Quang đã cất công gây dựng lên. Sau vụ việc ầm ĩ Tamiflu này đã chứng minh một điều ngược lại – ông Cao Minh Quang – Thứ trưởng y tế không phải là “người hùng” mà chỉ là một quan chức y tế thiếu trách nhiệm với đất nước, với nhân dân

LOBBY.VN
09-14-2010, 11:12 AM
'Sở hữu toàn dân', cơ hội béo bở cho lợi ích nhóm ?


- Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (Đại học Kinh tế TP.HCM), cái mũ sở hữu toàn dân đã tạo cơ hội cho khai thác lợi ích nhóm và tư nhân hóa tài sản quốc gia diễn ra trên diện rộng và khá nhanh. Cần xác lập sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương thay cho khái niệm sở hữu toàn dân

Trao đổi bên lề Diễn đàn Đối tác pháp luật về tăng cường tiếp cận công lý do UNDP tổ chức hôm qua (13/9), ông Nghĩa nói: 20 năm cải cách ở Việt Nam đã bảo hộ tương đối tốt sở hữu tư nhân, nhất là ở các đô thị. Tuy nhiên, những vấn đề khác cần thảo luận, chẳng hạn sở hữu toàn dân với đất đai cần thảo luận từ khía cạnh việc bảo vệ quyền lợi mong manh của người nông dân trước các thế lực nhòm ngó

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images2034878_phamduynghia.jpg
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, khoa Luật & chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, ĐH Kinh tế TP.HCM

Thứ hai, sở hữu công cộng bao gồm bờ biển, hầm mỏ, không khí công cộng, là tài sản quốc gia để lại nhưng hiện nay đang được khoanh vùng tư nhân hóa rất nhanh

Lĩnh vực thứ ba là sở hữu các tập đoàn nhà nước, hiện cũng đang là vấn đề.

Như chúng tôi kiến nghị nhiều lần, phải có khái niệm tốt hơn khái niệm sở hữu toàn dân, chúng tôi muốn chuyển đổi khái niệm sở hữu toàn dân thành sở hữu của chính quyền, của quốc gia, chia hai cấp: chính quyền TƯ và chính quyền địa phương.

Tư hữu hóa

Lý do vì sao, thưa ông ?

- Sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị, khi triển khai vào các khái niệm pháp lý, không xác định ai có chủ quyền thực sự

Khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó, đã gây ra nhiều bất công, làm cho tài sản rơi vào tay những người có ảnh hưởng

Điều bỏ ngỏ trên làm các tài nguyên khoáng sản, tài sản đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập đoàn, không rõ ai là chủ sở hữu thực sự, tạo cơ hội cho khai thác lợi ích nhóm và tư nhân hóa tài sản quốc gia diễn ra trên diện rộng và khá nhanh, khi quyền lực được tản từ chính quyền Trung ương xuống các tập đoàn kinh tế và UBND các tỉnh

Cơ chế bảo hộ sở hữu tư nhân chưa hiệu quả, chi phí tiền bạc và thời gian để thực quyền tài sản là lớn so với thu nhập của người dân. Chưa minh định rõ sở hữu công cộng với cơ sở hạ tầng

Lợi ích của việc thay đổi quan niệm chính trị “sở hữu toàn dân” thành một quan niệm pháp lý rạch ròi hơn như ông nói là gì ?

- Ở đây chúng tôi hướng đến khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia, để phúc lợi được chia công bằng. Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia

Phân quyền rõ, tài sản gì thuộc chính quyền địa phương, tài sản gì thuốc quốc gia. Ví như bờ biển, rừng… là sở hữu quốc gia

"Sở hữu quốc gia là một hình thức sở hữu công quan trọng, bao gồm vốn của quốc gia đầu tư vào các công ty thương mại và tổ chức cung cấp dịch vụ công, rừng, hầm mỏ, mặt nước và các nguồn tài nguyên khác. Điều 7 Hiến pháp cần được sửa lại để ghi nhận sở hữu quốc gia, sở hữu của chính quyền các tỉnh, huyện, xã"

Khi đó, toàn bộ tài sản công sẽ thuộc một cơ quan quản lý công sản cụ thể. Một bộ, một sở không thể bán trụ sở của mình, không thể coi công sản là sở hữu của mình. Việc một sở tại địa phương mới đây tư nhân hóa trụ sở của mình là quá lạm quyền bởi sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản cấp tỉnh mới có quyền này

Việc chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu Chính phủ không quản lý được thì Quốc hội sẽ chất vấn. Càng không nên để cho Chính phủ có quá nhiều quyền trong việc quản lý, sử dụng tài sản quốc gia

Nói cách khác, sở hữu toàn dân với cách quản lý của chính phủ, bộ, các ngành đã cho nhiều ông được chia những quyền đó

Ví dụ, một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay hải đảo

Đó là bi kịch đã diễn ra trong 5 năm vừa qua. Khối lượng công sản đã rơi vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Hiện tượng tư hữu hóa khắp nơi với quy mô lan rộng

Còn đối với tổng công ty và tập đoàn thì sở hữu phải được tách khỏi chính phủ và các bộ

Luật không bất biến

Nhưng khái niệm sở hữu toàn dân đã được nêu trong Hiến pháp. Để thay đổi thì phải sửa Hiến pháp ?

- Luật sinh ra là để phục vụ con người. Luật không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại nữa thì phải sửa

Nếu không sửa được Hiến pháp thì phải giải thích Hiến pháp, ban hành đạo luật cắt nghĩa Hiến pháp

Nếu điều đó khó sửa quá thì đưa ra những công cụ thay thế, cho vào đó những linh hồn mới, rồi lại giải thích theo nghĩa khác. Cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam ngay từ những năm 1988 - 1989 đã xuất hiện khu vực kinh tế tư nhân, nhưng có phải sửa Hiến pháp 1980 ngay đâu. Cho mãi đến 1992 mới sửa Hiến pháp

Ông có thể dẫn chứng một ví dụ về việc chuyển từ sở hữu toàn dân sang sở hữu quốc gia là thế nào ?

- Ví dụ một vị lãnh đạo được nhận quà. Khi xem đó là sở hữu quốc gia thì trong khi đương nhiệm, ông cứ treo món quà đó ở nhà mình. Nhưng khi hết nhiệm kỳ thì phải để lại món quà đó ở phòng lưu niệm. Tương tự với nhà công vụ. Khi tại chức thì ở, khi hết chức là phải trả lại

Khi thảo luận về Luật đất đai sửa đổi, nhiều đại biểu Quốc hội cũng nói “quyền sở hữu toàn dân là một hư quyền” nhưng dường như chúng ta vẫn ngại thay đổi khái niệm này ?

- Luật pháp phản ánh ý chí người cầm quyền, phản ánh nhận thức xã hội và sức ép của người dân lao động, những người mất đất, sức ép của những nhà tư tưởng muốn cải cách đất nước

Nếu dân không hiểu, quan không có trách nhiệm, học giả không nghiên cứu thì không dám sửa

"Minh bạch hóa quy hoạch đất, xác lập công bằng cho nông dân đối với đất nông nghiệp. Nhà nước chỉ thu hồi đất của nông dân vì mục đích công cộng (an ninh quốc phòng, giao thông). Trong tất cả các dự án có tính thương mại khác (chuyển đất nông nghiệp thành đất ở, kinh doanh, xây trường học, bệnh viện) thì chủ đầu tư phải thương lượng để mua lại quyền sử dụng đất của nông dân theo giá thỏa thuận"

LOBBY.VN
09-17-2010, 09:00 PM
Chúng tôi không vận động hành lang mua Tamiflu

Ngày 10/9, 4 công ty dược cung cấp Tamiflu là Cty dược vật tư y tế Phú Yên, Cty Imexpharm, Cty cổ phần dược phẩm (CPDL) Cửu Long và Cty Stada VN đã gửi thông cáo báo chí, cho rằng kết luận của Thanh tra Chính phủ có nhiều điều chưa thỏa đáng

Cả 4 công ty đều khẳng định không hề có chuyện vận động để được tham gia chương trình sản xuất thuốc Oseltamivir mà do chính Bộ Y tế giao trách nhiệm

Các công ty khẳng định không bán nguyên liệu cho Bộ Y tế mà bán thuốc Oseltamivir 75 mg thành phẩm. Giá trần cho mỗi viên thuốc do Bộ Tài Chính và Bộ Y tế quy định là 1,8 USD, các công ty không bán vượt giá trần và cũng không tự ý đưa ra mức giá

Ngoài ra, cả 4 công ty phản ánh số thuốc Tamiflu của mình sản xuất từ năm 2006 vẫn còn tốt, đảm bảo chất lượng nhưng không biết vì lý do nào lại không được gia hạn sử dụng

Trước đó, kết luận của Thanh tra Chính phủ cho rằng: giá mua nguyên liệu của 4 công ty này cao hơn nhiều (từ 17.500 USD - 18.500 USD/kg) so với giá Bộ Y tế đã báo cáo là 12.000 USD/kg

Ngày 8/9, bà Trần Thị Trung Chiến, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế giai đoạn 2002-2007 và là người đã chỉ đạo kế hoạch dự trữ thuốc phòng chống cúm A/H5N1 giai đoạn 2005-2006, đã có công văn phản hồi, không đồng tình với kết luận của Thanh tra Chính phủ

LOBBY.VN
09-17-2010, 09:03 PM
Cộng hòa Congo vận động hành lang để hoãn nợ ?

Trong suốt 5 năm qua, Cộng hòa Congo, một đất nước nhỏ bé và nghèo nhất châu Phi đã chi hàng triệu USD cho một chiến dịch vận động hành lang ở Washington để tìm cách đối phó với những kiện cáo kéo dài liên quan đến các khoản nợ quốc gia và bản thân Tổng thống Denis Sassou-Nguesso

Chiến dịch vận động hành lang của Cộng hòa Congo bắt đầu từ cách nay gần 5 năm. Mục tiêu của chiến dịch là vận động Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cấm các hoạt động đầu tư quỹ trục lợi từ các khoản nợ nần của các quốc gia nghèo, thuật ngữ trong giới đầu tư toàn cầu thường gọi là "quỹ kền kền" (kền kền là loài chim chuyên ăn xác chết, ám chỉ đây là loại quỹ đầu tư trục lợi trên sự phá sản của các nước nghèo)

Các nhà đầu tư phương Tây, nhiều nhất là ở Mỹ, thường trục lợi bằng cách tìm kiếm và mua lại các khoản nợ xấu của các quốc gia nghèo không có khả năng chi trả, nhưng mua với "giá sàn", tức là chỉ phải trả khoản tiền rẻ hơn nhiều so với khoản nợ thực tế. Sau đó, các nhà đầu tư này đâm đơn kiện các quốc gia nghèo để đòi đủ số nợ mà các nước này phải trả

Theo đánh giá của giới chuyên môn về vận động hành lang ở Washington thì trong khu vực châu Phi, Cộng hòa Congo là nước đi đầu trong việc vận động hành lang thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua các chính sách nhằm ngăn chặn tư bản đầu cơ trục lợi trên xương máu người nghèo ở châu Phi. Năm 2008, nước này đã đạt được một thỏa thuận kín với phần lớn các nhà đầu tư "quỹ kền kền". Việc tiếp tục theo đuổi chiến dịch vận động hành lang để thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua dự luật cấm đầu tư "quỹ kền kền" sẽ không chỉ có lợi cho Cộng hòa Congo mà còn cho cả vài quốc gia nghèo khác của châu Phi (như Rwanda, Ethiopia, Sierra Leone,...)

Từ khi phát động chiến dịch đến nay, đội ngũ vận động của Cộng hòa Congo đã có hơn 100 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và trao đổi với các nghị sĩ Quốc hội, các trợ lý của họ và các nhóm ủng hộ châu Phi. Kết quả của những cuộc tiếp xúc này là dự luật cấm đầu tư "quỹ kền kền" đã được soạn thảo và được 33 nghị sĩ đứng ra đồng bảo trợ. Trong đó, bà Hạ nghị sĩ Maxine Waters và các trợ lý đã tiếp xúc nhiều nhất với các nhóm vận động cho Cộng hòa Congo, và là người ủng hộ dự luật này mạnh mẽ nhất

Waters cho biết, bà đã nhận được hồ sơ dự thảo luật từ các nhóm vận động hành lang vào năm 2007 và sau nhiều lần chỉnh sửa, bản dự thảo cuối cùng đã hoàn chỉnh và được giới thiệu trước Hạ viện 2 lần vào các năm 2008 và 2009. Ngoài các nghị sĩ trong Hạ viện, dự luật "quỹ kền kền" còn nhận được sự ủng hộ của một số nhóm hoạt động xã hội ủng hộ châu Phi ở Mỹ.

Tính đến nay, chiến dịch vận động đã tiêu tốn khoảng 9 triệu USD. Theo giới chuyên môn, đây là một số tiền không nhỏ mà một quốc gia nghèo như Cộng hòa Congo chi cho hoạt động vận động hành lang, mặc dù so với các cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia giàu có nó chẳng đáng là bao

Theo một số nhà phân tích, việc Cộng hòa Congo chi bạo cho chiến dịch vận động hành lang hẳn là có lý do, và mục tiêu của vận động hành lang không chỉ là để bảo vệ lợi ích quốc gia. Nói cách khác, trong chiến dịch vận động hành lang của Cộng hòa Congo, lợi ích quốc gia đã dính liền với những quyền lợi cá nhân Tổng thống Sassou-Nguesso

Câu chuyện có lẽ bắt đầu từ chỗ công ty đầu tư "quỹ kền kền" Elliott Management, có trụ sở tại New York, đâm đơn kiện Cộng hòa Congo đòi thanh toán món nợ 100 triệu USD mà công ty này đã mua trên thị trường thứ cấp. Một phiên tòa đã được mở vào năm 2005, và cũng thật kỳ lạ, nó không chỉ là phiên tòa đòi nợ mà đã biến thành phiên "hạch tội" Tổng thống Sassou-Nguesso. Bên nguyên (Công ty Elliott Management cùng với vài tổ chức nhân đạo châu Âu và Mỹ đã lợi dụng phiên tòa để tố cáo việc Tổng thống Sassou-Nguesso có dấu hiệu biển thủ nhiều triệu USD thu nhập từ nguồn lợi dầu hỏa của nước này

Bằng chứng được các tổ chức nhân đạo quốc tế đưa ra là các báo cáo điều tra của Cảnh sát Pháp năm 2007 trong đó cho rằng các bất động sản (gồm biệt thự và các khu điền trang) thuộc quyền sở hữu của Tổng thống Sassou-Nguesso tại khu ngoại ô Paris đã được mua từ tiền biển thủ công quỹ hàng trăm triệu USD cất giấu trong các tài khoản ngân hàng bí mật ở nước ngoài. Bản thân ông Sassou-Nguesso đã thừa nhận các tài sản nêu trên trong một chuyến công du Pháp năm 2009

Tuy nhiên, vụ kiện tụng đòi nợ của Elliott Management đã làm lộ ra một vấn đề nghiêm trọng là việc đầu tư trục lợi trên các khoản nợ có nguy cơ biến các nước nghèo thành con nợ triền miên, có thể lâm vào cảnh phá sản, để lại hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội

Để đối phó với vụ kiện của Elliott Management, năm 2006, Cộng hòa Congo đã mở màn chiến dịch vận động hành lang bằng việc thuê Hãng luật Trout Cacheris ở Washington để giúp dàn xếp một số vấn đề với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và đối phó với các cáo buộc nhằm vào Tổng thống Sassou-Nguesso. Sau đó, Trout Cacheris thuê lại các "nhà thầu con" là Livingston Group (do cựu Chủ tịch Hạ viện Bob Livingston sáng lập và điều hành), Chlopak Leonard, Amani Group (do cựu Hạ nghị sĩ Bill Gray điều hành), và Công ty tư nhân Public Private Solutions. Mỗi đơn vị thầu con giúp một phần việc khác nhau, cùng chung sức vận động giúp Cộng hòa Congo

Các đơn vị này đã tiếp xúc và làm việc chặt chẽ với bà Hạ nghị sĩ Waters cũng như một số nghị sĩ khác để thúc đẩy thông qua dự luật chống đầu tư "quỹ kền kền". Tuy nhiên, dự luận này hiện đang bị "treo" tại Hạ viện Mỹ do những vấn đề liên quan đến Tổng thống Sassou-Nguesso chưa được giải quyết

LOBBY.VN
09-22-2010, 04:55 PM
Doanh nghiệp ngày càng phải chi nhiều tiền lót tay

Tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chi các khoản phi chính thức tại Việt Nam tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm qua

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/480.jpg
Tỷ lệ doanh nghiệp phải chi ngoài tăng gấp đôi trong vòng 3 năm qua

Kết quả này vừa được công bố tại Báo cáo kết quả điều tra doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2009, thực hiện bởi các chuyên gia Đại học Copenhahen (Đan Mạch) và Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM), tiến hành trên 2.543 doanh nghiệp

Theo báo cáo này, vào năm 2007, chỉ có 26% số doanh nghiệp được điều tra cho biết phải chi các khoản “phi chính thức”. Tuy nhiên, đến năm 2009, con số này tăng lên 34%, trong đó, các khoản được gọi thẳng là “hối lộ” dao động trong khoảng 0,4 - 0,7% tổng doanh thu

Các doanh nghiệp chi hối lộ 26,0%(2007) 34,2%(2009)
Chính thức 38,9%(2007) 45,4%(2009)
Phi chính thức 7,5%(2007) 13,7%(2009)


Bên cạnh các khoản chi khó gọi tên (được CIEM gọi là các khoản chi khác, chiếm gần 30% các khoản chi vào năm 2009), phần lớn các doanh nghiệp phải chi phi chính thức để đối phó với các cơ quan thu thuế. Tỷ lệ doanh nghiệp phải chi các khoản này cũng tăng từ 21% lên 27% trong 3 năm qua

Ngoài ra, 20% doanh nghiệp phải chi phi chính thức để có được các dịch vụ công, trong khi 10% phải mở hầu bao để có các điều kiện thuận lợi trong đấu thầu các hợp đồng của Chính phủ

Nghiên cứu trên quy mô, hình thức và địa bàn kinh doanh, các chuyên gia nhận thấy các doanh nghiệp lớn có xác suất chi ngoài cao hơn khoảng 20% so với doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh chi ngoài cao hơn 24% so với doanh nghiệp phi chính thức, và doanh nghiệp tại Hà Nội có tỷ lệ chi ngoài cao hơn hẳn so với mức tương ứng tại TP HCM

Trong kết luận của mình, CIEM chỉ ra rằng tính chính thức và sự gia tăng của xác suất chi ngoài tỷ lệ thuận với nhau. Thực tế cho thấy, trong khi số lượng doanh nghiệp có các khoản chi phi chính thức trong năm 2009 tăng lên so với năm 2007, gần một phần tư số doanh nghiệp không đăng ký chính thức trong năm 2007 đã có giấy phép trong năm 2009

"Đi hối lộ lại là những doanh nghiệp chính thức, chứ không phải là phi chính thức. Các doanh nghiệp phi chính thức không chỉ có lợi từ việc trốn thuế và không phải mất tiền hối lộ. Vậy đâu là lợi ích để trở thành doanh nghiệp chính thức?", Tiến sĩ John Rand, Đại học Copenhagen trăn trở

Trước đó, Ngân hàng Thế giới đã công bố điều tra "Hoạt động kinh doanh" tại Việt Nam năm 2009. VCCI cũng công bố chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh... Tất cả đều khẳng định sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua. Riêng báo cáo của Ngân hàng Thế giới, trong số các rào cản với hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp Việt Nam chỉ xếp việc bị nhũng nhiễu, chi tiền đút lót ở hàng nghiêm trọng thứ 13-14. Trong khi rào cản nghiêm trọng nhất lại là tiếp cận tín dụng, đất đai và lao động có trình độ

"Thực ra không có sự vênh nhau giữa các báo cáo. Mà điều đó cho thấy doanh nghiệp Việt Nam coi hối lộ như một thông lệ làm ăn", Viện phó Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành nói với báo chí

Theo phân tích của ông Thành, doanh nghiệp dễ chi hối lộ khi cân nhắc giữa giời gian chờ đợi với việc mất một chút phí mà được giải quyết nhanh. Tuy nhiên, ông kiến nghị cần sớm loại bỏ tham nhũng khỏi môi trường kinh doanh, bởi về dài hạn nó không chỉ gây tổn thất cho doanh nghiệp mà còn làm méo mó nguồn lực, làm hỏng văn hóa xã hội, văn hóa kinh doanh

“Không một doanh nghiệp nào sẵn sàng và vui vẻ chi những khoản phi chính thức như vậy. Và việc các khoản chi ngoài tăng lên chứng tỏ những phiền hà trong hoạt động kinh doanh đang ngày một lớn”, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh chia sẻ với VnExpress.net

Theo ông Doanh, việc doanh nghiệp bị cản trở nhiều trong hoạt động, thông qua các khoản chi phi chính thức, rõ ràng là một bất lợi đối với Việt Nam trong giai đoạn cần thúc đẩy phục hồi kinh tế hiện nay. Quan điểm này cũng được chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành chia sẻ

“Chi phí quan hệ trong kinh doanh tại Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất thế giới, và điều đó đã làm chùn chân không ít nhà đầu tư nước ngoài đang có ý định kinh doanh tại nước ta. Đây là điều cần sửa nhưng lại rất khó sửa”

Theo giải thích của chuyên gia này, sở dĩ việc giảm chi phí ngoài tại Việt Nam khó, là do nó đã ăn sâu vào rất nhiều vấn đề cốt lõi của nền kinh tế. Và trong khi chờ đợi những chuyển biến mang tính pháp lý, ông Thành cho rằng cách tốt nhất để cải thiện tình trạng này là doanh nghiệp nên tự mình “nói không” với các khoản chi phi chính thức:

“Trong bất cứ hợp đồng thương mại nào của doanh nghiệp Mỹ, khi đầu tư vào Việt Nam đều có điều khoản chống tham nhũng. Theo đó nhân viên nào của họ hối lộ quan chức sở tại đều bị phạt nặng theo quy định. Tôi nghĩ đây là điều mà doanh nghiệp Việt nên học hỏi”, ông Thành khẳng định.

LOBBY.VN
09-28-2010, 06:50 PM
Quốc gia vận động hành lang

Cuốn sách “Bí quyết hóa rồng” là cuốn tự truyện của nhà sáng lập ra quốc gia Singapo Lý Quang Diệu. Cuốn sách ghi lại lịch sử phát triển Singapo từ ngày lập quốc năm 1965, đọc cuốn sách các bạn sẽ có góc nhìn của bậc nguyên thủ về các xử lý quan hệ với thế giới xung quanh. Lobby Vietnam Club muốn đưa ra góc nhìn Lý Quang Diệu là super lobbyist, siêu anh hùng dân tộc, siêu thuyết khách của thế kỷ 20

I. Hoạt động vận động hành lang cấp chính phủ
1. Cơ cấu sắc tộc tại Singapo

Quốc gia Singapo thành lập sau khi tách khỏi liên bang Malaysia năm 1965. Giới tinh hoa lãnh đạo Singapo là thế hệ trẻ được đào tạo bài bản theo nền giáo dục phương tây tại Anh Quốc. Nhiệm vụ lớn nhất của tầng lớp lãnh đạo quốc gia là giải quyết cân bằng lợi ích giữa các sắc tộc, người gốc Hoa chiếm đa số, người Malay, người Ấn độ, người Indonesia…

Singapo ngày mới thành lập là quốc gia nhỏ bé, hòn đảo nhỏ bé, trong con mắt các quốc gia láng giềng khổng lồ như Malaysia, Indonesia, Úc,Trung Quốc… Singapo phải biết nghe lời. Phong trao dân tộc của người Malay tại Malaysia muốn đánh đuổi người Hoa khỏi Singapo, bảo vệ lợi ích người Malay, thậm chí là xâm lược lại Singapo.

Khi nước Anh lên kế hoạch rút quân đội khỏi Singapo, người ta sợ rằng các chuẩn mực luật pháp, giáo dục xã hội mà nước Anh đã xây dựng ở mảnh đất này sẽ biến mất giống như ngày xưa khi đế chế La Mã rút quân những vùng đất thuộc địa lại trở lại thời kỳ không luật pháp, không chính phủ. Chính phủ Indonesia trong giai đoạn 65, 67 phát ngôn rằng sẽ tự cho phép mình điều quân đội đến đề lập lại các giá trị xã hội tại Singapo, can thiệt vào một quốc gia có chủ quyền, không tôn trọng chính phủ được lãnh đạo bởi Lý Quang Diệu

Tất cả các quốc gia Đông Nam Á bên cạnh Singapo đều sợ hãi một Singapo với 70% là người gốc Hoa sẽ trở thành một Trung Quốc cộng sản hải ngoại. Chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc sẽ gây bạo loạn tại Indonesia, Malaysia nếu không được ngăn chặn ngay từ Singapo. Chính phủ Lý Quang Diệu đã phải thực hiện chiến dịch vận động hành lang liên tục, các nước tin rằng Singapo là một gia theo chủ nghĩa tư bản phương tây, thân thiện với các nước xung quanh, cân bằng lợi ích các bên với Singapo.

Lý Quang Diệu xây dựng cơ cấu tổ chức xã hội ở đó cân bằng được lợi ích sắc tộc người Hoa, Người Ấn, người Malaysia, người Indonesia, hành động này giúp Lý Quang Diệu thuyết phục các quốc gia bên cạnh hay đặt niềm tin ở Singapo. Singapo là một quốc gia độc lập của người dân Singapo, hoạt động vì lợi ích người dân không chịu sự chi phối của bất cứ quốc gia lớn mạnh nào, đặc biệt là từ Trung Quốc cộng sản

Lý Quang Diệu đàm phán thành công với quốc gia Do Thái Israel, quân đội Israel là quân đội nước ngoài đầu tiên giúp đỡ đào tạo, cung cấp vũ khí cho quân đội Singapo. Các tổ chức tài chính Do Thái đã giúp xây dựng Singapo trở thành trung tâm tài chính của Châu Á, gia tộc Do Thái Rothschild & Sons Limited…quản lý quỹ đầu tư nhà nước Temasek của Singapo

Lý Quang Diệu xây dựng cơ cấu các thành viên chính phủ, thành viên trong các lực lượng sức mạnh như quân đội, cảnh sát, các tổ chức kinh tế có đầy đủ lơi ích thành phần sắc tộc là nền tảng sức mạnh để Singapo tập trung vào phát triển kinh tế từ đầu thập niên 70


2. Xây dựng đội quân Lobbyist

Singapo là quốc gia không tài nguyên, đất nước thiếu thốn mọi thứ…đến cả nước uống, nước sinh hoạt cũng phải nhập khẩu từ Malaysia. Chính phủ Lý Quang Diệu xác định con người là nguồn tài nguyên duy nhất, lớn nhất của Singapo, muốn phát triển được Singapo phải biết khai thác nguồn tài nguyên này hiệu quả

Tư duy quản trị một quốc gia như quản trị một doanh nghiệp, Lý Quang Diệu xây dựng chính phủ là các chính khách, doanh nhân có trí tuệ, tư duy thực tế để điều hành quốc gia này sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra lợi nhuận

Singapo muốn phát triển thì Singapo phải chơi được với các quốc gia phương Tây, những quốc gia ở rất xa. Anh Quốc, Mỹ, Israel, Đức…là những mục tiêu Singapo phải chơi được

Lý Quang Diệu và ekip của ông đã tuyển chọn những người trẻ tuổi, tài năng trong xã hội đào tạo họ thành đội quân Lobbyist thiện chiến, đi đến mọi ngõ ngách của các nước phương tây mời gọi họ đến Singapo kinh doanh đầu tư

Tình hình chính trị thế giới giai đoạn đó chủ yếu tập trung vào cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Nước Mỹ và đồng minh tham chiến ở Việt Nam để chặn đứng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản lan xuống Đông Nam Á. Lý Quang Diệu hiểu rằng hòn đảo Singapo nhỏ bé phải biết chọn một phe để đi theo, ông đã chọn Mỹ và chủ nghĩa tư bản phương tây

Lý Quang Diệu đã đúng, Singapo công khai ủng hộ Mỹ và công kích chủ nghĩa cộng sản. Một hòn đảo nhỏ bé ở một góc rất nhỏ tại Đông Nam Á trở thành đồng minh quan trọng của chủ nghĩa tư bản, quốc gia này xứng đáng để chủ nghĩa tư bản giúp đỡ để phát triển

Đội quân lobbyist của Singapo với tư tưởng ủng hộ tư bản đó đã được thế giới phương tây đồng ý cho gia nhập thế giới tư bản. Lobbyist Singapo đã giới thiệu về nước họ cho các tập đoàn đa quốc gia, Lý Quang Diệu thực hiện các chuyến bay thuyết khách Anh, Pháp, Mỹ, Đức…thuyết phục các tập đoàn đến Singapo

Super Lobbyist Lý Quang Diệu và đội quân lobbyist do ông đào tạo đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến các tập đoàn đa quốc gia phương tây. Chưa bao giờ các tập đoàn đa quốc gia lại nhận thấy sự thiện chí, nhiệt tình mời gọi làm ăn như thế từ một quốc gia nhỏ bé thuộc thế giới thứ 3. Sự cam kết của người đứng đầu chính phủ Singapo Lý Quang Diệu đã đảm bảo sự thành công khi làm ăn ở đây

Nguồn nhân sự được đào tạo tốt, một chính phủ cởi mở giúp các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu kinh doanh có lãi tại quốc gia này. Lợi nhuận ngày càng lớn, môi trường kinh doanh hấp dẫn tại Singapo vì thế từ đầu những năm 80 thì các doanh nghiệp phương tây tự tìm đến Singapo làm ăn. Singapo trở thành đối tác tin cậy số 1 của các nước phương tây tại Châu Á

15 năm làm việc mệt mài đội quân lobbyist do Lý Quang Diệu đào tạo làm được việc thần kỳ, hình ảnh Singapo từ hòn đảo nhỏ bé, nghèo đói trở thành miền đất hứa, viên ngọc hấp dân nhất trong các mắt các nhà kinh doanh toàn cầu

Singapo đã biết chào bán nguồn tài nguyên lớn nhất của mình đó là con người, tri thức, văn hóa kinh doanh của người dân Singapo

II. Hoạt động vận động hành lang của doanh nghiệp
1. Quốc gia thương mại

Đầu thế kỷ 18 Singapo được một nhà buôn Anh Quốc tìm ra, sau đó các nhà buôn Anh Quốc đã xây dựng đây trở thành cảng trung chuyển hang hóa, chạm dừng chân khi các thuyền buôn từ Ấn Độ Dương sang Trung Quốc và Nhật Bản làm ăn

Ngay từ ngày đầu thành lập hòn đảo này được xác nhận giá trị là một hòn đảo thương mại, hòn đảo tồn tại và phát triển được nhờ vào hoạt động tương tác với thế giới bên ngoài

Lý Quang Diệu và chính phủ của ông xác định biến Singapo trở thành một quốc gia thương mại. Singapo trở thành một phần trong chuỗi phân phối toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Singapo xây dựng hải cảng lớn, kho chứa hàng lớn, hệ thống giao thông hiện đại bậc nhất thế giới, Singapo là địa điểm số 1 để các công ty đặt văn phòng đại diện

Mỗi doanh nghiệp, công dân Singapo đều là các chuyên gia bán hàng, họ phải cung cấp các giá trị thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Môi trường kinh doanh tạo ra con người Singapo phẩm chất hoàn toàn khác với công dân các quốc gia láng riềng

Chính phủ và doanh nghiệp Singapo nắm trong tay quyền lực mềm của nhà buôn, họ làm cho dòng chảy hàng hóa khắp thế giới dễ dàng hơn. Hàng hóa từ nhà sản xuất đến tận tay người tiêu dung với chất lượng tốt nhất, giá thành rẻ nhất. Singapo không sản xuất bất cứ sản phẩm nào nhưng lại có thể cung cấp cho khách hàng bất cứ sản phẩm nào khách hàng yêu cầu với giá trị kinh tế cao nhất

Tại Việt Nam các thông tin thương mại trong nước thường khó cạnh tranh lại với các công thương mại Singapo. Rất ít doanh nghiệp biết rằng chính phủ Singapo đã vận động hành lang chính phủ Việt nam, ký kết hiệp định coi công ty thương mại Singapo như công ty nội địa của Việt Nam. Công ty thương mại Việt nam thường phải mua lại hàng hóa thống qua các công ty trung gian của Singapo, chơi theo luật chơi của các công ty thương mại này

Singapo trở thành quốc gia quan trọng trên bản đồ kinh tế toàn cầu, tất cả các quốc gia lớn, bé trên thế giới đều có lợi ích kinh doanh ở đây. Singapo đã dung hòa lợi ích các vùng ảnh hưởng trên thế giới, có rất nhiều bài học từ quá trình phát triển của Singapo cho các quốc gia có vị trí tương tự, đang nằm trong vùng tranh chấp lợi ích của các nước lớn

2. Tính chủ động của doanh nghiệp trong hoạt động quan hệ toàn cầu

Từ đầu những năm 90 Singapo gia nhập hành ngũ các quốc gia phát triển, thu nhập người dân cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Mô hình kinh tế Singapo và thủ tướng Lý Quang Diệu được nhiều quốc gia Châu Á và thế giới ngưỡng mộ

Thủ tướng Lý Quang Diệu được mời đi diễn thuyết cố vấn ở khắp thế giới, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan coi ông như người bạn lớn, mời ông cố vấn xây dựng một vùng đất nhỏ trong quốc gia họ để thành công như Singapo

Indonesia muốn Singapo giúp phát triển một hòn đảo quy mô lớn hơn Singapo một chút, nằm gần Singapo. Pakistan cũng muốn Singapo giúp phát triển một hoàn đảo khá lớn của quốc gia này nằm trong Ấn Độ Dương trở thành miền đất hứa như Singapo

Triết lý quản trị quốc gia và kinh doanh của Lý Quang Diệu khác hoàn toàn với triết lý quản trị quốc gia của các nguyên thủ quốc gia bạn bè của ông. Với Lý Quang Diệu không phải là thuyết phục thủ tướng hoặc chính phủ Singapo ra lệnh cho doanh nghiệp đến quốc gia đó đầu tư mà các quốc gia đó phải thuyết phục được doanh nghiệp Singapo đến đầu tư. Doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, không có lợi nhuận doanh nghiệp không bao giờ đến

Lý Quan Diệu không thể ra lệnh cho doanh nghiệp Singapo vì nhiệm vụ chính trị các doanh nghiệp Singapo phải giúp những vùng đất trên phát triển như Singapo hiện nay. Vùng đất với những người lãnh đạo thiếu tầm nhìn, thiếu uy tín, nguồn lao đông chưa được đào tạo…không thể một sớm một chiều trở thành một Singapo thứ 2 được

Lý Quang Diệu ngày đầu xây dựng đất nước ông đã đặt nền móng xây dựng các tập đoàn kinh tế Singapo hung mạnh như Singtel, Singapo airline, tập đoàn ngân hàng hoa kiều(OCBC), hãng tàu biển NOL…trở thành những tập đoàn kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á. Tất cả các doanh nghiệp Singapo đều nhận được mệnh lệnh nếu không phát triển được sẽ bị chính phủ dẹp bỏ, chính phủ không có tiền để tài trợ cho các doanh nghiệp làm ăn yếu kém

Lãnh đạo các doanh nghiệp lấy đó làm động lực để xây dựng doanh nghiệp mình thành hùng mạnh. Lý Quang Diệu với câu nói đáng nhớ với công ty Singapo Airline, chính phủ Singapo không cần để một hang hàng không với quốc kỳ Singapo bay đến các sân bay trên thế giới, nếu Singapo airline không kinh doanh có lãi nó sẽ bị xóa sổ

Doanh nghiệp Singapo thể hiện tính chủ động tìm kiếm cơ hội làm ăn ở khắp thế giới, doanh nghiệp Singapo đến Việt nam ngay từ những năm sau khi thống nhất đất nước, họ có mặt ở Myanmar một đất nước gần như đóng cửa với thế giới…và mọi ngóc ngách trên thế giới nơi nào doanh nghiệp Singapo tìm thấy lợi nhuận

Doanh nghiệp Singapo chủ động tìm kiếm đầu tư các mối quan hệ chính quyền tại các quốc gia họ tìm thấy lợi ích. Đầu tư vào cac quan hệ cá nhân, quan hệ hậu trường hiệu quả giúp doanh nghiệp Singapo giành được các hợp đồng chính phủ lớn của các chính phủ các nước Châu Á và nhiều người trên thế giới

III. Quốc gia vận động hành lang
1. Quyền lực quan hệ và tài chính

Ngày nay Singapo được biết đến là trung tâm thương mại và tài chính quan trọng của thế giới, hòn đảo quan trọng nhất ở Châu Á. Năm 1965 quốc tịch Singapo chỉ có giá trị đối với mỗi người dân Singapo, quốc tịch Singapo chưa hề có vị thế trong quan hệ toàn cầu. Giờ đây Singapo là quốc gia giàu có, Singapo ký hiệp định miễn Visa với 132 quốc gia trên thế giới, công dân Singapo có thể đi lại làm ăn dễ dàng không bị các thủ tục hành chính cản trở

Quốc tịch Singapo giờ đây rất có giá, rất nhiều ngôi sao lớn của Trung Quốc, Đài Loan nhập quốc tịch. Chính phủ Singapo còn sử dụng tư cách công dân để thu hút người tài khắp thế giới về Singapo. Tại Việt Nam đã hình thành quỹ đầu tư, mục đích kêu gọi các đại gia Việt Nam bỏ vốn đầu tư vào thị trường bất động sản, chứng khoán Singapo, với một mức đầu tư nhất định thì nhà đầu tư hoặc con cái nhà đầu tư sẽ được nhập quốc tích Singapo. Quy chế 2 quốc tịch vừa được chủ tịch nước thông qua, sẽ có rất nhiều đại gia Việt nam tìm cách có thêm quốc tịch Singapo. Kinh doanh quốc tịch, Singapo vừa thu hút được tài chính, vừa thu hút được người tài về nước mình…đó là quyền lực mềm

Singapo nắm trong tay sức mạnh tài chính, quan hệ, thương mại nguồn tài nguyên này đang mang lại sự thịnh vượng cho người dân và đất nước Singapo

Singapo của hiện tại luôn vận động không ngừng, tìm kiếm sang tạo giá trị mới, tạo giá trị cạnh tranh cao hơn cho đất nước. Singapo đi tìm mô hình để duy trình sự thịnh vượng của Singapo trong tương lai

Singapo duy trình và phát triển các quan hệ tốt đẹp trong quá khứ với các quốc gia phương tây đặc biệt là Mỹ. Singapo mở rộng đầu tư vào các quốc gia tiềm năng, sẽ có vị thế cao trên thế giới trong thế kỷ 21 như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…

Quyền lực và quan hệ xây dựng dựa trên niềm tin của đối tác xung quang về đất nước con người Singapo. Vị thủ tướng và chính phủ của ông suốt 45 năm luôn làm việc hết mình vì lợi ích của các đối tác đến Singapo làm ăn. Chính sách nhất quán, chính phủ quyết tâm tạo dựng môi trường kinh doanh tốt nhất cho mọi đối tác

Dân tộc Singapo xây dựng được hình ảnh tốt đẹp trong con mắt đối tác và nhà đầu tư toàn cầu, tiền và cơ hội sẽ tự tìm đến với Singapo

2. Xây dựng một hệ tư tưởng cho dân tộc phát triển

Một quốc gia được gọi là cường quốc phải hội tụ đủ các yếu tố như quy mô lãnh thổ lớn, quy mô dân số, quy mô nền kinh tế, quy mô hoạt động quân sự.... Singapo gia nhập hàng ngũ các quốc gia phát triển dựa trên tiêu chí thu nhập người dân cao, Singapo chỉ có thể là quốc gia thịnh vượng chứ không thể trở thành một cường quốc

Các nhà lãnh đạo Singapo đã xây dựng chiến lược phát triển cho Singapo trong hiện tại và tương lai. Singapo trở thành quốc gia “Tri thức” nền kinh tế tăng trưởng và tạo ra của cải vật chất cho xã hội dựa trên tri thức

Đầu tư vào giáo dục, công nghệ cao như công nghệ nano, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…những mục tiêu để thế hệ lãnh đạo ngày nay của Singapo phải hoàn thành.

Thế hệ trẻ Singapo vẫn tiếp bước tư tưởng của Lý Quang Diệu, họ vẫn miệt mài đi khắp ngó ngách thế giới tự giới thiệu về đất nước, con người Singapo, họ tìm kiếm cơ hội, lợi ích cho Singapo

Hình ảnh một quốc gia vận động hành lang, quốc gia với các ý tưởng mới, chính sách quản trị quốc gia sáng tạo. Lý Quang Diệu với tư tưởng quản trị quốc gia thành công bắt đầu từ con người, nhà lãnh đạo từ quốc gia khác có thể tìm thấy phương pháp tiếp cận phù hợp đem lại thành công cho đất nước họ lãnh đạo


Lobby Vietnam Club: Trong một bài phỏng vấn Super Lobbyist Lý Quang Diệu từng nói “Nếu có vị trí số 1 ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người thì Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực” Trong tình hình địa chính trị thế giới hiện nay Việt Nam đang vùng tranh chấp ảnh hưởng của các trung tâm quyền lực trên thế giới. Nếu đất nước xây dựng được đội ngũ lobbyist giỏi chúng ta sẽ là nhà đàm phán thành công, mang lại lợi ích to lớn cho dân tộc

Tran Dai Thang
Lobbyist Manager - Lobby Vietnam Club
Mobile: 0122.6699.668
Website: http://lobby.vn/

LOBBY.VN
10-08-2010, 06:54 PM
"Katrina" từ cửa miệng của giới vận động hành lang Mỹ

Hai trăm tỉ USD tái thiết các tiểu bang miền Nam nước Mỹ chịu ảnh hưởng từ bão Katrina là một khoản tiền khổng lồ đang làm"hoa mắt"giới vận động hành lang giúp các công ty dầu mỏ, hàng không, các nhà sản xuất và nhiều ngành khác trên toàn nước Mỹ. Ai cũng muốn có phần...

Katrina là cơ hội biến"ước mơ"thành hiện thực

"Người ta nói về Katrina mọi lúc, và giờ đây là cả Rita", J. Steven Hart - Chủ tịch Công ty Williams & Jensen PLLC, một công ty vận động hành lang hàng đầu tại Washington D.C phát biểu."Ngoài vấn đề Toà án tối cao, giờ đây Quốc Hội đang hướng sự chú ý đặc biệt tới công cuộc tái thiết sau bão và chúng tôi không còn cách nào khác hơn là phải nhảy vào cuộc"

Theo một số nguồn tin từ Quốc hội, các nghị sĩ Mỹ đang tỏ ra khá"dễ dãi"trước những lời đề nghị. Ví dụ, Chủ tịch Uỷ ban Thương mại và Năng lượng Hạ viện Joe Barton, bang Texas tuần này sẽ trình bày một dự thảo luật dỡ bỏ các quy định để giúp công ty dầu mỏ xây dựng nhà máy lọc dầu mới. Đa số quy tắc trong dự luật do các nhà vận động hành lang đề xuất. Lý do là: hai cơn bão Katrina và Rita đã làm cho mọi người chú ý tới sự phụ thuộc của nước Mỹ vào các nhà máy lọc dầu dọc vùng Vịnh Mexico

Cũng như rất nhiều người khác, các nhà vận động hành lang dầu mỏ đang sử dụng hai cơn bão này làm cớ để thúc đẩy Quốc hội thông qua đạo luật mà họ từ lâu mong đợi, ngay cả khi các kế hoạch của họ chỉ hơi"dính dáng"một chút tới hai cơn bão

Hồi đầu tuần này, các nhóm vận động chẳng mấy liên quan tới bão lũ từ Viện Kiến trúc Mỹ và Viện Dầu lửa Mỹ lại đưa ra các yêu cầu giảm thuế và đòi thêm nhiều ưu đãi từ phía chính phủ

Ngành hàng không vốn đã gặp nhiều khó khăn nay bỗng hoạt động đặc biệt"tích cực"trên mặt trận bão lũ. Công ty Hàng không Delta và Công ty Hàng không Tây Bắc đang tìm cách vận động để Quốc hội đưa điều khoản giảm nghĩa vụ trợ cấp hưu trí vào đạo luật của ngành trong năm nay. Ngay từ trước khi bão Katrina tràn về, các công ty hàng không đã yêu cầu thay đổi điều khoản trên, và họ cũng nói với các nghị sĩ rằng việc tăng giá nhiên liệu sau bão Katrina làm họ rất cần trợ cấp."Katrina đã tạo ra tình cảnh khẩn thiết", một phát ngôn viên của công ty Delta nói."Nhưng cho tới nay, đề xuất của chúng tôi vẫn chưa được xem xét"

Hiệp hội vận tải hàng không, tổ chức thương mại của các hãng hàng không cũng đang cố gắng vận động Quốc hội thay đổi một số quy định hiện hành trong tình cảnh bão Katrina gây ra quá nhiều thiệt hại. Trước mắt, tổ chức này muốn Quốc hội hoãn đánh thuế nhiên liệu máy bay trong vòng 1 năm (hiện ở mức 4,3 cent/gallon). Nếu vậy, chính phủ sẽ mất 600 triệu USD

Không riêng gì các nhà sản xuất dầu, và điều hành hàng không, các công ty bảo hiểm cũng lợi dụng Katrina để thúc đẩy Quốc hội chấp nhận nới thời hạn cho Đạo luật Tái bảo hiểm khủng bố (TRIA), vốn từ lâu là mối quan tâm của họ. Đạo luật này đòi chính phủ phải chi trả một phần thiệt hại gây ra do cuộc tấn công khủng bố nước ngoài. Để chứng minh mối liên hệ giữa bão Katrina và đạo luật này, Carl M. Parks, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm thiệt hại tài sản Mỹ còn ghép Katrina và Tria thành từ"KA-TRIA"

"Tôm - tép lẫn lộn"

Các bệnh viện hoạt động vì lợi nhuận trên khắp nước Mỹ cũng đang cố gắng thuyết phục Quốc hội miễn cho họ đạo luật đã được áp dụng từ nhiều thập kỷ nay: chỉ các bệnh viện phi lợi nhuận mới đủ điều kiện được nhận trợ cấp của Cơ quan Đối phó khẩn cấp để xây dựng lại các cơ sở vật chất xuống cấp sau một thảm hoạ tự nhiên."Bão không phá hoại các bệnh viện căn cứ vào hình thức sở hữu của chúng", Richard Coorsh, phát ngôn viên Liên đoàn bệnh viện Mỹ - tổ chức đại diện cho các bệnh viện do nhà đầu tư sở hữu

Ngoài ra, nhiều ngành khác cũng tỏ ra khá thận trọng khi hướng các đề xuất của họ nhằm vào người dân và cơ sở kinh doanh ở vùng Vịnh. Hội Doanh nghiệp du lịch, một liên minh của các tổng giám đốc khách sạn, chủ nhà hàng và công ty du lịch hiện đang vận động để các đề xuất về trợ cấp, giảm thuế và giảm nợ của họ, tất cả đều dành cho vùng bị bão được thông qua."Chúng tôi sẽ không thể khoanh tay ngồi nhìn", Charles L. Merin, trưởng đại diện của hội tại Washington phát biểu

Nông dân, ngay cả những người không nằm trong vùng bão cũng xin chính phủ trợ cấp tiền cứu đói."Cần phải hiểu rằng hậu quả kinh tế của bão Katrina gây nhiều thiệt hại tới nền nông nghiệp Mỹ hơn là với các nhà sản xuất ở 3 bang miền nam", Bob Stallman, Chủ tịch Hội nông trang Mỹ viết trong một bức thư gửi Quốc hội."Khi các uỷ ban Phân bổ ngân sách Thượng viện và Hạ viện chuẩn bị giải quyết thảm hoạ này, chúng tôi yêu cầu các ngài phải trợ giúp khẩn cấp cho các nông dân và chủ trang trại"

Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động hành lang hiện nay đều vì mục đích lợi nhuận. Một số nhằm mục đích"phòng vệ", tức là cố gắng ngăn chặn những thay đổi có thể xảy ra do hậu quả cơn bão như tăng thuế. Ngành dầu khí thì lưu ý các nghị sĩ rằng kiểm soát giá không phải là một ý kiến hay. Một hiệp hội xây dựng đường cao tốc đang yêu cầu các nghị sĩ không dùng biện pháp giảm thuế xăng để giúp người tiêu dùng. Lý do là: doanh thu từ thuế xăng thấp hơn có thể làm giảm các quý tín thác của liên bang vốn được sử dụng để xây đựng cầu, đường

Đề xuất chỉ là đề xuất

Mặc dù các nhà vận động hành lang đưa ra khá nhiều yêu cầu, song họ có thể sẽ không được đáp ứng hoàn toàn."Tình hình chung có chiều hướng diễn biến như sau: chi tiêu sẽ tăng và giảm thuế, đặc biệt với những nơi bị ảnh hưởng bởi Katrina. Không một đảng nào muốn bị coi là"bàng quan", một chuyên gia thuộc Nhóm nghiên cứu Washington Stanford phát biểu

Khá nhiều yêu cầu của giới vận động hành lang liên quan tới những điều luật mà Quốc hội phản đối từ nhiều năm lại được nêu ra nhưng núp dưới vỏ bọc Katrina. John M. Engler, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia đã kêu gọi dựng dàn khoan dầu và khí trên thềm lục địa bên ngoài vùng Vịnh, coi đó là cách để tăng cung

Trước đây, đề xuất này bị bác bỏ vì nó gây nguy hại cho môi trường và hiện vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, giờ đây, Jack N. Gerard, Chủ tịch Hội đồng hoá học Mỹ lại nhìn thấy hy vọng."Thảm hoạ đáng tiếc ở New Orleans đã làm cho mục tiêu còn dang dở của chúng tôi thêm rõ nét"

Huyền Trang

LOBBY.VN
10-11-2010, 09:14 PM
Các chính trị gia Mỹ đã vận động hành lang
cho giới tội phạm kinh tế nước ngoài


Cựu GĐ FBI William Sessions trước đây đã từng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ lũng đoạn của mafia Nga tại Mỹ, đồng thời tuyên bố: “Chúng tôi có đủ khả năng chiến thắng giới tội phạm có tổ chức”. Nhưng hiện giờ, chính Sessions lại đang bận rộn để chạy chọt cho một nhân vật đang nằm trong danh sách “Những tội phạm đặc biệt nguy hiểm” của FBI.

Công dân Nga Semen Mogilevich, kẻ theo đánh giá của FBI, đang là một trong những trùm tội phạm thế lực nhất của Nga. Hoạt động nhân danh Mogilevich, Sessions đang cố gắng ký kết được một thỏa thuận ngoài tòa án với Bộ Tư pháp Mỹ.

Vấn đề là Mogilevich đang bị buộc tội gian lận thương mại, đồng thời còn là một nhân vật chủ chốt trong một vụ điều tra khác của Bộ Tư pháp Mỹ về một số thương vụ mờ ám trong lĩnh vực năng lượng giữa Nga và Ukraina.

William Sessions chỉ là một trong nhiều quan chức vận động hành lang (lobby) hàng đầu của Washington đang nhận những khoản tiền hậu hĩnh để bảo vệ quyền lợi cho những khách hàng từng “có tì vết” từ các nước thuộc Liên Xô cũ.

Dịch vụ lobby hạng sang tại Washington từ lâu đã không còn xa lạ với những khách hàng nước ngoài cần tới bất cứ một nhu cầu đặc biệt nào. Như Jack Abramoff - bị kết án vì tội gian lận và hối lộ năm 2006 - từng đại diện cho quyền lợi của các khách hàng từ Pakistan và Nga.

Ngay cả cựu Tổng thống Charles Taylor của Liberia (đang chuẩn bị phải ra tòa với tư cách tội phạm chiến tranh) cũng từng phải nhờ tới dịch vụ của chuyên gia lobby này.

Những năm gần đây đã ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng số lượng các cựu quan chức quốc gia và nhà tài phiệt từ Nga đang tìm kiếm những “bạn bè mới” tại Washington.

Nhiều nhân vật trong số này đang dần nắm giữ những vai trò quan trọng trong thị trường kinh tế thế giới, do đang nắm trong tay quyền kiểm soát nhiều nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên phong phú tại khu vực lục địa Á - Âu. Đó là lý do khiến những nhà tài phiệt này đã không tiếc tiền của để thuê mướn những chuyên gia lobby có ảnh hưởng hàng đầu ở Washington nhằm bảo vệ cho quyền lợi kinh doanh của mình tại Mỹ.

Có thể dễ dàng đưa ra vài minh chứng cho xu hướng này. Chẳng hạn như với khoản thù lao hậu hĩnh 560 ngàn USD, Bob Doyle (cựu thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện và là ứng cử viên tranh cử tổng thống của phe Cộng hòa hồi năm 1996) đã giúp đỡ một nhà tỉ phú người Nga nhận được hộ chiếu vào kinh doanh tại Mỹ. Nhân vật này đã bị các đối thủ cạnh tranh buộc tội có dính dáng tới các âm mưu hối lộ.

Còn Tập đoàn Alpha Group của Nga đã trả cho hãng lobby có ảnh hưởng tại Mỹ là Barbour Griffith & Rogers khoản tiền tới 2 triệu USD trong một thương vụ giành quyền kiểm soát một tập đoàn viễn thông khác. Một ông chủ của hãng lobby này chính là Haley Barbour, Thống đốc của bang Mississipi.

Chính vì những tài sản có nguồn gốc mờ ám của những ông chủ giàu có ở Nga, các khoản tiền thù lao được họ trả cho giới lobby cũng được che giấu bằng mọi cách sao cho kín đáo nhất. Như hồi năm 2005, chính trị gia Yuri Boiko từ Ukraina để trả công cho một chuyên gia lobby đã sắp xếp cho ông ta được gặp gỡ với giới lãnh đạo đảng Cộng hòa, đã thanh toán qua tiền chuyển khoản từ công ty ma Annex Holdings, được lập ra chỉ để làm bình phong.

Chính Boiko hiện đang bị Bộ Tư pháp Mỹ nghi ngờ và điều tra vì có liên quan đến một khách hàng mafia khác của Sessions. Với những mục đích trên, danh sách các công ty ma kiểu trên có thể lần ra không phải là ít.

Vào năm 2004, một công ty của Anh có tên Foruper Ltd. (không hề có vốn cũng như cả nhân viên) đã chi trả một khoản tiền 820 ngàn USD cho Hãng Barbour Griffith. Điều tra cho thấy, Foruper là con đẻ của một luật sư chuyên trách tổ chức việc đàm phán về cung cấp khí gas thiên nhiên, hiện cũng đang là đối tượng điều tra của người Mỹ.

Theo giải thích của Barbour Griffith, số tiền này là để trả công cho “việc vận động cho mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực tài chính giữa Đông Âu và phương Tây”. Trong giai đoạn 2002-2003, Barbour Griffith cũng nhận được tổng cộng tới 320 ngàn USD từ một tổ chức có tên “Friends of Ukraine” nhờ những dịch vụ tương tự như trên.

Theo luật pháp Mỹ, những công dân nước này khi đảm bảo các dịch vụ cho khách hàng nước ngoài trong lĩnh vực lobby hay quan hệ cộng đồng (PR) cần phải đăng ký và có báo cáo chi tiết cho các cơ quan liên bang có thẩm quyền. Tuy nhiên, nội dung những báo cáo này thường chỉ mang tính mập mờ và chiếu lệ.

Chẳng hạn như Bob Doyle khi báo lên thượng viện về việc hợp tác của mình với nhà tỉ phú Nga Oleg Deripaska, chỉ nói rằng, dịch vụ này “có liên quan tới chính sách về hộ chiếu và hoàn tất các thủ tục của Bộ Ngoại giao Mỹ”. Deripaska (được mệnh danh là ông vua nhôm tại Nga) từ lâu đã bị dính dáng tới nhiều vụ kiện tại tòa án.

Các đối thủ cạnh tranh đã nộp đơn kiện lên nhiều tòa án tại Mỹ và Anh, buộc tội trùm tài phiệt này dính líu tới nhiều âm mưu hối lộ, dọa dẫm, thậm chí còn tổ chức đánh dằn mặt nhiều người khác. Chính vì những lý do này mà Bộ Ngoại giao Mỹ từ nhiều năm qua đã từ chối cung cấp hộ chiếu cho Deripaska vào Mỹ.

Năm 2003, Deripaska đã trả một khoản tiền hào phóng 300 ngàn USD cho Hãng luật Alston & Bird của Bob Doyle. Kể từ thời điểm đó, ông Doyle đã rất tích cực thuyết phục Chính phủ Mỹ rằng, khách hàng của ông ta không phải là một tội phạm và công việc làm ăn cũng hoàn toàn trong sạch. Kết quả là đến năm 2005, Bộ Ngoại giao Mỹ đã thay đổi quan điểm với Deripaska và đồng ý cấp thị thực nhập cảnh cho ông ta.

Sau sự kiện này, Bob Doyle và công ty của ông ta nhận được thêm một khoản tiền thưởng 260 ngàn USD nữa

LOBBY.VN
10-11-2010, 09:35 PM
Lobby & Bàn tay vô hình trên chính trường

Nếu như trong kinh tế có thuyết “Bàn tay vô hình" của Adam Smith, thì trong chính trường, vị Tổng thống thứ 4 của Mỹ năm 1809 James Madison, một trong những người thành lập quốc gia giàu có nhất thế giới này, là người phổ biến một thuyết “bàn tay vô hình" khác mang đậm màu sắc chính trị. Đó là nghề Lobby, hay còn gọi là Vận động hành lang

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Không phải ngẫu nhiên mà trong lĩnh vực chính trị, ngay cả những nước thân thiện với Mỹ và có văn hóa gần gũi với Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Australia cũng phải cần chuyên gia lobby để vận động thường xuyên với chính khách Mỹ. Ở châu Á cũng vậy, các nước đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có đội lobby hùng hậu ở Mỹ. Thậm chí từng có bài báo được đăng tải trên BBC đã kết luận rằng: "Làm ăn với Mỹ phải biết lobby, vì đó là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài"

Chính trường như thương trường

Trong suy nghĩ của nhiều người, lobby là chuyện đi đêm, hối lộ, phi pháp…, nhưng một số người khác thì cho rằng lobby là nghệ thuật trong kinh doanh hoặc vĩ mô hơn, đó là sách lược quốc gia. Nói đơn giản hơn, lobby là một hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định

Ở Mỹ, lobby không chỉ là nghề hợp pháp mà thậm chí còn được ghi trong Hiến pháp. Vì vậy, ở Washington, người ta đã quá quen thuộc với hình ảnh vào giờ ăn trưa và ăn tối, những nhóm người đạo mạo trong bộ vest xám, tay xách cặp, đổ về những địa điểm nổi tiếng ở quanh tòa nhà Quốc hội. Ở những nơi này, người ta có cả những phòng riêng thường ngày dành cho những cuộc họp "gây quỹ". Những người ngoài cuộc khó có thể biết điều gì đang diễn ra sau những vuông cửa kính mờ

Tổng thống thứ tư của Mỹ James Madison là người phổ biến thuyết "bàn tay vô hình" trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, chính trường cũng như thương trường. Nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, vì nhà nước có đủ thông tin để biết và cung cấp được những cái dân cần. Từ đó, vai trò của những người vận động hành lang được xem là cần thiết như vai trò của người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới... trong thương trường. Người lobby ở Mỹ có thể đại diện cho bất cứ cá nhân, tập thể chính trị, xã hội, kinh tế nào, kể cả những cá nhân, tập thể chính phủ nước ngoài, chỉ cần họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ

Hiện có hơn 22.000 nhóm lợi ích và khoảng 50.000 người đăng ký chính thức hành nghề lobby tại Mỹ. Phần lớn những người lobby là các quan chức, luật sư, chuyên viên từng làm việc ở Quốc hội, trong đó có nhiều cựu Bộ trưởng, tướng lĩnh, dân biểu, thượng nghị sĩ… Vì vậy mà ông Paul Miller, Chủ tịch Liên đoàn các nhà vận động hành lang Mỹ, mới tự hào khoe: "Không có chúng tôi, tôi không biết có điều luật nào được thông qua ở Mỹ hay không"

Sự lợi hại của đồng tiền lobby

Thực vậy, một ví dụ điển hình của lobby chính trị từ nước khác vào Mỹ là năm 1994, khi Tổng thống Clinton trao Quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho Trung Quốc, đồng thời tuyên bố từ nay không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét MFN cho Trung Quốc hàng năm

Số là đầu thập niên 1990, thời điểm Trung Quốc bắt đầu nổi lên tại châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ tỏ ra lo ngại trước "mối đe doạ từ Trung Quốc". Trong quan hệ với Trung Quốc, Mỹ thường xuyên dùng chiêu "nhân quyền" để gây sức ép về thương mại, cụ thể là đe doạ miễn áp dụng quy chế MFN. Thời hạn áp dụng MFN chỉ trong vòng 1 năm, nên cứ sau 12 tháng, Quốc hội Mỹ lại sẽ bỏ phiếu để quyết định xem có tiếp tục trao MFN cho các nước hay không. Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống, điều này không những gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc khi muốn vào thị trường Mỹ, mà đặc biệt cản trở các tập đoàn lớn của Mỹ khi muốn làm ăn tại Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu lobby của Trung Quốc tại thời điểm này là "làm sao gây ảnh hưởng để Trung Quốc được hưởng MFN tại cuộc bỏ phiếu hàng năm ở Quốc hội" và trước tiên "tập trung nhằm thuyết phục Quốc hội và chính quyền Mỹ tách vấn đề nhân quyền khỏi việc áp dụng MFN"

Chẳng phải ngẫu nhiên khi cùng lúc các lãnh đạo Boeing công khai lên tiếng yêu cầu chính quyền Mỹ tiếp tục dành cho Trung Quốc quy chế MFN (Tờ Wall Street Journal trước đó đã đưa tin hãng Boeing đang sắp hoàn tất hợp đồng bán máy bay chở khách trị giá khoảng 5 tỉ USD cho Trung Quốc), còn Chủ tịch Hạ viện Tom Foley công khai "đối đầu" với các thành viên đảng Dân chủ tại Nhà Trắng khi tuyên bố rằng Tổng thống "không nên gắn vấn đề nhân quyền với thương mại". Thực chất, Hạ nghị sĩ Foley đại diện cho vùng Spokane, bang Washington - quê hương của hãng Boeing. Với sự vận động hành lang tích cực ở Mỹ như vậy, Trung Quốc đã giành được quy chế MFN năm 1994 với lời đảm bảo của Tổng thống Clinton "sẽ không gắn vấn đề nhân quyền với việc xét quy chế MFN cho Trung Quốc hàng năm"

Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn

Ngày 20/4/2010, dàn khoan dầu Deepwater Horizon của hãng BP (Anh) bỗng phát nổ ở Mỹ, làm 11 công nhân tử nạn và 3 người bị thương nặng, đồng thời gây thiệt hại môi trường nghiêm trọng hơn hẳn vụ tràn 11 triệu gallon dầu từ tàu Exxon Valdez năm 1989. Chỉ tính riêng chi phí khắc phục sự cố, BP đã tốn đến 930 triệu USD

Một trong những bằng chứng cho thấy sự "dễ dãi" của Mỹ khi tập báo cáo phản ứng khẩn cấp dày cộp 583 trang mà BP soạn theo yêu cầu Luật liên bang Hoa Kỳ gần như không bàn đến cách làm thế nào chặn đứng một vụ tràn dầu ở độ sâu. Mỉa mai thay, báo cáo xử lý tình huống khẩn cấp của BP lại có không ít phần đề cập đến sự cần thiết bảo vệ hải sư, rái cá biển trong khi những động vật này không hề có mặt ở vùng vịnh Mexico. Tất cả cho thấy báo cáo của BP dường như chỉ được thực hiện chiếu lệ, theo yêu cầu Luật liên bang Hoa Kỳ, chứ không là bản kế hoạch tác chiến thật sự nhằm xử lý hậu quả một khi xảy ra sự cố...

Theo Newsweek, BP đã sử dụng chiêu vận động hành lang để Mỹ bớt săm soi hoạt động kinh doanh của họ. Với tài ngoại giao và quen biết rộng của Tổng giám đốc điều hành BP Tony Hayward, hãng dầu lớn thứ tư thế giới này đang cố làm sao 15,9 triệu USD mà họ chi cho các chiến dịch lobby đạt hiệu quả. Một trong những nỗ lực của Hayward là làm dịu bớt sự nghiêm khắc của những điều luật mới liên quan phòng chống ô nhiễm dầu ban hành năm 2009. Theo CBS News, kết quả "nhẹ nhàng" này còn nhờ vào khoản chi lobby từ 2 năm trước khi xảy ra vụ Deepwater Horizon. BP đã thuê 12 công ty lobby và chi ra 32 triệu USD để gây ảnh hưởng tốt cho kinh doanh của họ tại Quốc hội, Nhà Trắng và ít nhất 14 cơ quan liên bang

Từ một vài câu chuyện điển hình trên, có thể thấy rằng các mối quan hệ, những vụ mua bán lớn ở Mỹ, kể cả vấn đề dính líu đến chính trị đều không thể thiếu hoạt động lobby - "bàn tay vô hình" thực sự trên chính trường

Minh Minh (http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=10331 )

LOBBY.VN
10-25-2010, 11:50 PM
Google chi đậm cho hoạt động vận động hành lang

Chỉ tính trong quý 3 năm 2010, Google đã mạnh dạn mở hầu bao để chi 1,2 triệu USD cho công tác vận động hành lang. Con số thể hiện mức tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái

Không hổ danh là đại gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Google luôn bạo dạn chi tiền so với các đối thủ khác

Cụ thể, những cố gắng vận động hành lang và gây dựng niềm tin nơi chính phủ của gã khổng lồ Google vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Cụ thể, trong quý 3 năm 2010, Google đã chi 1,2 triệu USD cho việc “lobby” so với con số 1,08 triệu USD cùng kỳ năm ngoái. Cứ đà này, dự tính Google sẽ chi khoảng 5 triệu USD trong năm nay khi mà Facebook mới chỉ nhân đôi chi phí của mình từ 60 nghìn thành 120 nghìn USD trong quý 3 này

Không chỉ vậy, chỉ trong 3 quý đầu năm 2010, gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm cũng đang gần “bắt kịp” con số ngân sách của cả năm 2009 (3,92 triệu USD so với 4,03 triệu USD năm 2009). Bởi vậy, theo dự tính của các chuyên gia, Google sẽ chi khoảng 5 triệu USD cho các công tác vận động hành lang

Tuy nhiên, nếu xét riêng trong năm 2010, khoản ngân sách này đang có dấu hiệu giảm dần. Trong quý 1 năm 2010, Google chi 1,38 triệu USD và con số tương ứng của quý II là 1,34 triệu USD. Mặc dù vậy, theo như bản thông báo từ Consumer Watchdog (một tổ chức về tiêu dùng), số tiền này của Google vẫn vượt trội hơn rất nhiều so với các tên tuổi khác như Apple (340.000 USD) và Facebook. “Kẻ” duy nhất vượt mặt Google không ai khác chính là Microsoft với việc bỏ ra khoảng 1,63 triệu USD trong quý 3

Chiến lược “lobby” chủ yếu của Google trong quý 3 vừa qua bao gồm: các hoạt động liên quan đến nhập cư, quy định quảng cáo trực tuyến như vi phạm bản quyền, vấn đề về cạnh tranh, cải cách quyền sáng chế, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, điện toán đám mây, các loại năng lượng có thể làm mới, lưới điều khiển thông minh…

Một lĩnh vực khác mà Google tập trung nguồn lực chính là “Sự cởi mở và cạnh tranh trong thị trường dịch vụ trực tuyến”, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến vụ thôn tín trị giá 700 triệu USD của công ty phần mềm du lịch ITA. Có nguồn tin cho rằng, vụ việc này đang được điều tra bởi các nhà chức trách có thẩm quyền tại Mỹ

Bên cạnh Google, một cái tên nổi tiếng khác là Facebook cũng tăng gấp đôi khoản tiền dành cho các công việc vận động hành lang (từ 60.000 USD trong quý 2 lên 120.000 USD trong quý 3). Tuy nhiên, số tiền này vẫn ít hơn cùng kỳ năm ngoái (khoảng 121.000 USD)

Khác với Google, Facebook tập trung vào những quy định toàn cầu về các công ty phần mềm và giới hạn trong việc truy cập internet bởi các chính phủ nước ngoài, vấn đề về an toàn trên mạng, bản quyền…

thoidaianhhung
10-28-2010, 08:03 AM
Lobby & Doanh nghiệp Việt chỉ biết… hầu kiện

Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, phàn nàn, các doanh nghiệp, hiệp hội hội nhập quốc tế quá… “ngoan”, rất ít sử dụng công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước

Nguyên nhân, theo ông Huỳnh là do thiếu đủ thứ: tính liên kết vì lợi ích chung, tiền, kinh nghiệm, thông tin, trợ giúp pháp lý… Bởi vậy, thay vì chủ động khiến kiện khi bị xâm hại lợi ích, doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết… hầu kiện từ các đối tác nước ngoài.

50% lơ mơ về quyền khởi kiện

Tại hội thảo “dạy” gần 100 doanh nghiệp chuyên sản xuất trong nước của Hà Nội cách khởi kiện, ông Huỳnh giải thích các biện pháp phòng vệ thương mại là công cụ duy nhất doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm bảo vệ hàng hóa nội địa mà không trái với quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Quyền quyết định cuối cùng thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu

Tuy nhiên, một khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cho thấy, 66% doanh nghiệp không hiểu hoặc hiểu sơ sài nội dung cơ bản của các hiệp định trong khuôn khổ WTO. Tỷ lệ hiểu về cam kết gia nhập WTO liên quan tới ngành mình có khả quan hơn song 81,48% không biết gì về diễn biến đàm phán của Việt Nam đang tiếp tục thực hiện trong khuôn khổ WTO…

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, ông Cao Sĩ Kiêm thừa nhận trong 17.000 thành viên, khoảng 50% có hiểu “lơ mơ” về quyền khởi kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ. Hơn 10% thành viên đã phản ánh hàng hóa nước ngoài bán phá giá vào Việt Nam song thông tin chưa rõ ràng, mang nặng đánh giá theo cảm tính bên ngoài, chưa tham vấn luật sư... Do đó Hiệp hội mới “hỗ trợ” bằng động tác chuyển kiến nghị của doanh nghiệp tới các cơ quan chức năng

Cơ quan quản lý phải hỗ trợ doanh nghiệp

Rút kinh nghiệm từ vụ kiện duy nhất (một số nhà sản xuất kính Việt Nam đề nghị áp dụng biện pháp tự vệ đối kính nổi nhập khẩu) thất bại khá sớm, ông Huỳnh đề nghị Chính phủ cần quy định cơ chế các cơ quan quản lý phải cung cấp những loại thông tin nào để hỗ trợ doanh nghiệp, hiệp hội thu thập chứng cứ khởi kiện. Chuẩn bị tiến tới thành lập những hội chuyên về nhập khẩu, xuất khẩu để bảo vệ quyền lợi hội viên chặt chẽ hơn và tránh mâu thuẫn quyền lợi giữa nhiều thành viên trong một hội. Đồng thời đưa một số luật sư ra nước ngoài đào tạo về lĩnh vực tự vệ thương mại. Quan trọng nhất, các doanh nghiệp cùng lợi ích và hiệp hội cần chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý để chuẩn bị tốt nhất cho việc khởi kiện

Ngày 30/7, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) và dự án hỗ trợ thương mại đa biên sẽ tổ chức hội thảo tương tự tại TP HCM. Phó cục trưởng Đỗ Bá Phú mong muốn vào đầu hoặc cuối hằng năm sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề với doanh nghiệp, hiệp hội nhằm tổng kết kinh nghiệm, bàn bạc những biện pháp khởi kiện hữu hiệu nhất đối với những ngành hàng nằm trong “tầm ngắm”. Trước mắt, Cục quản lý cạnh tranh sẽ phối hợp với Công ty CP cao su Sao Vàng thu thập thông tin một số nhà nhập khẩu đặt mua lốp ô tô Thái Lan, Trung Quốc chất lượng kém, khai man thuế nên giá bán tại Việt Nam rất rẻ.

Vận động hành lang để kiện

Doanh nghiệp sản xuất nội địa phải hiểu được cơ chế các vụ kiện phòng vệ thương mại, phối hợp với nhau trong một hiệp hội trước khi đệ đơn kiện nhằm thu thập đủ chứng cứ, thỏa mãn tư cách khởi kiện. Thuê luật sư thương mại chuyên nghiệp tư vấn pháp lý trong suốt quá trình khởi kiện. Chuẩn bị chiến lược vận động “hành lang” phù hợp nhằm chống lại áp lực lớn từ các nhà sản xuất nước ngoài. (Tư vấn của chuyên gia Liên minh châu Âu và Hãng luật Baker&McKenzia)

LOBBY.VN
10-31-2010, 04:33 PM
Việt Nam chọn Nhật Bản làm đối tác khai thác đất hiếm

- Trong cuộc hội đàm song phương sáng nay tại Hà Nội (31/10), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo với Thủ tướng Naoto Kan việc Việt Nam quyết định chọn Nhật Bản làm đối tác hợp tác trong phát triển ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam


Thông tin do Thủ tướng cho hay tại cuộc họp báo ngay sau hội đàm với ông Naoto Kan

Thủ tướng Nhật Bản thực hiện chuyến thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi kết thúc các hoạt động tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN 17 và các Cấp cao liên quan tại Hà Nội

Cùng với việc chọn Nhật Bản làm đối tác thăm dò, khai thác, chế biến đất hiếm, Việt Nam cũng quyết định chọn Nhật Bản là đối tác hợp tác và giúp Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân số 2

“Ngài Thủ tướng Naoto Kan đã khẳng định với tôi Chính phủ Nhật Bản sẽ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Việt Nam về xây dựng nhà máy điện hạt nhân số 2 này”, Thủ tướng nói

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images2060488_gui_chi_Xuan_Linh.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Naoto Kan ký kết Tuyên bố chung

Thủ tướng Naoto Kan đánh giá cao việc Việt Nam lựa chọn Nhật Bản làm đối tác hợp tác trong hai dự án lớn nói trên, coi quyết định này thể hiện quyết tâm cùng Nhật Bản thúc đẩy phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước

“Quyết định trên đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới, phát triển lâu dài, mở ra một trang mới trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước”, ông nói với báo chí

Hai Thủ tướng cũng đã ký Tuyên bố chung về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á

Người đứng đầu hai chính phủ nhất trí cao về tầm quan trọng của việc tiếp tục duy trì trao đổi các chuyến thăm cấp cao hàng năm, tăng cường đối thoại ở tất cả các cấp, làm sâu sắc hơn và mở rộng nội dung hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa và giao lưu nhân dân

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho hay về hợp tác phát triển ODA, ngoài những dự án lớn, quan trọng mà hai bên đã thỏa thuận từ trước, trong cuộc hội đàm, hai Thủ tướng đã khẳng định lại hợp tác, trong đó có dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, cảng Lạch Huyện - Hải Phòng và một số dự án khác Nhật Bản sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam

Ngoài ra, Thủ tướng Naoto Kan khẳng định Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét nghiêm túc và nhanh chóng việc hỗ trợ Việt Nam triển khai thực hiện dự án sân bay quốc tế Long Thành, dự án đường cao tốc đoạn Ninh Bình - Bãi Vọt, đường cao tốc Nha Trang - Phan Thiết, các tuyến đường tàu điện ngầm mới của Hà Nội và TP.HCM...

Thủ tướng Nhật Bản cho biết hai bên cũng nhất trí tăng cường đối thoại chính tri, hợp tác an ninh, kinh tế...

“Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ, cần cù, có tiềm năng lớn để tăng trưởng kinh tế. Nhật Bản có phương tiện, kỹ thuật tiên tiến cao và có nguồn vốn đầu tư phong phú. Tôi cho rằng quan hệ Nhật - Việt là mối quan hệ bổ sung cho nhau. Phát triển quan hệ giữa hai nước sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên. Nhật Bản sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực....”

Trước khi rời Hà Nội kết thúc chuyến thăm chính thức Việt Nam, trưa nay, Thủ tướng Naoto Kan và đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Nhật Bản đến chào xã giao Tổng bí thư Nông Đức Mạnh

LOBBY.VN
11-01-2010, 06:11 PM
Vận động hành lang thôn tính Sabeco ?

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/images559863_biasaigon.jpg

Trong khi trách nhiệm của Tổng giám đốc Sabeco Nguyễn Quang Minh vẫn đang “treo” lơ lửng với rất nhiều sai phạm, dư luận lại tiếp tục đồn đoán về một cuộc vận động nhằm thôn tính Tcty bia rượu vào loại lớn nhất nước này

Tổng giám đốc liên tục “qua mặt” HĐQT

Như chúng tôi đã có bài phản ánh, cho đến thời điểm này, những thông tin về sai phạm của ông Nguyễn Quang Minh trong việc mua lon nhôm 333 vẫn chưa được “giải mật” do những động thái khó hiểu của Bộ Công Thương. Tuy nhiên, càng bưng bít thì “cái kim trong bọc” càng trở nên nhức nhối. Sự mất đoàn kết giữa ban lãnh đạo Sabeco đã được cảnh báo từ lâu. Cách đây hai năm, nó đã nghiêm trọng đến mức Ban cán sự Đảng Bộ Công Thương phải lập Tổ kiểm tra xác minh. Ngày 06/02/2009, Tổ kiểm tra có báo cáo số 07 – QĐ/BCS do ông Nguyễn Văn Thi – Chánh Thanh tra Bộ Công Thương ký, chỉ rõ nhiều hành vi gây mất đoàn kết của ông Tổng giám đốc

Theo báo cáo của Tổ kiểm tra: Về việc ký kết hợp đồng mua nguyên liệu đầu vào như Malt, Houblon vào thời điểm tháng 6/2007 đến tháng 02/2008 của Sabeco, Tổng giám đốc Tcty thực hiện có điểm chưa đúng với nghị quyết của HĐQT. Biểu hiện cụ thể: Tổng giám đốc đã ký mua Houblon dài hạn (từ 3- 5 năm) chứ không phải từng năm như nghị quyết của HĐQT. Cũng theo báo cáo này, ông Nguyễn Quang Minh còn tiếp tục “qua mặt” HĐQT trong việc ký hợp đồng mua phụ tùng cải tạo các máy Kronnes (Hợp đồng số 01/Sabeco – Kronnes/2008 với tổng số tiền là 644.473 EUR)

Ông Bùi Xuân Khu, thời điểm ấy đang là Thứ trưởng thường trực Bộ Công Thương đã kết luận về “trách nhiệm của đồng chí Tổng giám đốc”: Một số nghị quyết của HĐQT chấp hành chưa nghiêm túc, chưa phối hợp để xây dựng quy chế điều hành quản lý. Dù Bộ đã giao cho Vụ Tổ chức cán bộ giúp đỡ, phối hợp xây dựng vẫn không thực hiện. Trong việc ký các hợp đồng kinh tế, có vài hợp đồng chưa tôn trọng nghị quyết, chưa khôn ngoan và trách nhiệm trong các điều khoản của hợp đồng, chưa lắng nghe ý kiến góp ý của các đơn vị thành viên, dẫn đến thiệt hại và gây bất lợi cho doanh nghiệp”.

Có hay không “âm mưu” thôn tính Sabeco ?

Một trong những nguyên nhân khiến Sabeco bất ổn là việc Tổng giám đốc Nguyễn Quang Minh đòi được quyền là người đại diện theo pháp luật tại Sabeco thay Chủ tịch HĐQT. Điều lạ là mong muốn của ông Nguyễn Quang Minh có sự trùng khớp với quan điểm của ông Ian Mc Neilage - một thành viên HĐQT Sabeco - đại diện cho nhà đầu tư chiến lược của một hãng bia nước ngoài với 5% cổ phiếu (và 5% cổ phiếu của các cổ đông độc lập khác). Ông Ian Mc Neilage đã viết cho Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng một bức thư dài 4.000 từ, không đề ngày. Nội dung thư, ông Ian Mc Neilage đề cập đến nhiều vấn đề của Sabeco, trong đó có câu chuyện “đại diện theo pháp luật”. Ông này cho rằng: Tổng giám đốc phải là đại diện theo pháp luật

Báo cáo Thủ tướng trước 15/10

Trong thời gian cách nhau chưa đến 1 năm, Bộ Công Thương đã ban hành 2 kết luận thanh tra về Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) về cùng một nội dung nhưng do 2 Thứ trưởng ký lại có kết luận theo 2 hướng khác nhau, khiến dư luận băn khoăn và đặt nhiều câu hỏi.
Liên quan đến vấn đề nói trên, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn (Công văn số 7015, 7016/VPCP-TH) yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công Thương kiểm tra sự việc trên, nếu đúng phải có biện pháp xử lý trả lời trước công luận, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/10/2010.

Trong thư, ông Ian Mc Neilage cũng tiết lộ với Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Tổng giám đốc Sabeco đã đề xuất đưa tất cả hoạt động đầu tư trong lĩnh vực bia vào một công ty để có thể tập trung quản lý tốt hơn. “Việc này sẽ bao gồm việc mua lại các cổ đông nhỏ trong các công ty con nếu được. Tôi giả định là có nhiều lý do khác để tin rằng dự án này nên có các cổ đông bên ngoài và mong muốn quý Bộ điều tra lý do và các yếu tố cho quyết định này” – thư viết.
Quan điểm của ông Ian Mc Neilage rất đáng chú ý trong bối cảnh đang có thông tin về một cuộc vận động hành lang của một lãnh đạo chủ chốt ở Sabeco và một số Việt kiều cùng một số người khác để các nhà chức trách bán tiếp 20% trong tổng số gần 90% mà Nhà nước đang sở hữu ở Sabeco(?)

Nếu điều này xẩy ra, chắc hẳn các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mà ông Ian Mc Neilage là đại diện đã nắm 5% cổ phiếu sẽ được mua với số lượng lớn. Trong trường hợp nhà đầu tư chiến lược này nắm giữ được 21% cổ phiếu thì mọi quyết định của HĐQT Sabeco buộc phải được sự đồng ý của cổ đông này. Cần lưu ý, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mà ông Ian Mc Neilage đại diện là một hãng bia nổi tiếng đã vào thị trường Việt Nam nhiều năm nay. Mặc dù có tiềm lực tài chính khổng lồ, đầu tư nhiều vào tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi nhưng thị phần của hãng bia này vẫn hết sức nhỏ bé nếu so với thị phần của Sabeco (năm 2009 Sabeco chiếm 35% sản lượng bia cả nước)

LOBBY.VN
11-06-2010, 12:30 PM
Super Lobbyist Việt Nam
Thuyết khách & ngoại giao du kích

Nếu cụm từ “chiến thuật ngoại giao du kích” mà Greg Torode dùng là quá “đắt” với những gì diễn ra tại ADMM+8, thì có vẻ lại hơi “phiến diện” khi đánh giá về những gì mà Việt Nam đã làm được trong năm ASEAN 2010

Thuyết khách Việt và vấn đề Myanmar

Ngay từ cuối năm ngoái, giới quan sát đã cho rằng thách thức đầu tiên mà ASEAN phải đối mặt trong năm 2010 là câu chuyện bầu cử ở Myanmar. Bởi, nếu cuộc bầu cử diễn ra không đúng theo kế hoạch, hoặc thiếu dân chủ và công bằng trên cơ sở có sự hoà giải giữa các đảng phái, sự gắn kết nội khối sẽ bị tác động lớn

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia hàng đầu về Đông Nam Á và Biển Đông, còn cho rằng câu chuyện bầu cử Myanmar còn thách thức cả vai trò trung tâm của ASEAN trong các thể chế mở mà khối này đang muốn khẳng định, nhất là trong quan hệ với Mỹ và Liên minh châu Âu

Dự đoán này đã được thực tế chứng minh là hoàn toàn chính xác

Trước thềm các cấp cao tháng 4 và tháng 10, các đại diện của Indonesia, quốc gia đang nổi lên với tư cách một cường quốc bậc trung nhờ quá trình dân chủ hoá từ cách đây 3-4 năm, hay Philippines, đất nước có thể chế chính trị được xây dựng theo kiểu Mỹ với vai trò nổi bật của quốc hội trong quá trình phê chuẩn các quyết sách đối nội và đối ngoại, đã lên tiếng gây sức ép ngày càng mạnh mẽ về vấn đề này với Chủ tịch ASEAN

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/21082010p10.jpg

Còn tại cấp cao Mỹ - ASEAN lần thứ hai, cuộc bầu cử ở Myanmar là một trong những nội dung chính của chương trình nghị sự


Chủ tịch ASEAN đã khéo léo dàn xếp để vấn đề Myanmar được đề cập theo cách chấp nhận được với tất cả, kể cả với Myanmar. (Còn nhớ, chính quyền quân sự ở Myanmar đã từng doạ tẩy chay ASEM 5 tại Hà Nội cách đây 6 năm trước sức ép của châu Âu về dân chủ - nhân quyền, dẫn đến nguy cơ để cứu ASEM 5, khối các nước châu Á và nước chủ nhà Việt Nam phải chịu “lép vế”)

Các tuyên bố của Chủ tịch ASEAN đều “nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoà giải dân tộc ở Myanmar và việc tổ chức tổng tuyển cử một cách tự do, bình đẳng, và có sự tham gia của các đảng phái”, thay vì nêu đích danh nhân vật bất đồng chính kiến Aung San Suu Kyi, như đòi hỏi trước đó của Indonesia, hay Philippines. Một nội dung tương tự cũng được đưa ra trong tuyên bố chung của Cấp cao Mỹ - ASEAN, diễn ra vào cuối tháng 9 tại New York

Trong câu chuyện này, không thể không tính tới vai trò của ngoại giao chính trị, từ một góc độ khác, để những nước như Indonesia, Philippines, và đặc biệt là Mỹ, chấp nhận sự “hạ tông” trong các tuyên bố. Cũng như thật không công bằng nếu không kể đến sự hỗ trợ, tuy có thể “ngoài ý muốn”, của Trung Quốc

Ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á trong luận thuyết “trỗi dậy hoà bình”, đã khiến Mỹ phải thay đổi cách tiếp cận đối với những áp đặt về dân chủ - nhân quyền ở khu vực đang bị tranh chấp ảnh hưởng này

Người Mỹ, theo cách nói của Thượng nghị sĩ Jim Webb - nhà chiến lược đối ngoại được coi là có ảnh hưởng lớn đến chính quyền của Tổng thống Barrack Obama - đã chịu lắng nghe quan điểm của các nhà lãnh đạo ĐNA, bởi “mỗi nước ĐNA có lịch sử riêng của mình, và lịch sử riêng trong quan hệ với Mỹ”

Nhưng, đối với câu chuyện “dân chủ hoá” ở Myanmar, nền ngoại giao Việt Nam hoàn toàn có thể khẳng định rằng họ đã đi đúng hướng, khi vạch ra chiến lược ngoại giao kinh tế

Myanmar và câu chuyện ngoại giao kinh tế

Năm 2004, để có một giải pháp thoả hiệp liên quan tới việc kết nạp Myanmar vào ASEM, ông Võ Văn Kiệt, đặc phái viên của Thủ tướng lúc đó, đã phải sang thuyết phục Myanmar chấp nhận cử đại diện sang tham dự ASEM ở cấp bộ trưởng, thay vì cấp nguyên thủ. Gần 6 năm sau, đích thân Thủ tướng Việt Nam đã sang thăm chính thức nước này, ngay trước thềm Cấp cao ASEAN 16

Lần này, đại diện của chính phủ Việt Nam đã không chỉ trổ tài thuyết khách. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã mang theo một đoàn doanh nghiệp hùng hậu với những cái tên như BIDV, Petro Vietnam, Vietnam Airlines, Viettel, hay Hoang Anh Gia Lai

Không thể so sánh với quốc gia có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, Việt Nam đã không chọn cái cách “cho bạc cho vàng”, mà lại “chỉ cái đàng làm ăn” cho Myanmar, thông qua sự hợp tác giữa doanh nghiệp hai phía

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/1-ASEAn-lad.jpg

Thoả thuận hợp tác trong 12 lĩnh vực quan trọng đối với nền kinh tế Myanmar, được nêu trong Tuyên bố chung, đã mở ra cho quốc gia thuộc loại chậm phát triển nhất Đông Nam Á và hiện đang bị cô lập này cơ hội bước vào “cải cách kinh tế”, làm tiền đề cho “cải cách chính trị” như mục tiêu xây dựng cộng đồng ASEAN - điều mà gần hai thập kỷ rưỡi trước đây Việt Nam đã làm


Đó là kết quả của chuyến khảo sát Myanmar trước đó của hầu hết các doanh nghiệp này. Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà đã “lĩnh ấn tiên phong” từ chính tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - vị Tổng tư lệnh ASEAN - 2010

Đặc biệt, thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực viễn thông với vai trò đầu tàu của Tập đoàn Viễn thông Quân đội, được kỳ vọng thúc đẩy qua trình dân chủ hoá ở Myanmar, khi các giai tầng trong xã hội có cơ hội tham gia vào quá trình ra những quyết sách ảnh hưởng tới cuộc sống của họ. Việt Nam, từ kinh nghiệm của bản thân, hiểu rất rõ điều này

Cách tiếp cận thực tế và linh hoạt của Việt Nam, theo đúng tinh thần “Hướng tới cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động”, và dưới góc độ chia sẻ “trải nghiệm bị cô lập”, cũng như “kinh nghiệm trong hội nhập”, đã tạo dựng được niềm tin ở giới lãnh đạo Myanmar. Họ hiểu những tuyên bố của Chủ tịch ASEAN xuất phát từ thiện ý

“Chiến thuật ngoại giao du kích” hay “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh”?

Greg Torode của tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng, trong bài viết “Việt Nam làm hồi sinh chiến thuật du kích” ngay sau hội nghị ADMM+8, đã hết lời ca ngợi các nhà quân sự Việt Nam trong việc khiến Thượng tướng Lương Quang Liệt đã “trở tay không kịp”, khi gần một nửa trưởng đoàn tham dự đã đồng loạt “phát pháo” về vấn đề tranh Biển Đông, vốn không có trong nghị trình

Ký giả Greg Torode còn nhắc lại rằng, trớ trêu thay, chính cẩm nang về “chiến thuật du kích” đã được bí mật đưa vào Việt Nam qua đường biên giới phía Bắc vào những năm ‘40 của thế kỷ trước. Có điều, thời gian ở Hà Nội quá ít, khiến ký giả này không gặp được nhà sử học Văn Tạo, người đã có hẳn một công trình nghiên cứu về quá trình du nhập chiến thuật này từ Trung Quốc vào Việt Nam, để có thêm những chi tiết cụ thể và chính xác hơn cho bài báo vốn đã khá hay của ông

Chẳng hạn, chính Đại tướng huyền thoại Nguyễn Chí Thanh, người cha quá cố của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh (nhân vật được coi là đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện sự hồi sinh này), đã được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu “Vị tướng du kích”, sau những thành công ở “Bình Trị Thiên khói lửa” cuối những năm ‘40


Một ví dụ tiêu biểu cho việc thể hiện kỹ năng ngoại giao nhuần nhuyễn của Việt Nam, là sự phối hợp “có lớp có lang” trong các tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Vụ trưởng Vụ Thông tin - Báo chí (Bộ Ngoại giao) Nguyễn Phương Nga

Ngày 8.10.2010, ngay trước thềm ADMM+, trước thông tin trên một số báo chí nước ngoài cho rằng Nga muốn quay trở lại Cam Ranh, khiến cho vấn đề tranh chấp Biển Đông bị lệch theo hướng khác, bà Phương Nga đã khẳng định “Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không hợp tác với nước ngoài để sử dụng Cam Ranh vào mục đích quân sự và sẽ khai thác tiềm năng của khu vực Cam Ranh phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Ba tuần sau (30.10.2010), trong cuộc họp báo kết thúc Cấp cao ASEAN 17 và các Cấp cao liên quan, người đứng đầu chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định tuyên bố của người phát ngôn đối ngoại của ông, trước khi cung cấp thêm một thông tin mới, được coi là có liên quan đến chuyến thăm sắp diễn ra của Tổng thống Nga Medvedev

Ông Nguyễn Tấn Dũng tiết lộ rằng Việt Nam sẽ xem xét ký hợp đồng thuê doanh nghiệp có khả năng, trình độ cao, có kinh nghiệm chuyên ngành của Nga làm tư vấn xây dựng trung tâm cảng dịch vụ tổng hợp này, sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho tàu hải quân của tất cả các nước (tất nhiên là bao gồm cả Nga), kể cả tàu ngầm


Hay chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứ không phải các cố vấn Trung Quốc (Greg Torode dùng từ “smuggled” với hàm ý này) là người đã đưa chiến thuật chiến tranh du kích vào Việt Nam, từ những kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia cuộc nội chiến Quốc - Cộng ở Trung Quốc vào những năm ‘30

Tuy nhiên, nếu cụm từ “chiến thuật ngoại giao du kích” mà Greg Torode dùng là quá “đắt” với những gì diễn ra tại ADMM+8, thì có vẻ lại hơi “phiến diện” khi đánh giá về những gì mà Việt Nam đã làm được để đảm bảo đạt được những mục tiêu đề ra trong năm ASEAN 2010, cũng như cuộc marathon với cái đích là “giải pháp toàn diện cho tranh chấp Biển Đông”

Theo, quan điểm riêng của người viết, cụm từ “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” có lẽ phù hợp hơn

Theo nhà ngoại giao kỳ cựu Vũ Khoan, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ dù còn một cơ hội nhỏ nhất, ông vẫn cố gắng tối đa để giữ hoà bình cho dân tộc. Tất nhiên, trên cơ sở một bất biến là đảm bảo độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Còn khi bắt buộc phải tiến hành chiến tranh, Hồ Chí Minh đã tranh thủ sự ủng hộ tối đa của những người yêu chuộng hoà bình và chính nghĩa trên toàn thế giới

Còn Tiến sĩ Nguyễn Vũ Tùng, một chuyên gia hàng đầu về quan hệ ASEAN - Mỹ của Học viện Ngoại giao, trong một bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, đã phân tích tư tưởng này dưới góc nhìn của quan hệ giữa nước nhỏ và nước lớn. Theo Tiến sĩ Tùng, mức độ “nín nhịn” để giữ hoà hiếu có thể được giảm đi thông qua các giải pháp như “mở rộng quan hệ với các nước thứ ba để tạo thêm thế và lực cho nước nhỏ trong quan hệ với nước lớn, và tham gia các cơ chế đa phương để tạo thêm ràng buộc hành vi và trách nhiệm của nước lớn đối với nước nhỏ”

Những gì Việt Nam cùng với ASEAN đã làm trong năm 2010 đã chứng tỏ cách hiểu về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của hai nhà ngoại giao, một già một trẻ, nói trên là hoàn toàn có cơ sở

Việc mời tám quốc gia bên ngoài khu vực, trong đó có Mỹ, Trung Quốc Nga, hay Ấn Độ, vào cơ chế ADMM+, như một sự bổ sung quan trọng cho những khiếm khuyết của cơ chế Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF) là một ví dụ. Việc mời Nga và Mỹ tham gia thượng đỉnh Đông Á, và biến diễn đàn này thành một cơ chế chủ yếu giải quyết các tranh chấp ở Đông Á, bao gồm cả khu vực Đông Nam Á, là một ví dụ khác, quan trọng hơn

Song song với việc tạo lập, hoặc mở rộng, các cơ chế nói trên, việc củng cố các mối quan hệ song phương với các nước thứ ba cũng được Việt Nam đặc biệt chú trọng

Chẳng hạn, người Nga cũng đã quay trở lại Việt Nam với một hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân, và một thoả thuận dành cho doanh nghiệp Nga khôi phục lại quân cảng Cam Ranh thành một căn cứ hậu cần quốc tế cho cả thương thuyền lẫn pháo hạm

Hay, khi sang Việt Nam dự Cấp cao Đông Á mở rộng, ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton đã nói rằng cách đây 10 năm, bà đã không thể hình dung được quan hệ Mỹ - Việt lại phát triển đến mức đáng kinh ngạc như thế này

Tàu chiến Mỹ ra vào Biển Đông, khi thì viếng thăm, khi thì vào để sửa chữa. Mặc dù kinh tế vẫn chưa phục hồi sau khủng hoảng, nhiều tập đoàn công ty hàng đầu của Mỹ vẫn đến Việt Nam tìm cơ hội đầu tư. Và Mỹ vẫn đang cố thuyết phục Việt Nam tham gia hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong khi từ chối đề nghị của một số nước khác

Một người bạn của Tiến sĩ Nguyễn Vũ Tùng là Giáo sư người Thuỵ Điển Ramses Amer, đã từng cảnh báo rằng “Việt Nam cần tránh sự đụng độ giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông, bởi trâu bò đánh nhau - ruồi muỗi chết”

Có lẽ những lời phát biểu rất mềm dẻo của ngoại trưởng Clinton đối với Trung Quốc trước khi qua dự Cấp cao Đông Á, đã khiến không chỉ vị Giáo sư Thuỵ Điển này yên tâm hơn. Bởi nước chủ nhà Việt Nam đã được tôn trọng, và người Mỹ không muốn làm cho họ bị khó xử

Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, trưởng đoàn Việt Nam trong đối thoại Việt - Mỹ về ngoại giao - quốc phòng -an ninh, đã hoàn toàn có lý khi nói rằng “không có lĩnh vực gì mà Việt Nam và Mỹ lại không thể thảo luận để tìm giải pháp được”

Có lẽ, riêng trong quan hệ với khu vực này, người Mỹ cuối cùng đã rút ra được “bài học Việt Nam”. Họ hiểu rằng “nền ngoại giao pháo hạm” không phải là giải pháp duy nhất để tạo ảnh hưởng

Người ta chờ đợi Trung Quốc sẽ tiếp thu bài học này ra sao

Huỳnh Phan

LOBBY.VN
11-13-2010, 06:59 AM
Buôn gì lãi nhất ?

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/richsalepng.jpg

Lã Bất Vi thời xưa, học được cách làm giàu qua người bố: "Thưa cha, buôn gì lãi nhất?" - "Buôn vua!". Lã Bất Vi thời nay không học bố mà học ở trường đời

“Phi thương bất phú”! Nhưng thương gì, thương như thế nào để mau phú? Đó là câu hỏi thường trực của doanh nhân mọi thời đại

Lã Bất Vi thời xưa, học được cách làm giàu qua người bố: "Thưa cha, buôn gì lãi nhất?" - "Buôn vua!". Lã Bất Vi thời nay không học bố mà học ở trường đời. Bố thì có một mà trường đời thì vô cùng; nên thời nay gần như nơi nào cũng có Lã Bất Vi, chả như thời Chiến Quốc, chỉ mỗi nhà Đại Tần có được một Lã Bất Vi, đã là ghê gớm lắm

Phương tiện buôn của Lã thời nào cũng giống nhau ở chỗ không chỉ dùng tiền mà còn dùng gái, dùng ngay chính vợ yêu của mình! Nhưng thời nay còn có những Lã sẵn sàng bỏ người tình để cưới vợ bé bất hợp pháp của vua - một kiểu Lê Lai liều mình cứu chúa, nhưng mang nội dung hoàn toàn hiện đại! Hiệu quả của phương tiện này thật khôn lường, vì nó trói vua suốt cả cuộc đời trong trách nhiệm của kẻ đỡ đầu, không thể dứt ra được. Quả là cách buôn thông minh nhất và cũng thật hời nhất

Cách thức buôn của Lã thời nay khác xưa lắm lắm. Ngay đến Thuyết buôn vua cũng chỉ là con buôn của thế kỷ trước, của thời Năm Cam; chứ chưa thật sự... "đổi mới" như Lã thời hiện đại

Tuy là một con người có tầm nhìn rất xa, nhưng Lã ngày xưa chỉ tập trung nuôi một Dị Nhân, công tử nước Tần thời đang bị làm con tin ở nước Triệu - như thế là... xoàng! Lã thời đại @ nuôi cùng một lúc hàng đống công tử mới - không phải là những con tin, mà là những người mấp mé trong quy hoạch. Cũng không chỉ nuôi một công tử nhà Tần, mà nuôi tất cả, bất chấp người đó thuộc Tần, Sở hay Triệu! Nghĩa là phải đa dạng hóa sản phẩm, phải quảng canh chứ không độc canh. Như vậy việc buôn mới thật sự chắc ăn, chắc ăn tới cả trăm phần trăm

Xưa Lã buôn vua chỉ nhằm kiếm lời thông qua mối quan hệ đặc biệt với vua, tức là một kiểu thu lợi nhuận gián tiếp - như thế cũng là... xoàng! Buôn vua để chính mình trở thành vua mới thật cao tay! Khi chính mình đã trở thành vua rồi, thì món hàng cũ rất dễ bị ném vào sọt rác và chính Lã lại biến thành hàng hóa cho các con buôn khác; nhưng để không bị sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy, Lã áp dụng chính sách hợp tác cùng có lợi, thực chất là lợi dụng nhau để thu lợi nhuận. Và điều đó chỉ Lã thời hiện đại này mới làm nổi

Thời bao cấp, thành phố quê hương tôi đã từng có hai nhân vật được dân gian đặt tên là "vua Đê", "chúa Tịnh" cùng một số khác được phong ông hoàng như "hoàng Tập", "hoàng Quynh", "hoàng Túy" - cũng là những tay từ nghiệp buôn vua, trở thành một thứ vua chúa không ngai nổi tiếng lừng lẫy một thời, nhưng những "ông hoàng" này so với các vua không ngai thời nay thì làm nô tỳ cũng không đến lượt

"Ra ngõ gặp Lã Bất Vi!" - Điều đó rồi đây rất có thể trở thành hiện thực, nếu như xã hội không có cách phát hiện và ngăn chặn chúng ngay từ bây giờ! Các bạn thử quan sát chung quanh mà xem

Trần Huy Thuận (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-12-buon-gi-lai-nhat-)

LOBBY.VN
11-17-2010, 07:09 PM
Những người giàu sắp rời Thụy Sĩ ?

- Có nhiều nguy cơ xảy ra làn sóng người giàu rời Thụy Sĩ và nước này sẽ trở thành điểm đến đầu tư kém phần hấp dẫn.

Theo giới quan sát, lời cảnh báo trên là có căn cứ nếu Chính phủ Thụy Sỹ thực thi kế hoạch đánh thuế tối thiểu vào thu nhập và tài sản, khiến những người giàu sẽ chuyển đến sống ở những nơi "rẻ hơn" và các công ty hàng đầu "lảng tránh" đầu tư vào đây

Ngày 28/11, Thụy Sỹ sẽ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về kế hoạch mà Đảng Dân chủ Xã hội (SP) đề xuất về việc đánh thuế tối thiểu 22% đối với các khoản thu nhập trên 250.000 franc (254.000 USD) và 5% đối với những tài sản có trị giá trên 2 triệu franc. Một nhóm vận động hành lang chống lại kế hoạch này cho rằng đây là kế hoạch sẽ gây thiệt hại cho Thụy Sỹ. Theo họ, nếu bị đánh thuế vào sự giàu có của mình, ông ta sẽ ít đầu tư vào công ty hơn, tác động đến việc làm và chi phối đến quyết định của ông ta trong việc có đặt trụ sở công ty ở Thụy Sỹ nữa hay không

Lo lắng khả năng các cử tri sẽ ủng hộ kế hoạch trên trong các cuộc trưng cầu dân ý, các doanh nghiệp hàng đầu đã cảnh báo họ có thể rời Thụy Sỹ. Tỷ phú Alfred Schindler, Chủ tịch công ty thang máy mang tên ông, nói ông không muốn rời bỏ đất nước Thụy Sỹ. Tuy nhiên, mức thuế mà ông phải đóng có thể lên tới trên 70% là một sự tước đoạt khó chấp nhận. Các triệu phú khác như người sáng lập tập đoàn giao dịch hàng hóa Glencore, Marc Rich và nhà vô địch tennis Roger Federer, cũng đang quan tâm theo dõi diễn biến trưng cầu dân ý

Thụy Sỹ là nơi tập trung đông nhất các triệu phú ở châu Âu. Đất nước này từng thu hút nhiều triệu phú, trong đó có ngôi sao nhạc pop Tina Turner và vận động viên đua xe Công thức 1 Michael Schumacher, với các mức thuế đặc biệt ưu đãi. Các bang của nước này đã đưa ra các mức thuế thấp đối với các cá nhân và doanh nghiệp, nhằm thu hút các công ty nước ngoài. Đảng Dân chủ Xã hội nói kế hoạch trên sẽ chỉ tác động đến 1% người đóng thuế Thụy Sỹ

Nghị sỹ SP Margret Kiener Nellen cho rằng cử tri Thụy Sỹ sẽ thể hiện sự phẫn nộ về mức lương trong các doanh nghiệp và tiền thưởng ở các ngân hàng lớn trong cuộc trưng cầu dân ý. Bà không cho rằng Schindler sẽ rời khỏi Thụy Sỹ, vì nếu muốn chuyển tới Monaco, thì ông đã có thể làm như vậy cách đây nhiều năm

LOBBY.VN
11-18-2010, 03:38 PM
Ông Thaksin thuê công ty lobby

- Thủ tướng bị phế truất của Thái Lan Thaksin Shinawatra vừa thuê công ty luật "hạng sang" của Mỹ Baker Botts để giúp ông vận động hành lang (lobby)

Các chính trị gia đối lập với ông Thakisn tỏ ra e ngại với thông tin trên và nghi ngờ ông chưa từ bỏ chính trị như đã hứa. Nhân vật cao cấp thuộc đảng Dân chủ Kobsak Sabhavasu cho rằng ông Thaksin muốn tìm sự hậu thuẫn của Mỹ để quay trở lại Thái Lan

Được biết một trong những nhân vật chủ chốt của công ty Baker Botts là ông James Baker, (cựu) Ngoại trưởng dưới thời Tổng thống Bush "cha". Tuy nhiên đại sứ Mỹ tại Thái Lan Ralph Boyce nói tất cả mọi người đều có quyền thuê công ty lobby và hành động của ông Thaksin không làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Bangkok và Washington

Những ngày này, ông Thaksin đang đi nghỉ mát trên đảo Bali của Indonesia

LOBBY.VN
11-18-2010, 03:48 PM
Doanh nghiệp nên tận dụng 'quyền lực mềm'

- Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cà phê Trung Nguyên cho rằng, cần có cái nhìn mới xung quanh việc phát triển thương hiệu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp Việt muốn vươn ra thế giới cần tận dụng các quyền lực mềm

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/11046_400.jpg
Ông Đặng Lê Nguyên Vũ

Có nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh xây dựng thương hiệu mạnh cho sản phẩm, doanh nghiệp cần biết tận dụng các lợi thế để lấn sang sân chơi toàn cầu. Ông có ý kiến gì ?

Theo tôi, trong bối cảnh này Việt Nam nên coi phát triển kinh tế làm trung tâm của mọi trung tâm. Tôi từng có cuộc trao đổi với GS Joseph Nye, cha đẻ của học thuyết Quyền lực mềm nổi tiếng thế giới và ông tán thành quan điểm Việt Nam phải nắm bằng được cờ nhân văn để tụ lực thế giới

Việt Nam với thế mạnh về nông nghiệp hoàn toàn có thể tuyên bố lo được một phần đáng kể an ninh lương thực cho thế giới. Nhưng ở đây đòi hỏi phải có một chiến lược toàn diện cho vấn đề nông nghiệp, phải nâng giá trị nông nghiệp toàn chuỗi. Làm được việc này, thế giới phải cần Việt Nam. Đó là điểm thứ nhất

Điểm nữa, Việt Nam hoàn toàn có thể đi tiên phong trong khắc phục biến đổi khí hậu bằng mô hình phát triển bền vững. Hai chương trình này cực kỳ nhân văn trong bối cảnh hiện nay. Nếu Việt Nam làm được như vậy, đó chính là quyền lực mềm. Khi mới nêu vấn đề này ra, nhiều người cho là tôi ở trên mây. Nhưng ngay Joseph Nye cũng cho rằng, đây chính là quyền lực mềm của Việt Nam

Phát triển các thương hiệu hàng đầu của quốc gia để tạo đà cho doanh nghiệp vươn ra quốc tế có được coi là một dạng của quyền lực mềm?
Tôi tán đồng quan điểm này. Ở đây phải nhận thức rõ, doanh nghiệp có vị thế toàn cầu thì doanh nghiệp phải là trung tâm của cái gì đó hay là một mắt xích quan trọng trong chuỗi nào đó

Doanh nghiệp Việt Nam chưa vươn ra toàn cầu có phải vì thiếu khát vọng, thiếu liên kết ?

Tôi nghĩ, khát vọng của mỗi cá nhân và các doanh nghiệp đều có. Nhưng ở mức độ cao, xa hơn, vì sứ mệnh lớn tầm quốc gia để từ đó đi khai phá, chinh phục ở nước khác, đem lại giá trị cho Việt Nam thì tôi chưa thấy. Đa phần khát vọng thuần về cá nhân. Doanh nghiệp còn phải được trang bị lý tưởng và cần lực thúc đẩy nó lao về phía trước

Từ năm 2003 đến 2008, tôi đắm chìm trong các chương trình vận động và bỏ bê Trung Nguyên. Sau đó tôi ngộ ra một chuyện: Tôi rồi cũng sẽ chết và phải làm điều gì đó có ích cho xã hội. Từ đó tôi nhìn cà phê như một thứ quyền lực

Trong quá trình đi vận động làm thương hiệu chung cho cà phê Việt Nam, tôi cũng gặp nhiều thách thức, nhiều người nghĩ tôi làm vì lợi ích cho Trung Nguyên. Các doanh nghiệp trong ngành cũng chống. Trong những cuộc khác tôi cũng đơn độc. Rất là buồn

Nhiều người khẳng định để doanh nghiệp phát triển và xây dựng được thương hiệu, không thể không vận động hành lang (lobby) ?

Lobby ở các nước khác thì được coi là hoạt động bình thường. Chính phủ không thể ba đầu sáu tay ngó thấu tất cả để ra chính sách. Đó là thực tiễn cuộc sống. Có những nhóm chỉ đi lobby cho lợi ích riêng của mình và mặc kệ những người khác. Cái đó thì nên chống và nên có hàng rào để chống. Còn những nhóm lobby cho đại cục, cho những chính sách tốt liên quan đến quốc kế dân sinh thì phải tiếp nhận. Chính phủ và xã hội cần tạo cơ hội cho các nhóm đó phát triển. Nhưng hiện nay, đích cuối cùng vẫn chủ yếu là lợi ích nhóm nhiều hơn. Cái đó đáng phê bình, lên án

LOBBY.VN
11-22-2010, 02:32 PM
Mời nghị sỹ chỉ trích cá tra đến Việt Nam ‘mục sở thị’

Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, hiệp hội này vừa gửi thư mời ông Struan Stevenson, Nghị sĩ Nghị viện châu Âu, đến ĐBSCL để chứng kiến quá trình nuôi, thu hoạch và chế biến, xuất khẩu loài cá này

Theo VASEP, ông Struan Stevenson đã đưa ra những chỉ trích mang tính kích động về tính an toàn của cá tra, như các điều kiện làm việc tại trại nuôi và nhà máy chế biến cá tra ở Việt Nam trong bài phát biểu tại Nghị viện châu Âu tuần qua

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/kt-ca-sua.jpg
VASEP khẳng định, cá tra Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế

Những lời phát biểu này được báo chí Châu Âu trích lại, có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của cá tra Việt Nam

Thư mời nêu rõ: VASEP tin rằng, khi tận mắt chứng kiến các sản phẩm được nuôi, thu hoạch và chế biến thì ông Struan Stevenson có thể chỉnh sửa phát biểu.

VASEP khẳng định, các trại nuôi và nhà máy chế biến cá tra đều đạt tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thế giới và vẫn đang tiếp tục xem xét quy trình, cũng như các thủ tục, nhằm đảm bảo ngành công nghiệp cá tra của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế yêu cầu

P/S: Hoạt động cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực cho các nghị sỹ, những người đưa ra chính sách của chính phủ là hoạt động cơ bản của các chuyên gia vận động hành lang. Không phải cứ mời là nghị sỹ họ sẽ đến, cần cho những lobbyist đủ ảnh hưởng, dùng nghệ thuật ngoại giao phù hợp thuyết phục nghị sỹ đến Việt Nam

LOBBY.VN
11-30-2010, 01:40 AM
Trung Quốc năng nổ làm thuyết khách vụ Triều Tiên

Đóng vai trò nhất định tại bán đảo đang tranh chấp, phía Trung Quốc mấy hôm nay tỏ ra năng nổ vận động cho tình hình Triều Tiên – Hàn Quốc.

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/20101129221742_nk5.jpg
Tàu chiến Mỹ trên biển Hàn Quốc



Trong diễn biến mới nhất, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc vừa lên tiếng kêu gọi Mỹ nên phối hợp với Trung Quốc tìm cách giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên

Điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc cho rằng giải pháp cần ưu tiên hiện nay là tìm cách làm dịu tình hình và từ bỏ mọi động thái có thể làm căng thẳng thêm tình hình.

Trước đó một ngày, phía Trung Quốc cũng đã lên tiếng đề nghị các trưởng đoàn đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên nhóm họp khẩn tại Bắc Kinh trong ít ngày nữa, vào đầu tháng 12 tới.

Tuy nhiên sau đó Triều Tiên đã bác bỏ khả năng này.

Trong khi đó, phía Hàn Quốc lại đang tỏ ra căng thẳng. Ngày 29/11, Tổng thống Lee Myung-bak trong bài phát biểu trên truyền hình quốc gia đã tuyên bố Triều Tiên sẽ phải trả giá nếu tiếp tục các hành động khiêu khích.

Ông Lee cũng cam kết tiến hành cải cách quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh của quân đội.

Trong khi đó, Hàn Quốc và Mỹ đang tiến hành cuộc diễn tập quân sự và sẽ chỉ kết thúc vào ngày 1/12 tới.

Cuộc tập trận đã bắt đầu từ hôm qua với sự tham gia của tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân Mỹ USS George Washington cùng các tàu chiến USS Cowpens, USS Shiloh, USS Stethem và USS Fitzgerald.

Phía Hàn Quốc cũng đưa hai tàu khu trục, một tàu tuần tiễu hải quân, máy bay chiến đấu chống tàu ngầm tham gia tập trận.

Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định cuộc tập trận chung này mang tính chất phòng thủ nhằm ngăn chặn những động thái khiêu khích tiếp theo của Triều Tiên.

Phía Triều Tiên khẳng định cuộc tập trận Mỹ-Hàn là "hành động khiêu khích quân sự nghiêm trọng".

Bình Nhưỡng khẳng định sẽ tiến hành các cuộc tấn công quân sự nếu Mỹ và Hàn Quốc vi phạm lãnh hải nước này

LOBBY.VN
12-04-2010, 11:53 PM
Lobby - chuyện vận động hành lang

Đó không phải là sự lén lút, “đi đêm” nhằm trục lợi. Đó là một nghệ thuật mà ở khía cạnh tích cực, nó mang lại lợi ích rất lớn cho người lobby; mang lại thông tin cho người được lobby và lợi ích chung cho xã hội.
Lobby được định nghĩa là “hình thức vận động nhằm mục đích gây ảnh hưởng lên các quyết định của chính quyền để phục vụ một lợi ích cụ thể nào đó”. Hoạt động này do các cá nhân (tức nhà vận động hành lang), tổ chức (nhóm lobby) tiến hành, nhằm vào quan chức chính phủ, giới lập pháp, thậm chí cả cơ quan tư pháp

Một câu chuyện cười

Có một câu chuyện cười thế này: Tại phiên họp quốc hội ở một xứ kia, đến lượt một nghị sĩ phát biểu. Ông ta bức xúc: “Báo cáo với quốc hội là tôi sắp phải kể một câu chuyện rất khó chịu liên quan tới công ty ABC. Bọn ABC thật đáng ghét. Chuyện là thế này, thưa quốc hội. Hôm qua có một tay tự nhiên đến gõ cửa nhà tôi, xưng là người của hãng ABC. Hắn đề nghị tôi cái gì các vị biết không. Ôi, thật là xúc phạm. Hắn bảo ABC sẽ trả cho tôi 1 triệu đôla để nói từ “ABC” bảy lần trước quốc hội ngày hôm nay. Tất nhiên là tôi đã nổi giận. Tất nhiên là tôi đã tống cổ cái thằng cha đại diện bọn ABC hỗn láo ấy đi ngay lập tức. Nhưng mà, báo cáo quốc hội, thật sự là tôi không thể nào không thể hiện nỗi bức xúc của mình ra đây được. Cái bọn ABC này thật sự là quá lắm. Tôi không thể nào mà không đưa chuyện của chúng nó ra đây để chửi cho chúng nó một trận được. Chỉ mong từ giờ không có thằng cha ABC nào đến làm phiền bất cứ ai trong số chúng ta. Cũng mong là các vị hết sức cảnh giác với cái tên ABC. Đấy, xin báo cáo quốc hội là như thế”. (Hóa ra, ông nghị sĩ ấy đã đề cập đến “ABC” đến hơn bảy lần!)

Tất nhiên đây chỉ là một câu chuyện cười nhưng nó cũng phản ánh phần nào mối liên hệ giữa các nhà lập pháp (nghị sĩ, đại biểu quốc hội) với các nhóm lợi ích. Và đó là bản chất của hiện tượng lobby - vận động hành lang - một hoạt động hợp pháp trong đời sống chính trị của nhiều nước trên thế giới

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/12-chot.jpg
Nhà vận động hành lang Steve Holzheause gặp gỡ cử tri ở sảnh tòa nhà Quốc hội Mỹ

Mang lại thông tin cho chính khách

Luật pháp ở các nước phương Tây (Mỹ, châu Âu) từ lâu đã công nhận hoạt động lobby. Người ta cho rằng lobby là một phần hợp lý và cần thiết của dân chủ, nó mang lại nhiều lợi ích: Các cá nhân và tổ chức, thông qua lobby, có thể góp phần hợp lý vào các quyết định chính trị vốn dĩ có thể ảnh hưởng tới họ và trong nhiều trường hợp là tới cả xã hội. Còn chính quyền thì nhờ có lobby mà tiếp cận được với các luồng thông tin và quan điểm từ xã hội

Bên cạnh chính phủ và quốc hội, các nhóm lobby thậm chí còn có thể tác động cả tới nhánh tư pháp. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, ở Mỹ, Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu đã từng đệ đơn kiện lên tòa án bang và liên bang, đồng thời tiến hành vận động chống các đạo luật phân biệt chủng tộc. Nỗ lực của họ đưa đến kết quả Tòa Tối cao Mỹ tuyên bố những đạo luật đó vi hiến

Tại Mỹ, hầu như vào bất kỳ thời điểm nào cũng có hàng trăm vụ việc ở các tòa án bang và liên bang, với các nhóm lobby theo đuổi vận động, thưa kiện, nhằm mang lại chiến thắng cho họ hoặc cá nhân, tổ chức đã thuê họ làm đại diện. Nhiều vụ lớn được đưa lên mục tin nổi bật trên báo chí, càng giúp cho các nhóm lợi ích liên quan được thêm nhiều người biết đến. Tại Anh, dịch vụ lobby chuyên nghiệp là một ngành kinh doanh tăng trưởng ổn định suốt những năm vừa qua, với sự tham gia của đông đảo công ty tư nhân và nhà tư vấn độc lập. CIPR, một viện nghiên cứu về quan hệ công chúng (PR), ước tính nước Anh có khoảng 48.000 người hành nghề PR, và 30% trong số đó làm nghề lobby hay gọi cách khác là “quan hệ chính phủ”. Vậy nếu tổng giao dịch của thị trường PR nói chung trị giá 6,5 ngàn tỉ bảng thì doanh thu của lobby ở vào khoảng 1,9 ngàn tỉ bảng Anh (năm 2007)

Lợi ích xã hội

Bên cạnh lực lượng công ty PR và nhà tư vấn độc lập coi lobby là dịch vụ kinh doanh, còn có rất nhiều cá nhân/tổ chức làm lobby khác như các hội nghề nghiệp, NGO, công đoàn, hội từ thiện…

Tổ chức Friends of the Earth (Bạn của trái đất) tự giới thiệu rằng họ đã lobby thành công rất nhiều vụ việc, ví dụ như “góp phần bảo vệ Nghị định thư Kyoto, thuyết phục nghị sĩ, thúc đẩy Nghị viện Anh thông qua tám đạo luật trong tám năm”

Một tổ chức khác thì thực hiện chương trình “Tighten the Net” (Siết chặt Internet). Họ tuyên bố đã tác động thành công khiến Bộ Nội vụ Anh phải chi 1,5 triệu bảng cho việc giáo dục thanh thiếu niên Anh về tác hại của Internet

Thực tế ở các nước phương Tây cho thấy trong quá trình hình thành, các chính sách luôn phải chịu rất nhiều áp lực và ảnh hưởng. Việc can thiệp để định hình chính sách gồm rất nhiều hoạt động được tiến hành đồng loạt, đồng thời, từ tiếp xúc trực tiếp với quan chức chính phủ, đại biểu quốc hội đến xúc tiến quan hệ với báo chí. Do đó, bản thân báo chí cũng được coi là một lực lượng lobby. Ở Anh, một đạo luật chống chó dữ, chó dại đã đi vào hiệu lực năm 1991, sau một loạt tin tức trên báo về các vụ trẻ em bị chó tấn công, kèm với đó là các bài xã luận đề nghị cơ quan lập pháp phải có luật ngăn chặn những tai nạn kiểu này

Hoạt động lobby được tiến hành nhằm vào cả giới hành pháp lẫn lập pháp. Viện CIPR đã tiến hành khảo sát các nhà lobby, đại đa số cho rằng “lobby nghị viện quan trọng hơn lobby chính phủ”. Thống kê cũng cho thấy nhiều nghị sĩ rất “đắt sô”, được các nhà lobby tiếp xúc tới 100 lần một tuần, tất nhiên là cũng tùy vấn đề nào quan trọng hay không. 22% số nghị sĩ Anh được giới lobby “thăm hỏi” hơn 50 lần/tuần

Một điều lạ là trái với quan niệm cho rằng các công ty PR dễ tiếp xúc với giới nghị sĩ và nhà làm chính sách hơn cả nhờ có nguồn lực tài chính, các nghị sĩ được hỏi đều nói rằng họ cảm thông hơn và do đó thường bị thuyết phục bởi các tổ chức NGO, các hội thiện nguyện hơn là bởi các công ty lobby chuyên nghiệp

Điều kiện tiên quyết: Công khai, minh bạch

Như đã nói, lobby vốn là một hoạt động hợp pháp và cần thiết trong sinh hoạt nghị trường ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của lobby là: nó phải diễn ra một cách công khai, minh bạch. Nếu không minh bạch thì nó sẽ chỉ là sự “móc ngoặc” để trục lợi giữa chính quyền và các nhóm lợi ích có liên quan

Năm ngoái, Bộ trưởng Văn phòng Nội các Anh Francis Maude từng tổng kết ngắn gọn về điều kiện đối với các nhà vận động hành lang khi ông yêu cầu họ “thứ nhất, bước ra khỏi bóng tối; thứ hai, công khai khách hàng của mình”, nghĩa là lobby phải diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật và công chúng phải được biết cá nhân, tổ chức nào đang tiến hành hoạt động lobby (hoặc đang thuê ai làm lobby)

Các nước công nhận hoạt động lobby đều có luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tinh thần chung của các đạo luật là buộc những cá nhân/tổ chức lobby chuyên nghiệp phải đăng ký hành nghề và có báo cáo định kỳ, thường xuyên. Ngoài ra còn nhiều hạn chế chi tiết khác đối với lobby, chẳng hạn Luật Minh bạch và Giải trình trong lập pháp (năm 2006) của Mỹ quy định: Cấm những người lobby biếu quà cho các nhà lập pháp hay mời họ đi ăn; người lobby phải thường xuyên giải trình chi tiết hoạt động của họ và đăng nội dung trên công báo

Nhìn rộng ra, sự công khai minh bạch là nền tảng của mọi hệ thống chính trị có chất lượng tiến bộ. Về điểm này, Bộ trưởng Francis Maude, đảng viên đảng Bảo thủ Anh, đã khẳng định: “Rất cần phải công khai, minh bạch hơn nữa để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn cao của đời sống chính trị. Nếu ngành lobby không tự điều chỉnh được theo hướng này thì sẽ phải có luật để buộc các nhà lobby phải giải trình nhiều hơn”

Vì sao lại gọi là lobby ?

Trong tiếng Anh, từ “lobby” vốn có nghĩa là “sảnh, hành lang”. Có giả thuyết cho rằng động từ “lobby” với ý nghĩa “vận động hành lang” xuất phát từ việc các thành viên Quốc hội Mỹ hay tụ tập ở hành lang của tòa nhà Quốc hội trước và sau mỗi phiên tranh luận. Theo một giả thuyết khác, cựu Tổng thống Ulysses S. Grant của Mỹ, thời còn đương nhiệm, đã dùng từ “lobby” để ám chỉ việc làm của những người thường xuyên lui tới sảnh khách sạn Williard ở Washington DC để tìm cách tiếp cận Grant - ông hay đến đó để trốn vợ hút xì gà và uống rượu brandy

Các nhà nghiên cứu cho rằng động từ “lobby” mang nghĩa “vận động hành lang” đã xuất hiện trên giấy tờ từ năm 1820: “Những bức thư khác từ Washington khẳng định rằng mỗi khi có vấn đề cần thỏa thuận ở Hạ viện, các thành viên của Thượng viện đã không chỉ “lobby xung quanh Hạ viện” mà còn tìm đủ cách đe dọa các đại biểu yếu thế…”

Đoan Trang (http://phapluattp.vn/20101203102837572p1017c1079/ lobby-chuyen-van-dong-hanh-lang.htm)

LOBBY.VN
12-07-2010, 04:35 PM
Chiến lược vận động hành lang

Để hình dung cách thức tiến hành vận động hành lang, chúng tôi xin giới thiệu chiến lược của một tổ chức Tư vấn vận động hành lang ở Vương quốc Anh

Bước thứ nhất của người vận động: Hình dung rõ mình muốn đạt kết quả gì? Ai là người có khả năng giúp đạt được kết quả này? Điều gì là mối quan tâm lớn nhất của những người này? Cách thức nào là tốt nhất và hợp pháp để tiếp cận những người này? Những sự kiện nào là quan trọng nhất đối với vấn đề cần vận động? Không phải áp lực mà lợi ích mới mang lại hiệu quả vận động, do đó, phải biết chọn đúng người để cung cấp đúng thông tin, đúng thời điểm và đúng cách

Làm thế nào để tiếp cận quan chức Chính phủ: Trong phần lớn trường hợp thì các chính khách thường hạn chế tiếp xúc với cử tri. Do vậy, biện pháp khả dĩ nhất để tiếp cận bộ trưởng là thông qua nghị sỹ. Cách khác là thông qua các tổ chức vận động chuyên nghiệp, các hiệp hội, liên minh (có càng đông thành viên càng tốt) mà người ta vẫn gọi là "Nhóm gây áp lực". Cách thứ ba là thông qua phương tiện thông tin đại chúng mà Chính phủ thường phải đưa ra chính kiến trên các phương tiện này.

Làm thế nào để tiếp cận nghị sỹ: Cách đơn giản nhất là gửi thư yêu cầu cho nghị sỹ. Tuy nhiên, nhiều khả năng các vị dân biểu chỉ là hòm thư giữa bạn và Chính phủ, chỉ làm nhiệm vụ gửi thư của bạn đến vị bộ trưởng có liên quan. Cách thứ hai là tới gặp vị dân biểu của bạn bằng cách điền vào phiếu hẹn tại hành lang trung tâm của Hạ viện (Central Lobby) để hẹn một cuộc gặp. Tuy nhiên, cách này thường không hiệu quả. Bạn cũng có thể tới gặp nghị sỹ tại Văn phòng địa phương. Có nghị sỹ chỉ tiếp một lượng hạn chế cử tri trong ngày vào những giờ nhất định, một số khác lại đòi có lịch hẹn trước thông qua thư ký

Vận động bằng cách nào sẽ mang lại hiệu quả: Hiệu quả tùy thuộc vào quan điểm tiếp xúc cử tri của từng nghị sỹ. Vì vậy trước khi tiếp cận nên tìm hiểu kỹ về mối quan tâm của vị nghị sỹ này và trong cuộc nói chuyện của bạn, đừng quên xoáy vào đó. Không nên nói chuyện với tư cách cá nhân mà phải chứng tỏ cho nghị sỹ thấy bạn thay mặt một nhóm cử tri hoặc hiệp hội để nói lên suy nghĩ của mình. Tìm hiểu quan điểm của vị nghị sỹ này về vấn đề bạn định vận động thông qua trang web cá nhân của nghị sỹ, báo chí, Kỷ yếu nghị viện. Nêu rõ những yêu cầu bạn dự định đề nghị và kế hoạch để đạt được kết quả

Tiếp cận thẳng các bộ trưởng: Nếu bạn nhân danh công dân viết thư thì thư trả lời sẽ do Thư ký Bộ trưởng dự thảo. Còn nếu bạn nhân danh một tổ chức, một hiệp hội có uy tín để viết thư thì có thể Bộ trưởng sẽ phải ký hoặc duyệt thư trả lời trực tiếp. Khi viết thư, bạn nên mở đầu bằng những câu gây thiện cảm như: "Nhân danh những người ủng hộ mãi mãi cho Công Đảng..." (Đảng cầm quyền ở Anh). Bạn nên biết cách sử dụng ảnh hưởng của các tờ báo có uy tín đối với đảng phái của Bộ trưởng hoặc dựa vào cương lĩnh tranh cử của Bộ trưởng để tăng cường sức thuyết phục cho lý lẽ của mình. Bạn nên phân tích lợi thế chính trị và những "nguy cơ chính trị" nếu Bộ trưởng không hành động hoặc hành động khác với điều bạn muốn

Làm thế nào để gây chú ý về lợi ích chính trị: Hãy tiếp cận những người có ảnh hưởng tới quan điểm chính trị của Bộ trưởng như Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng. Cố vấn chính sách, Nghiên cứu viên của các nhóm đảng phái, Chuyên viên Văn phòng địa phương của đại biểu là Bộ trưởng; các vị cố vấn địa phương tại đơn vị bầu cử của Bộ trưởng

LOBBY.VN
12-22-2010, 11:20 PM
Obama vận động hành lang các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/HU.jpg

Hôm qua (20.12), Tổng thống Barack Obama đã nỗ lực vận động các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa quay lại thảo luận Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí chiến lược mới với Nga, vấn đề mà bấy lâu vẫn gây ác cảm với đảng Cộng hòa khi đảng này cho rằng, hiệp ước có thể ảnh hưởng tới nền an ninh quốc gia

Nhà Trắng và các nghị sĩ đảng Dân chủ đã bày tỏ niềm tin rằng, họ đã bỏ phiếu tán thành cho hiệp ước được Tổng thống Obama và Tổng thống Nga, Dmitry Medvedev ký kết hồi tháng Tư. Trong nội dung đàm phán về hiệp ước START mới, hai bên cũng đã bàn về việc khởi động lại chương trình thanh tra vũ khí hạt nhân của Mỹ nhằm thiết lập lại mối quan hệ giữa hai quốc gia từng là kình địch thời chiến tranh lạnh

Một số Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đã nghiêng về xu hướng ủng hộ hiệp ước như Thượng nghị sĩ bang Massachusetts, Scott Brown đã công bố sẽ hỗ trợ các hiệp ước sau khi ông nhận một cuộc gọi từ Ngoại trưởng Hillary Clinton. Ngoài ra, Thượng nghị sĩ Johnny Isakson bang Georgia, người cũng có cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Clinton, đã gửi tín hiệu mạnh mẽ rằng ông sẽ hỗ trợ phê chuẩn hiệp ước

Với sự giúp đỡ của 8 thành viên đảng Cộng hòa, đảng Dân chủ đã đánh bại trong vấn đề tăng số lượng thanh tra vũ khí với số phiếu là 64/33. Họ cũng bác bỏ một phương án đề xuất về tăng số lượng tên lửa với 64/33 phiếu. Một nỗ lực nhằm thay đổi các điều ước quốc tế liên quan đến vũ khí hạt nhân chiến lược cũng không thành công với 62/35 phiếu bầu

Ông Obama, người đã trì hoãn kỳ nghỉ Giáng sinh của mình, cũng đã vận động các thượng nghị sĩ qua điện thoại nhằm đạt được hiệp ước START mới trước khi đảng Cộng hòa tăng số lượng thành viên tại Thượng viện. Phó Tổng thống Joe Biden và bà Clinton cũng đã kêu gọi các nhà lập pháp thúc đẩy việc phê chuẩn

Nhằm giúp cho chính sách của ông Obama được nhanh chóng phê chuẩn, Đô đốc Mike Mullen, tham mưu trưởng liên quân, cũng đã gửi một lá thư cho các nhà lập pháp nhắc lại sự hỗ trợ cho các hiệp ước này. “Hiệp ước này sẽ giúp tăng cường khả năng của quân đội... đó là bảo vệ công dân Mỹ, tôi tin tưởng vào sự thành công của nó. Tôi hy vọng hiệp ước sớm được phê duyệt”, ông Mullen viết

Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số thành viên bảo thủ của đảng Cộng hòa vẫn nhấn mạnh, hiệp ước sẽ hạn chế hệ thống phòng thủ tên lửa - cơ sở chính bảo vệ Mỹ và các nước đồng minh, và họ còn cho rằng, khó có thể xác minh sự tuân thủ của Nga

Tổng thống Obama đã bị mô tả “thất bại nặng nề” trong cuộc bầu cử Quốc hội giữa kỳ vào ngày 2.11 khi đảng của ông mất quyền kiểm soát Hạ viện và giảm số ghế tại Thượng viện. Tuy nhiên, ông đã đạt được “hai chiến thắng chính trị lớn” với việc Quốc hội thông qua thỏa thuận cắt giảm thuế và bãi bỏ lệnh cấm người đồng tính phục vụ trong quân đội. Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của ông trước cuối năm nay là phê chuẩn hiệp ước START mới

Với chiến lược vận động hành lang các Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa, năm thượng nghị sĩ đảng Cộng hoà bao gồm ông Richard Lugar của bang Indiana, Olympia Snowe và Susan Collins của bang Maine, George Voinovich của Ohio và Brown cho biết sẽ trở lại đàm phán về hiệp ước, trong khi bốn người khác là Robert Bennett của Utah, Judd Gregg của New Hampshire, Tennessee của Bob Corker và Isakson cho biết họ đã nghiêng về phía phê duyệt

Tại Nga, Ngoại trưởng Sergey Lavrov đã cảnh báo sẽ phản đối bất kỳ sự thay đổi nào trong hiệp ước. “Tôi chỉ có thể nhấn mạnh một thực tế là hiệp ước đã được đề ra nghiêm ngặt và chặt chẽ, theo quan điểm của chúng tôi, nó hoàn toàn đáp ứng đầy đủ lợi ích quốc gia của cả Nga và Mỹ”, ông Lavrov phát biểu trên hãng tin Interfax của Nga

Nếu Hiệp ước START mới đạt được thì sau 7 năm thực hiện, số phương tiện phóng đầu đạn hạt nhân của Nga và Mỹ, gồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo đặt trên tàu ngầm và các máy bay ném bom hạng nặng, sẽ giảm xuống còn một nửa so với Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược giai đoạn 1 (START-1), từ 1.600 xuống còn 700

Số đầu đạn hạt nhân của mỗi bên sẽ giảm hơn 30% so với Hiệp ước cắt giảm tiềm lực tấn công chiến lược ký tại Mátxcơva đầu năm 2002, từ 2.200 xuống còn 1.550. Số bệ phóng tên lửa (đã triển khai và chưa triển khai) của mỗi bên không vượt quá 800 đơn vị. START mới có hiệu lực 10 năm kể từ ngày Quốc hội 2 nước phê chuẩn và có thể gia hạn mỗi lần 5 năm

LOBBY.VN
12-22-2010, 11:23 PM
Zambia tiến hành vận động hành lang
nhằm nới lỏng lệnh cấm buôn bán ngà voi


Zambia hiện đang sở hữu kho dự trữ ngà voi trị giá gần 1 triệu đô la Mỹ, nhưng lại chưa thể bán ra thị trường do vấp phải lệnh cấm buôn bán ngà voi được "Công ước quốc tế về buôn bán động thực vật hoang dã" ban hành. Bộ trưởng Du lịch và môi trường Zambia cho biết, nước này đang tiến hành vận động hành lang để lệnh cấm trên được nới lỏng

Theo Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia, nước này đã bắt đầu tiến hành vận động hành lang để lôi kéo sự ủng hộ cho đề xuất mới nhằm kêu gọi sự nới lỏng lệnh cấm buôn bán ngà voi trên thị trường, giúp Zambia giải quyết 21 tấn ngà voi đang tồn trong kho

Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia Catherine Namugala cho biết, nước này đã lên kế hoạch vào năm 2013 tới sẽ tái đệ trình bản đề xuất trước đó đã bị Công ước quốc tế về buôn bán động thực vật hoang dã viết tắt là CITEs bác bỏ vào tháng 3 năm nay

“ Zambia muốn tái đệ trình đề xuất này, và chúng tôi muốn bán lượng ngà voi dự trữ vì nhờ đó đất nước sẽ có thêm nguồn thu. Số tiền thu được có thể được sử dụng để chi cho các chương trình bảo vệ loài voi”

Bà Namugala cho biết Zambia có thể thu được khoảng 1 triệu đô la Mỹ từ việc bán 21 tấn ngà voi này, hầu hết là được thu thập từ các con voi bị chết do thảm họa thiên nhiên

Cuộc họp của 175 nước tham gia Công ước CITEs đã bỏ phiếu bác bỏ ý kiến của Zambia và Tanzania rằng, số lượng voi cá thể đang gia tăng, và gây nguy hiểm cho người dân tại các vùng xa xôi

Bà Namugala cho biết, hiện vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về những mối đe dọa mà người dân gặp phải khi sống chung với voi tại Zambia

“ Zambia nên được cho phép loại bỏ khỏi danh sách cấm, vì chúng tôi là một quốc gia có chủ quyền. Và nhiệm vụ của chúng tôi là phải đảm bảo các nguồn lợi thiên nhiên phục vụ lợi ích của nhân dân. Nếu như lệnh cấm không được nới lỏng, chúng tôi cảm thấy rằng, môi liên hệ giữa việc bảo tồn và sử dụng bền vững đã bị Công ước CITES bỏ qua, vì bạn không thể nào đảm bảo công tác bảo tồn nếu người dân sống cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên này không được hưởng lợi gì từ nó”

Bộ trưởng Du lịch và Môi trường Zambia cho biết, Zambia sẽ tiến hành vận động hành lang đối với những nước như Kenya, vốn là những nước đã phản đối đề xuất của Zambia trong năm nay

“ Chúng tôi hy vọng rằng, thông qua đối thoại, thông qua các kênh ngoại giao với bạn bè của chúng tôi, ngay cả những nước trước kia đã phản đối đề xuất của chúng tôi, sẽ trở nên hiểu rằng, lợi ích của người dân Zambia đang phụ thuộc vào họ, và chúng tôi sẽ nhất trí rằng, là người châu Phi, chúng tôi sẽ không tham dự hội nghị sắp tới với tinh thần chia rẽ”

Zambia cũng lên kế hoạch đàm phán với các tổ chức phi chính phủ để họ hiểu rằng Zambia cũng rất quan tâm tới việc bảo tồn loài voi

Được biết, Zimbabwe, Namibia, Nam Phi và Botswana là những nước châu Phi đã được cho phép bán ngà voi sau hội nghị của Công ước CITEs hồi năm 2007

LOBBY.VN
12-26-2010, 06:22 PM
Facebook xây dựng nhóm vận động hành lang ở Washington

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Facebook-xay-dung-nhom-van-dong-hanh-lang-o-Washington.jpg
Với 500 triệu người sử dụng, bảo mật hiện là vấn đề hàng đầu của Facebook

- Đây là một trong những biện pháp nhằm đối phó với áp lực ngày càng gia tăng từ phía Washington trong các vấn đề bảo mật thông tin người sử dụng

Trang mạng xã hội lớn nhất thế giới đang mở rộng văn phòng 6 người ở thủ đô Washington, đồng thời chi nhiều hơn cho các khoản vận động hành lang

Đại diện Facebook cũng tổ chức các buổi họp với các nhà lập pháp, Quốc hội và các chuyên gia bảo mật nhằm tìm hướng giải quyết cho vấn đề hiện tại là đảm bảo quyền riêng tư cho hơn 500 triệu người sử dụng.

Nhà sáng lập Facebook, người vừa tạp chí Times bầu chọn là “Nhân vật của năm 2010” khẳng định: “Bảo mật và đảm bảo quyền kiểm soát thông tin cá nhân của người sử dụng là một trong những yếu tố cơ bản nhất trên mạng internet”

Bảo mật thông tin đang là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của người sử dụng khi mạng internet đang phát triển nhanh chóng, việc kết nối thông tin diễn ra mạnh mẽ và khó kiểm soát hơn. Các công ty lớn như Facebook và Google ngày càng khai thác có hiệu quả hơn những thông tin cá nhân của người sử dụng để kiếm lợi nhuận

Quốc Hội, Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ và Phòng thương mại đang xem xét bổ sung và làm rõ các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư của người sử dụng tại các công ty mạng lưu trữ thông tin cá nhân của khách hàng

Nhiều khả năng, một dự thảo luật về vấn đề bảo mật trên mạng internet sẽ được các nhà lập pháp đưa ra vào năm tới, theo lời của Chủ tịch Ủy ban thương mại Thượng viện Mỹ, Jay Rockefeller

Hiện tại, Facebook cho phép người sử dụng trao đổi, chia sẻ thông tin giữa những người có mối quan hệ “bạn bè” với nhau, đồng thời giúp các nhà quảng cáo tìm được khách hành mục tiêu thông qua các mối quan hệ này và sở thích của họ

Công ty cũng cung cấp những công cụ để người dùng hạn chế đối tượng chia sẻ thông tin của mình cho những người thứ 3. Điều này được gọi là “cách người dùng kiểm soát thông tin của mình”. Tuy nhiên, đối với các cơ quan chức năng thì công cụ này là chưa đủ

Nhóm phụ trách về vấn đề này tại Nhà Trắng cho biết, họ ủng hộ những lựa chọn “không theo đuổi” các thông tin và chuyển động trực tuyến của người sử dụng các trang mạng xã hội

Jeffrey Chester, giám đốc điều hành trung tâm kỹ thuật số của Đảng Dân chủ cho rằng: vấn đề bảo mật các thông tin riêng của người sử dụng là một “quả bom nổ chậm” của Facebook, dù cho công ty này có chi bao nhiêu tiền cho các chiến dịch vận động hành lang đi nữa

Giáo sư Sunil Gupta của Harvard nhận định rằng: “Bảo mật có thể chính là gót chân Achilles của các công ty kinh doanh trong lĩnh vực này”

Facebook đang cố gắng vận dụng những giải pháp mà Google, Microsoft và Apple đã từng sử dụng trong việc giải quyết các vấn đề tương tự trước đây

Tuy nhiên, những cản trở này không làm chậm tốc độ tăng trưởng của Facebook. Doanh thu ước tính năm 2010 của trang mạng xã hội này có thể sẽ gấp đôi so với năm trước, lên 1,4 tỷ USD

Bên cạnh đó, Facebook cũng tiết lộ một thông tin thú vị là hầu hết các ứng cửa viên của Hạ viện và Thượng viện đều sử dụng mạng xã hội này để thuyết phục các cử tri trong cuộc bầu cử vừa qua

thoidaianhhung
12-29-2010, 10:57 AM
Mục tiêu của Trung Quốc tại Washington
Khôi phục hình ảnh

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào sẽ tới thăm Mỹ vào tháng tới. Giới phân tích cho rằng, ông cần xóa bỏ những “tổn thất” trong chính sách ngoại giao. Chuyến công du chính là lúc để kiểm soát những tổn thất ấy

Thời báo Los Angeles giới thiệu bài viết của tác giả Barbara Demick

Chính phủ Trung Quốc hy vọng sẽ thay đổi một hình ảnh bị lu mờ vì những sai lầm trong chính sách đối ngoại. Nhà Trắng cho biết, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nhận lời mời từ Tổng thống Mỹ Obama và tới Washington ngày 19/1, có một bữa tiệc tối chính thức cùng lịch trình gặp gỡ ở phòng Bầu dục. Trung Quốc đã “giảm âm lượng” trong sự ủng hộ với Triều Tiên, thúc giục Bình Nhưỡng chấp nhận các thanh sát viên hạt nhân và kiềm chế trong phản ứng với Hàn Quốc

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/20101228153919_hocamdao.jpg
Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào

Nydailynews"Vào cuối ngày, ông Hồ Cẩm Đào cần một cuộc gặp thượng đỉnh thành công”, Michael Green, một cố vấn châu Á hàng đầu của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush, hiện là nhà phân tích tại Trung tâm Chiến lược và nghiên cứu quốc tế ở Washington, nói. Ông nhấn mạnh, tuy vậy “đó có thể là một chiến thuật hơn là sự công nhận thẳng thắn rằng, Trung Quốc cần thỏa hiệp”

Vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hầu như không có sai lầm, người Trung Quốc lại có những bước đi “lạc chỗ” không ngờ trong ngoại giao. Sự quả quyết của Bắc Kinh - trong cách hành xử trên trường quốc tế - đã làm lu mờ hình ảnh họ xây dựng và vun đắp lâu nay như một người khổng lồ hiền từ với sự thịnh vượng chỉ góp phần thúc đẩy giàu có của những nước láng giềng

Quan hệ mỏng manh

Những mối quan hệ được “chăm sóc” cẩn trọng giữa Trung Quốc với Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và nhiều quốc gia châu Âu dường như gặp rắc rối

"Chúng ta cần phải làm một số công việc khôi phục”, Thẩm Đinh Lợi, một chuyên gia quan hệ quốc tế tại Đại học Phúc Đán, Thượng Hải cho biết. "Trung Quốc cần khiêm nhường và nhã nhặn đánh giá sự giúp đỡ của Mỹ trong quá trình phát triển của mình và không nên sử dụng sức mạnh đang lên gây ra bất hòa”

Trong nhiều vấn đề khúc mắc, có chính sách tiền tệ của Bắc Kinh tạo lợi thế cho ngành xuất khẩu nhưng “không được lòng” các đối tác thương mại; việc Trung Quốc dường như ủng hộ vô điều kiện với Triều Tiên, đặc biệt là sau vụ quân đội Bình Nhưỡng nã pháo vào một hòn đảo của Hàn Quốc ngày 23/11 làm bốn người thiệt mạng

Theo Trung tâm nghiên cứu Pew tại Mỹ, tỉ lệ người Hàn Quốc tán thành Trung Quốc đã giảm từ 66% năm 2002 xuống còn 38%. Ít ngày sau vụ đấu pháo tại đảo Yeonpyeong, 92% người được hỏi nói rằng, họ thất vọng với phản ứng của Trung Quốc

"Hành xử của Trung Quốc đã tạo ra một xu thế bất lợi với chính nước này, dẫn tới việc tạo ra một khối chống Trung Quốc của Mỹ và các đồng minh”, Susan Shirk, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học California, San Diego nhận định. "Nó vụng về và phản tác dụng”

Chính sách cứng rắn

Theo Shirk, sự quả quyết quá mức của Trung Quốc gần đây là kết quả của sự “yếu đi” trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất, dẫn tới việc quyết định chính sách thuộc về tay bộ máy an ninh và tuyên truyền kiểu như quân đội

Đây là một ví dụ điển hình: phản ứng thái quá của Bắc Kinh trong vụ va chạm hồi tháng 9 giữa một tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản đã dẫn tới việc Nhật “đại tu” chính sách phòng thủ, với chỉ dẫn chủ chốt là thay đổi các tài nguyên tập trung về khu vực biển Hoa Đông. Tại Nhật Bản, 90% người được hỏi trong một cuộc điều tra dư luận hồi tháng 10 cho là quan hệ với Trung Quốc ở mức độ xấu, so với 45% trong năm 2009, theo kết quả thăm dò mà báo Yomiuri Shimbun đưa ra.
Hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông cũng đã đẩy nhiều quốc gia châu Á xích lại gần hơn với Mỹ. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với cả một khu vực biển rộng lớn cũng khiến Malaysia, Indonesia và Singapore lo lắng

Theo Shirk, một chính sách cứng rắn dường như càng gia tăng bởi cuộc đua quyền lực trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012, khi Chủ tịch nước, Thủ tướng và nhiều thành viên Bộ Chính trị sẽ là những người mới

Gần đây, đã xuất hiện những dấu hiệu cân nhắc lại ở Bắc Kinh. Tháng trước, Trung Quốc lặng lẽ nối lại việc vận chuyển đất hiếm sang Nhật. Quan chức nước này cũng nối lại hội đàm với giới quân sự Mỹ - hoạt động bị đình trệ trong gần như cả năm nay khi Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Sự thay đổi này đã được các quan chức Lầu Năm Góc đưa ra những bình luận tích cực

LOBBY.VN
01-06-2011, 10:51 PM
Lobby: Đừng biến công khai, minh bạch thành "móc ngoặc"

- Để đạt được các mục tiêu của mình, doanh nghiệp không chỉ ngồi chờ các cơ quan quản lý tạo ra "sân chơi, luật chơi" mà chính doanh nghiệp phải tạo dựng cho mình thế chủ động. Lobby, còn gọi là vận động hành lang, là một hoạt động quan trọng để phục vụ mục đích đó

Vận động hành lang (lobby) được lấy theo tên địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh quốc, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp hoặc với bất kỳ người nào để bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại Nghị viện

Lobby: điều kiện tiên quyết là công khai minh bạch

Nghĩa đen gốc tiếng Anh của Lobby là hành lang rộng của nhà Quốc hội, nhưng còn có nghĩa bóng rất thông dụng, đó là "vận động người có chức, có quyền nhằm giúp mình đạt được mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội..."

Tại một số quốc gia, vận động hành lang được luật pháp thừa nhận như một hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của lobby là phải diễn ra một cách công khai, minh bạch. Nếu không, đó sẽ chỉ là sự "móc ngoặc" để trục lợi giữa chính quyền và các nhóm lợi ích có liên quan

Các nước công nhận hoạt động lobby đều có luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tinh thần chung của các đạo luật là buộc những cá nhân/tổ chức lobby chuyên nghiệp phải đăng ký hành nghề và có báo cáo định kỳ, thường xuyên.

Pháp luật Mỹ công nhận lobby là một hoạt động hợp pháp, công khai và được điều chỉnh bởi ba bộ Luật: Luật Công khai Vận động hành lang (Lobbying Disclosure Code), Bộ Luật về Ngân sách Liên bang (Internal Revenue Code) và Luật Đăng ký Đại diện cho nước ngoài (Foreign Agents Registration Act)

Tại thủ đô Washington.D.C, lobby là một trong năm nghề đông đảo nhất, bên cạnh các nghề: viên chức nhà nước, ấn loát, dịch vụ pháp luật và dịch vụ du lịch

Các nước đồng minh của Mỹ như: Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật, Hàn Quốc... cũng có một đội ngũ lobby hùng hậu ở Mỹ

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho các hoạt động lobby ở Mỹ, do vậy đã có được mối quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc luôn đặc biệt phức tạp

Nhu cầu thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp

Trong quá trình hình thành và hoạt động, để đạt được các mục tiêu của mình, doanh nghiệp kinh tế không chỉ ngồi chờ các cơ quan quản lý tạo ra "sân chơi, luật chơi" mà phải thấy, chính doanh nghiệp, đại diện doanh nghiệp (hiệp hội) phải chủ động tạo dựng cho mình thế chủ động

Thế chủ động nói đến ở đây là "vận động hành lang". Vận động để nhằm sớm hình thành chính sách, đưa chính sách đó nhanh đi vào thực tế. Chính sách đó có lợi cho doanh nghiệp và thuận lợi cho quản lý, mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng

Có thể nói, đây chính là một nhu cầu thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp nói chung

Để làm được điều này thì trước hết, vấn đề đang quan tâm cần được nêu ra, cần được công khai tranh luận về các ý kiến của các bên khi tham gia và mỗi khi chuẩn bị đi đến kết luận cũng cần công bố cho xã hội biết để mọi người dân, với quyền giám sát của mình, thấy được sự cân nhắc đó là hệ quả tối ưu nhất, có lợi cho các bên

Vai trò của các hiệp hội là cần sớm chuyên nghiệp hoá hoạt động đóng góp xây dựng chính sách có liên quan tới lợi ích của doanh nghiệp kinh tế với tư cách như người phản biện, thể hiện sự công tâm và hướng tới phát triển

Đặc biệt là chủ động đề xuất, kiến nghị việc hình thành chính sách pháp luật cho doanh nghiệp thuộc hiệp hội của mình

Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, những hoạt động vận động hành lang của các doanh nghiệp để Chính phủ ra các quyết sách có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình diễn ra một cách công khai và có có tỉ lệ hoa hồng rõ ràng

Nhưng để thúc đẩy mọi hoạt động phát triển theo chiều hướng tốt, nhanh chóng đem lại lợi ích cho cộng đồng thì các doanh nghiệp phải dựa trên một nền tảng pháp lý rõ ràng. Chính những điều này đang đòi hỏi cần phải xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động vận động chính sách đối với doanh nghiệp

XUÂN THÀNH (http://vef.vn/2011-01-04-lobby-dung-bien-cong-khai-minh-bach-thanh-moc-ngoac-)

LOBBY.VN
01-07-2011, 10:12 PM
Em gái Thaksin chạy đua chức thủ tướng Thái Lan

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/tk11.jpg
Yingluck Shinawatra, em gái cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra

Em gái của cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra có thể là ứng viên của phe đối lập nước này cho chức thủ tướng trong cuộc bầu cử sắp tới

"Một số thành viên đảng Puea Thai đang ủng hộ Yingluck Shinawatra làm ứng viên ra tranh chức thủ tướng nhưng chúng tôi phải tham vấn và bỏ phiếu trong cuộc họp sắp tới của đảng", AFP dẫn lời Pormpong Nopparit, phát ngôn viên của Puea Thai, cho hay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/thaiksinjpg-041341.jpg
http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/yingluck.jpg

Yingluck, 43 tuổi, là em gái út của Thaksin. Nếu đắc cử, bà sẽ là nữ thủ tướng đầu tiên của Thái Lan. Bà hiện là chủ tịch tập đoàn bất động sản SC

Trước đó, báo chí địa phương cho biết Thaksin ủng hộ chọn cựu Bộ trưởng Thương mại Mingkwan Saengsuwan làm người đứng đầu Puea Thai

Ông cho biết đảng này có thể chọn ứng viên sau khi Thủ tướng Abhisit Vejjajiva, lãnh đạo đảng Dân chủ cầm quyền, giải tán quốc hội. Theo luật, việc này sẽ được thực hiện trước cuối năm nay

Thaksin nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân nghèo Thái Lan nhưng bị lật đổ trong cuộc đảo chính không đổ máu năm 2006

Chính trị gia tỷ phú Thái Lan Thaksin hiện sống lưu vong để tránh án tù vì tội tham nhũng. Ông còn bị truy nã vì tội danh khủng bố vì bị cho là kích động làn sóng biểu tình chống chính phủ ở Bangkok hồi năm ngoái

LOBBY.VN
01-11-2011, 01:23 PM
Lobby & Ngoại giao bán máy bay

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/Boeing_787.jpg
Boeing 787 Dreamliner

Các nhà ngoại giao đã và đang kiêm luôn vai trò “tiếp thị” trong các thương vụ máy bay khổng lồ trên thị trường thế giới

Theo hàng trăm thư tín do WikiLeaks tiết lộ, các nhà ngoại giao Mỹ là một phần lực lượng bán hàng ở mức độ lớn hơn những gì người ta biết đến trước đây. Chuyện nước Mỹ giúp các công ty của họ làm ăn ở nước ngoài không phải là điều đáng ngạc nhiên, vì mỗi thương vụ tạo ra hàng ngàn việc làm, và rằng các đối thủ nước ngoài cũng làm như thế. Nhưng những tiết lộ của WikiLeaks cho thấy thực sự có một cuộc “chiến tranh bán hàng” giữa các nhà ngoại giao Mỹ và các đồng sự châu Âu

Những thỏa thuận cao cấp

Thỏa thuận mua máy bay Mỹ của Ả Rập Xê Út là một ví dụ rõ ràng nhất của “ngoại giao bán hàng”. Quốc gia này hồi tháng 11.2010 tuyên bố mua 12 máy bay Boeing 777 trị giá 3,3 tỉ USD

Theo WikiLeaks, cuối năm 2006, Israel Hernandez, một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, tự tay mang một lá thư của Tổng thống George W. Bush đến văn phòng của Quốc vương Abdullah, thúc giục ông này mua đến 43 máy bay Boeing để hiện đại hóa hãng hàng không Ả Rập Xê Út và 13 máy bay cho đội bay của hoàng gia nước này. Ông Abdullah đọc thư của ông Bush và tuyên bố máy bay Boeing là sự chọn lựa của ông. Quốc vương Ả Rập Xê Út cũng cho biết vừa từ chối mua 2 máy bay Airbus mới mà mua 1 chiếc Boeing đã qua sử dụng một thời gian

Nhưng trước khi cam kết trang bị một đội bay gồm chủ yếu là máy bay Boeing, vị vua xứ dầu mỏ có một yêu cầu. “Tôi yêu cầu ông về nói với ngài tổng thống và tất cả giới chức liên quan rằng tôi muốn có tất cả những công nghệ mà Tổng thống Bush có trên Air Force One”. Báo The New York Times dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận hồi tháng trước rằng Mỹ đã cho phép “nâng cấp” máy bay của Quốc vương Abdullah nhưng không cho biết chi tiết cụ thể “vì những lý do an ninh”

Yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ có một chỗ trên một chuyến bay trong tương lai của Cơ quan Hàng không và Không gian Mỹ được đưa ra đầu năm 2010, khi hãng Turkish Airlines đang xem xét mua đến 20 máy bay Boeing. Chính phủ Thổ nắm giữ chưa đầy phân nửa số cổ phần tại hãng, nhưng Bộ trưởng Giao thông vận tải Binali Yildirim nói rõ với Đại sứ Mỹ tại Thổ James F.Jeffrey rằng tổng thống nước này muốn có sự hỗ trợ cho chương trình không gian “mới ra ràng” cùng sự trợ giúp của Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) nhằm cải thiện an toàn hàng không. Trong thư gửi về Washington, ông Jeffrey viết rằng việc cho phép FAA giúp Thổ cải thiện an toàn hàng không và các chương trình thám hiểm không gian có thể làm lợi cho cả 2 nước. Thỏa thuận được công bố 1 tháng sau đó, khi Turkish Airlines đặt mua 20 chiếc Boeing

Sự thừa nhận

Theo The New York Times, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ và hãng Boeing, trong những cuộc phỏng vấn hồi tháng trước, thừa nhận vai trò quan trọng của Chính phủ Mỹ trong việc giúp họ bán máy bay, bất chấp một thỏa thuận thương mại được các lãnh đạo Mỹ và châu Âu ký kết cách đây 3 thập niên nhằm loại trừ sự can dự chính trị vào quá trình này

Ông Robert D.Hormats, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề kinh tế, cho biết nền kinh tế nước này ngày càng dựa nhiều vào việc xuất khẩu sang các nước đang phát triển ở châu Á, Mỹ La-tinh và Trung Đông. Vì thế, hoạt động thúc đẩy việc bán các hàng hóa cao cấp như máy bay đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của chính quyền Obama nhằm giúp nước này hồi phục từ tình trạng suy thoái. Boeing là đơn vị xuất khẩu số 1 của Mỹ. Mỗi tỉ USD doanh thu của hãng đồng nghĩa với việc tạo ra 11.000 việc làm ở Mỹ

Airbus thì thường không tiết lộ chi tiết các thương vụ của họ, nhưng một quan chức giấu tên của hãng thừa nhận ngoài các thỏa thuận quốc tế, việc mua bán “không hoàn toàn tách khỏi việc tạo lập quan hệ chính trị”. Theo WikiLeaks, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy hồi năm 2008 đã hủy chuyến thăm Bahrain nhằm bảo vệ thương vụ bán máy bay Airbus cho hãng hàng không Gulf Air sau khi biết nó đã bị Boeing “nẫng tay trên”

LOBBY.VN
01-16-2011, 02:41 PM
Bill Clinton vận động hành lang để đưa World Cup trở lại Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/clinton-mick-jagger.jpg
Bill Clinton

Cựu Tổng thống Bill Clinton sẽ trực tiếp tham gia vận động hành lang trước thời điểm FIFA bỏ phiếu kín chọn nước chủ nhà World Cup 2018 và 2022 đầu tháng 12 tới

"Tôi rất hân hạnh đại diện cho đất nước trong cuộc vận động tranh quyền đăng cai một sự kiện có tầm quan trọng, ý nghĩa lớn lao với người Mỹ và các công dân khác trên toàn cầu như World Cup", thông cáo của Clinton hôm qua có đoạn

Cựu tổng thống 64 tuổi trước đó đã đồng ý làm Chủ tịch danh dự của Ủy ban vận động đăng cai World Cup 2022 của Mỹ. Ở World Cup 2010, Clinton đã cùng một số nhân vật khác trong ban vận động của Mỹ sang Nam Phi dự khán một số trận. Tại đây ông đã tranh thủ tiếp xúc để thuyết phục các Ủy viên ban chấp hành FIFA về việc đưa World Cup trở lại Mỹ lần đầu tiên kể từ năm 1994

Theo thông cáo của Clinton, ông sẽ có mặt tại trụ sở FIFA tại Zurich ngày 1/12 tới để tiến hành vận động hành lang lần chót. Ông cũng sẽ tham gia vào phần thuyết trình cuối cùng của đoàn Mỹ với các Ủy viên ban chấp hành trước khi FIFA tiến hành bỏ phiếu kín chọn chủ nhà World Cup 2018 và 2002 vào ngày 2/12

"Tôi rất tâm huyết với cuộc vận động này, bởi qua đó tôi nhận thấy động lực đoàn kết mạnh mẽ của World Cup, giải đấu đưa mọi người không phân biệt tuổi tác, thành phần xã hội hay đức tin tôn giáo lại gần nhau", thông cáo của Bill Clinton nói thêm

Sau khi trở về từ World Cup 2010 ở Nam Phi, Bill Clinton đã dành rất nhiều thời gian làm việc với Ủy ban vận động Mỹ về các sáng kiến để ghi điểm cho kế hoạch đăng cai World Cup 2022. Theo ông, Mỹ có một lợi thế lớn trong cuộc đua khốc liệt này là sự sẵn có nhiều sân vận động hiện đại cùng hạ tầng giao thông phục vụ sự kiện ở các thành phố dự kiến đăng cai World Cup

Ngoài Mỹ, có 4 ứng viên khác có mặt trong vòng cuối cùng cuộc đua tranh quyền làm chủ nhà World Cup 2022 là Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Qatar. Trong khi đó, World Cup 2018 là cuộc đua giữa Anh, Nga, liên minh Bỉ - Hà Lan và liên minh Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha

Lobby Vietnam Club: Nga đăng cai World Cup 2018, Qatar đăng cai World Cup 2022. Bill Clinton đã thất bại trong kế hoạch vận động hành lang đưa World trở về Mỹ

LOBBY.VN
01-20-2011, 10:17 PM
Kinh nghiệm vận dụng lobby trong kinh doanh


http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/image_gallery.jpg



Tại Hội thảo “Doanh nghiệp và hoạt động vận động hành lang” vừa diễn ra tại TP.HCM, các chuyên gia đã thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến vận động hành lang (lobby)

Theo GS. Stephen Walt (Mỹ), trong bối cảnh hiện nay của Mỹ, lobby là một hoạt động hoàn toàn hợp pháp. “Chúng tôi có một thể chế rất công khai về lobby. Một trong những yếu tố quan trọng của hoạt động này là hỗ trợ soạn thảo xây dựng luật”, GS. Stephen Walt nói

Tại Australia, lobby cũng được xem là hoạt động hợp pháp. Ông Alex Malley, Tổng giám đốc điều hành toàn cầu của Hiệp hội Kế toán - Công chứng CPA cho biết, ở Australia, lobby đem lại những tố chất tích cực cho hoạt động chính trị, thúc đẩy sự lành mạnh trong hệ thống chính trị

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó chủ nhiện Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cũng cho rằng, lobby là bộ phận của dân chủ hóa trong việc làm ra chính sách. Mặt khác, lobby giúp DN có thể nói ra những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình

Như vậy, lobby có khả thi ở Việt Nam không? Cần những điều kiện gì cho hoạt động này? Ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO (người có nhiều năm làm việc liên quan đến hoạt động lobby tại Mỹ) cho rằng, lobby là cần thiết trong cả chính trường lẫn thương trường

Kinh nghiệm qua vụ kiện chống bán phá giá cá tra tại Mỹ cho thấy, nếu không hiểu rõ hoạt động lobby của Mỹ, thì khi làm ăn với họ, DN Việt Nam sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Cụ thể, trong năm 2010, khi cá tra được vào danh sách 10 mặt hàng thuỷ sản ưa chuộng nhất nước Mỹ, lập tức, Hiệp hội Cá da trơn Mỹ (CFA) đã tung nhiều thông tin bôi xấu cá tra Việt Nam, cũng như lobby Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Chính phủ Mỹ. Vài tháng sau, DOC công bố quyết định sơ bộ tăng thuế chống bán phá giá từ 0% lên 130% với cá tra Việt Nam

Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng, trong vụ cá tra, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã khôn khéo lobby dựa vào đồng minh chính trong lòng nước Mỹ (những nhóm lợi ích có mâu thuẫn với nhau tại Mỹ). VASEP đã vận động Hiệp hội Cá da trơn Mỹ để đấu tranh cho việc này, nhờ đó đã đạt được những thắng lợi nhất định…

Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng, lobby là vấn đề cần thí điểm, chứ chưa thể đưa vào luật. “Cho phép lobby mà chưa có luật thì rất nguy hiểm. Hoạt động này cần phải làm thí điểm. Đó phải là kết quả hội ý của rất nhiều bên có lợi ích liên quan, như đại diện của các cơ quan nhà nước, các DN, hiệp hội DN, đại diện các tổ chức quần chúng…”, bà Ninh nói

LOBBY.VN
01-21-2011, 07:16 AM
Không ngại chuyện Mỹ bị nhóm lợi ích Trung Quốc “lobby”

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/LAD0938.jpg

GS Stephen Walt nhận định trong buổi trực tuyến với VietNamNet rằng chắc chắn sẽ có một số nhóm lợi ích liên quan đến doanh nghiệp, muốn chính sách dễ dàng và thỏa hiệp với Trung Quốc, tuy nhiên còn có nhóm lợi ích lớn hơn rất nhiều, họ sẽ biết nước Mỹ phải làm gì

Việt Nam có thể trở thành nhà hòa giải hiệu quả

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Ông nói phải đến Việt Nam để nhìn Việt Nam tận mắt xem thế nào. Vậy trong vòng mấy ngày ngắn ngủi thôi, ông thấy Việt Nam như thế nào ?

GS Stephen Walt: Tôi nhìn thấy rất nhiều điều ở đất nước các bạn. Điều đầu tiên tôi cảm nhận được đó là một nguồn năng lượng cực kỳ dồi dào và những tiềm năng vô cùng lớn để Việt Nam có thể đạt được những thành công nhiều hơn những gì các bạn đã đạt được. Tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy rất nhiều nơi ở Tp.HCM và ở Hà Nội có một mức độ phát triển cực kỳ đáng kể

Một điều tôi cũng cảm thấy bất ngờ và ấn tượng không kém đó là rất nhiều người dân Việt Nam có kiến thức và hiểu biết rất đáng kể về các vấn đề quốc tế, các vấn đề chính trị, kinh tế cũng như ngoại giao

Tôi nghĩ đó là một dấu hiệu rất tốt. Còn 2 điều nhỏ nữa mà tôi đã trải nghiệm được. Thứ nhất là các món ăn ở Việt Nam cực kỳ ngon. Vấn đề thức ăn ngon cũng không ngạc nhiên lắm vì ở Mỹ tôi cũng đã từng ăn món ăn Việt Nam rồi nhưng một vấn đề không hay lắm đó là vấn đề giao thông. Tôi thấy giao thông ở các thành phố Việt Nam còn tệ hơn giao thông ở Boston - thành phố mà tôi đang sống

Ở Boston thì ngày nào tôi cũng đạp xe đi lại thế nhưng nếu tôi thử đạp xe ở Việt Nam có lẽ tôi chỉ đi được khoảng 5 phút là cùng

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Việt Nam rõ ràng muốn làm bạn với các nước và muốn đóng góp vào thế giới, có trách nhiệm với thế giới để thế giới có trách nhiệm với mình. Nhưng về kinh tế và quân sự, Việt Nam không có nhiều khả năng. Vậy theo ông, Việt Nam sẽ làm gì để thể hiện vai trò trách nhiệm của mình với thế giới. Một nước không thể chỉ có nhận mà phải cho, vậy Việt Nam có thể cho thế giới điều gì trong tương lai ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất hay. Một việc mà Việt Nam có thể làm được một cách rõ ràng đó là chủ động và tích cực tham gia một cách có trách nhiệm vào các thể chế hợp tác trong khu vực

Ví dụ như ASEAN, Việt Nam phải chứng tỏ mình là một thành viên có khả năng lãnh đạo cũng như có những đóng góp mang tính xây dựng đối với những thể chế khu vực này. Việt Nam cũng cần phải cố gắng cải thiện uy tín và hình ảnh của mình trước thế giới, làm sao để thế giới luôn nhìn nhận Việt Nam là một đối tác trung thực, thẳng thắn, minh bạch trong bất cứ cuộc thương thảo nào

Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ rất nhiều nước đã chứng minh được rằng họ có thể trở thành những đối tác tốt đối với thế giới, bất chấp họ không phải là nước mạnh hay có quá nhiều những tiềm lực trong thế so sánh với các nước khác, ví dụ như Canada, NaUy, Thụy Điển ... Họ đều là những đối tác cực kỳ tin cậy trên thế giới cho dù họ không phải những nước lớn, không phải những siêu cường

Việt Nam có thể nhìn vào những nước đó để học tập và tìm được cảm hứng để có thể trở thành một nước tương tự như thế. Chắc chắn không ai mong muốn Việt Nam trở thành người lãnh đạo thế giới, ít nhất là trong tương lai gần thế nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành bạn của tất cả các nước trên thế giới bằng cách hành xử trung thực, có trách nhiệm và minh bạch với tất cả các quốc gia khác

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Ngoài ra, Việt Nam có thể đóng vai trò là trung gian hòa giải giữa các quốc gia, giữa các dân tộc trên thế giới trong các cuộc xung đột hay không, khi Việt Nam là một nước cũng đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ rằng điều này hoàn toàn có thể xảy ra và Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành người kiến tạo hòa bình cho thế giới bởi lý do như ông đã nêu ra. Việt Nam biết rõ hơn ai hết cái giá của chiến tranh, vì thế họ có thể giúp cho các nước trên thế giới hiểu được về cái giá của những cuộc chiến đó

Việt Nam có thể trở thành người trung gian hòa giải hiệu quả trong một số cuộc xung đột nhất định, đặc biệt là những cuộc xung đột mà Việt Nam không có liên hệ trực tiếp gì về lợi ích. Nếu Việt Nam tăng cường năng lực của các cán bộ ngoại giao và cán bộ chính quyền, tôi nghĩ rằng việc này hoàn toàn có thể thực hiện được

Mỹ không thể bị lobby bởi nhóm lợi ích Trung Quốc

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Bây giờ quay trở lại chuyện lobby. Ông là một chuyên gia nổi tiếng về lobby, có cuốn sách rất nổi tiếng về lobby. Vậy liệu nước Mỹ có bị thay đổi chính sách chiến lược của mình như ông đã nói bởi những nhóm lobby hay không ?

GS Stephen Walt: Ở Mỹ, các nhóm lợi ích là một hiện tượng cực kỳ phổ biến, sự tác động và ảnh hưởng của họ đến chính quyền cực kỳ lớn. Trong xã hội Mỹ có rất nhiều loại nhóm lợi ích và mỗi nhóm đều có phương cách riêng của họ để tác động đến các chính trị gia theo hướng có những chính sách lợi cho họ

Có thể lấy ví dụ như thế này, một số nhóm lợi ích quyền lợi của họ liên kết chặt chẽ với các chính sách quân sự như các công ty sản xuất vũ khí, hay các công ty buôn bán vũ khí. Các nhóm lợi ích về kinh doanh cũng có sự ảnh hưởng lớn ở Mỹ, họ sẽ không từ biện pháp nào để có thể tác động sao cho các chính sách và bộ luật đưa ra sẽ đứng về phía họ trong việc giúp họ làm ăn có lãi và kiếm thêm nhiều tiền hơn

Một ví dụ mà chính người Việt Nam cũng có thể nhìn thấy đó là hiệp hội các nhà chăn nuôi cá Da Trơn ở Mỹ, các bạn có thể nhìn thấy ngay tác động của họ như thế nào thể hiện qua vụ bán phá giá cá Basa Việt Nam. Ngoài ra còn có thể kể đến các nhóm lợi ích liên quan đến các sắc tộc, các dân tộc, tức là các nhóm người từ các nơi khác đến nước Mỹ nhưng họ vẫn có những lợi ích gắn chặt với đất nước quê hương của họ. Họ cũng là những nguồn tác động rất lớn tới chính quyền Mỹ

Cũng không thể không nhắc đến những nhóm các nhà hoạt động chính trị với những mục tiêu cụ thể, ví dụ như những người hoạt động về nhân quyền, những người hoạt động về môi trường. Chắc chắn cũng phải kể đến vai trò của những học giả và trí thức lớn ở Mỹ. Họ cũng là những nguồn có thể lobby với chính quyền

Tất cả những nhóm lợi ích này dù là cá nhân hay tập thể, họ đều có thể tham gia các hoạt động chính trị của Mỹ và có thể gây áp lực đến chính quyền phải thay đổi những chính sách. Để xác định nhóm lợi ích nào có tác động lớn nhất lại không phải một vấn đề phổ biến, nó phụ thuộc vào từng vấn đề được đề ra

Ví dụ vấn đề kinh doanh hay kinh tế thì các nhóm lợi ích liên quan đến các doanh nghiệp sẽ có tiếng nói lớn. Hoặc các vấn đề liên quan đến chính trị hoặc nhân quyền thì các nhóm hoạt động về nhân quyền cũng sẽ có tiếng nói lớn và cũng tương tự như các vấn đề khác

Nếu như bối cảnh hoặc vấn đề trở nên nguy hiểm, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia thì vai trò của những nhóm lợi ích này sẽ giảm xuống. Khi đó chính trị gia sẽ chủ động và quyết định điều gì là có lợi cho đất nước. Họ sẽ quyết định không phụ thuộc vào bất cứ nhóm lợi ích nào

TBT Nguyến Anh Tuấn: Có lẽ như thế người ta sẽ đỡ lo lắng hơn khi các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia của Mỹ có mặt tại Trung Quốc. Sẽ ra sao nếu họ vì lợi ích của Trung Quốc mà sẵn sang lobby ngược lại để các chính sách có lợi cho Trung Quốc ?

GS Stephen Walt: Tôi nghĩ không cần quá lo ngại về vấn đề này. Một mặt nước Mỹ rất muốn có mối quan hệ tốt về thương mại với Trung Quốc để hai bên cùng có thể thu được lợi nhuận. Thế nhưng những lợi ích về kinh tế đó cũng không thể ngăn cản được nước Mỹ hành động để bảo vệ lợi ích chiến lược của mình trong trường hợp Trung Quốc có thể đe dọa đến Mỹ

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Đúng như thế nhưng nhiều người vẫn lo ngại rằng, những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp, các ông chủ các doanh nghiệp họ quan tâm đến lợi ích rất nhiều. Như vậy, với lợi ích đó, lợi nhuận đó, họ bỏ tiền ra lobby, vận động tranh cử cho vị tổng thống nào đó. Vị tổng thống đó sau này lại phải trả lại hoặc có những hỗ trợ về chính sách chọ họ hay không ?

GS Stephen Walt: ...Cũng nên lo lắng nhưng cũng vừa phải thôi. Có một điều chắc chắn là bất cứ ứng cử viên nào muốn trở thành Tổng thống Mỹ đều không muốn đưa vị trí của nước Mỹ trở thành số 2 trên thế giới. Tất cả các nước đều muốn giàu nhưng các nước cũng muốn an toàn, an ninh

Chắc chắn sẽ có một số nhóm lợi ích liên quan đến doanh nghiệp, muốn chính sách dễ dàng và thỏa hiệp với Trung Quốc, tuy nhiên còn có nhóm lợi ích lớn hơn rất nhiều, họ sẽ biết nước Mỹ phải làm gì. Mặc dù Trung Quốc là một nước lớn nhưng họ cũng chỉ là một quốc gia, Mỹ làm ăn và giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới

LOBBY.VN
01-21-2011, 02:36 PM
Muốn vận động hành lang phải có tiền ?


Ở Mỹ phí vận động hành lang thường rất cao. Phòng Thương mại Mỹ chỉ tiêu tốn khoảng 20,8 triệu đô-la cho hoạt động vận động hành lang năm 2001 và đã tăng lên thành 72,7 triệu đô-la cho năm 2006. Khi "Lobby" đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ, thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay gây ảnh hưởng tới việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này, đặc biệt là quốc gia có quan hệ thương mại với Mỹ

Vận động hành lang là một bộ phận chính đáng, hợp pháp của thiết chế dân chủ, giúp cho các ý nguyện của cử tri, nhóm lợi ích đến được với chính quyền một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất; giúp mang những vấn đề quan trọng đến với bàn họp của nghị viện...

Ở Việt Nam vận động hành lang không có hàng rào pháp lý nên vẫn có nhiều hành vi của các thương nhân, doanh nghiệp tác động đến chính quyền tỉnh, trung ương như kiến nghị giảm thuế, thuyết phục chính phủ hỗ trợ đầu tư, cho thuê đất v.v... ở ở góc độ nào đó là lobby. Đối với những hoạt động hiện nay như thế này, khó khăn về tài chính khiến trên 70% các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam không đủ, thậm chí không có ngân sách, hơn nữa kỹ năng vận động hành lang không chuyên nghiệp, đa số bị biến thái thành hình thức hối lộ, "đi cửa sau"

Chúng ta đã chứng kiến những thất bại của mình khi bị các doanh nghiệp Mỹ kiện bán phá giá nhiều sản phẩm. Trong cuộc chơi này, rõ ràng chúng ta cần biết luật chơi vận động hành lang của Mỹ để doanh nghiệp Việt Nam không bị thất bại hay lép vế trước các chính sách Mỹ đưa ra

Nhưng như tựa đề bài viết luật sư Thân đã nói, để lobby cho hiệp hội các nhà xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ chúng ta phải chi khá nhiều tiền cho những điều đáng ra không phải chi này. Vậy chúng ta nên làm gì ?

Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần cân đối hai thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu để giảm thiểu rủi ro với các giao dịch thương mại có thể bị kiện tục bởi những chính sách của chính phủ nước nhập khẩu

Mặt khác các doanh nghiệp cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa đối với chính sách và sự thay đổi chính sách thuế quan và phi thuế quan để có biện pháp giao thương phù hợp

Chúng ta đã có quan hệ thương mại với Mỹ thì cần thiết và nhất quyết nên sử dụng dịch vụ pháp lý của các luật sư, ít nhất là hạn chế rủi ro, nhiều hơn là tránh được bị kiện tụng, không bỏ lỡ cơ hội thị trường tiềm năng và rộng lớn như Mỹ. Các luật sư thương mại công ty luật MTon và nhiều luật sư thương mại khác của Việt Nam cần phải tích cực hơn nữa giúp doanh nghiệp Việt Nam thấy rõ nhu cầu này

Chúng ta trả thù lao tư vấn cho luật sư tính ra chỉ bằng 5-10% thậm chí ít hơn so với việc khi chúng ta bị thiệt hại do bị áp thuế cao hoặc phải bỏ tiền ra thuê luật sư kiện ngược lại ra WTO. Thay vì dụng dịch vụ tư vấn pháp lý, nếu phí đó dùng vào việc lobby sản phẩm thì lợi nhuận thu lại có khi còn gấp rất nhiều lần

Rõ ràng tiền bỏ ra để lobby ở Mỹ không hề đắt chút nào, còn tiền trả thù lao cho luật sư tạo ra động lực cho các chính sách đó được ban hành nhanh hơn bởi doanh nghiệp và chính phủ Mỹ thường đánh giá cao và “kiêng nể” các doanh nghiệp đưa luật sư vào cuộc

Trên thực tế, đối với các tranh chấp thương mại, một luật sư không thể xử lý hết các vấn đề liên quan mà thường phải tổ hợp luật sư. Trong tổ hợp luật sư của công ty luật MTon Việt Nam còn có cả luật sư bản địa tham gia nên cũng có nhiều lợi thế khi “xung trận”. Nhưng phải nói chính doanh nghiệp và luật sư rất mệt mỏi nếu chẳng may phải tham gia tố tụng trọng tài hay tố tụng tòa án đối với các tranh chấp phát sinh. Vì vậy mong rằng các doanh nghiệp Việt Nam sớm thức thời và mời luật sư tham gia từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng

Luật sư Đào Xuân Thân (Công ty luật MTon Việt Nam) (http://www.mtonlawfirm.vn/index.php?option=com_co ntent&view=article&id=78:muon-van-dong-hanh-lang-phai-co-tien&catid=38:vu-viec-phap-ly&Itemid=49&lang=vi)

LOBBY.VN
01-27-2011, 07:13 AM
Lobby ở Việt Nam: không thể chỉ là đồng tiền qua lại

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/usdvnd3.jpg

- Vận động hành lang đã được thể chế hóa từ rất lâu ở nhiều nước, nhưng với Việt Nam, đây vẫn là lĩnh vực nhạy cảm. Cần thiết lúc này là một cơ chế minh bạch cho lobby

Vận động hành lang (lobby) đã được thể chế hóa từ rất lâu ở nhiều nước, nhưng với Việt Nam, có vẻ như đây vẫn là lĩnh vực nhạy cảm. Nhưng phải thừa nhận rằng, dù khoác tấm áo gì đi chăng nữa, lobby đã thực sự tồn tại ở nước ta từ lâu. Quan trọng là phải chính thức hóa nó một cách minh bạch, tránh để lobby chỉ còn là đồng đô la đi qua đi lại


Thể chế dân chủ khó ngăn cản lobby

Trần Sĩ Chương, người đã từng làm công tác lobby trong Quốc hội Mỹ, cho rằng chính trường như thương trường, và sản phẩm cực kỳ quan trọng của nó là thông tin. Thông tin phải đưa từ người dân đến chính quyền và chính sách ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Có khi người dân là người nhận thông tin hoặc người đưa thông tin và dòng thông tin phải lưu loát

Ông Chương dẫn ví dụ nếu một người nông dân ở Bạc Liệu có việc muốn lên Quốc hội thì việc tìm ai, nói cái gì và trình bày như thế nào thì phải có người chuyên nghiệp để biết tổ chức và đặt vấn đề

"Hai người ngồi với nhau là đã có nhu cầu lobby nhau rồi. Chúng ta lobby nhau hàng ngày," TS. Chương phân tích. "Vậy, trong một hoạt động tập thể hoặc hoạt động quốc gia, dĩ nhiên lobby là hoạt động cơ bản, tự nhiên. Nếu là tự nhiên thì nó nên được chính thức hóa và thể chế hóa"

Chính vì vậy, giá trị của lobby chính là ở sự minh bạch của nó. Minh bạch không có nghĩa nhà nước có quyền kiểm tra, kiểm soát và trừng phạt hành động của những người hoạt động lobby mà minh bạch là để những người làm trong hoạt động này có quyền kiểm soát nhau

Có thể coi nước Mỹ là nơi hoạt động lobby sôi nổi nhất thế giới cũng chính bởi sự tương tác và kiểm soat lẫn nhau của các nhóm lợi ích trên chính trường

"Lobby là một phần của hệ thống Chính phủ Mỹ. Chúng tôi có hệ thống rất mở và nhiều cách để đặt các nhóm ở Mỹ cố tác động đến chính trị gia khiến họ làm theo những gì mà họ muốn," Ông Stephen Walt, giáo sư Quan hệ Quốc tế, trường Hành Chính Kennedy, Đại học Harvard, khẳng định

Các nhóm lobby có thể trả tiền để đăng các bài báo gây ảnh hưởng tới công chúng, có thể quyên góp tiền cho các đảng phái chính trị tranh cử. Thậm chí, họ còn giúp đỡ các cơ quan lập pháp thảo các dự luật quốc gia. Tất cả các hoạt động này đều hợp pháp

"Lobby giúp các DN gây ảnh hưởng tới hệ thống chính trị một cách cởi mở và hợp pháp. Khi có một thể chế dân chủ thì rất khó để ngăn cản các hoạt động lobby," GS Walt nhấn mạnh

Tương tự ở Úc, lobby cũng là một hoạt động hợp pháp

"Nhưng bên cạnh lobby chính thức, một hoạt động nữa đang ngày càng trở nên phổ biến là tranh luận công chúng (public debate)," ông ông Alex Malley, Tổng giám đốc điều hành toàn cầu của Hiệp hội Kế toán Công chứng Australia, cho biết

Chính các tranh luận công khai trong người dân đã tác động trực tiếp tới nền chính trị Úc và nó cũng có tác dụng như một kiểu lobby chính sách


Đồng tiền là chất xúc tác chứ không thể tham nhũng


Theo GS Stephen Walt thì trong hoạt động lobby, đồng tiền đóng vai trò thúc đẩy. Nhưng đồng tiền đó hoạt động như thế nào, cách thức mà các nhóm quyết định chính sách và các nhà làm luật nhận tiền cũng như biến đồng tiền đó thành chính sách, đạo luật cụ thể thì cần được quy định rõ. Trên thực tế, luật của Mỹ quy định rõ những giới hạn của lobby

"Bạn không thể đưa thẳng tiền cho các chính trị gia để họ bầu cho những chính sách mà bạn muốn. Đó sẽ là một hình thức tham nhũng. Nhưng bạn có thể đưa tiền cho chính trị gia để giúp họ tái đắc cử. Hiện nay đã có quy định hạn chế số tiền mà cá nhân và doanh nghiệp được tài trợ," GS Walt chia sẻ

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm UB Đối ngoại Quốc hội, khẳng định trong một câu chuyện lobby ở Quốc hội, bà không hề nhìn thấy "đồng đô la đi qua đi lại". Khi đó, Việt Nam thông qua điều chỉnh Luật Doanh nghiệp và Đầu tư và bà Ninh đã cầm trong tay thư của Phòng Thương mại Úc, Phòng Thương mại Mỹ và Phòng Thương mại châu Âu đề xuất sửa đổi một số phần trong luật đó. Thực chất khi ấy người phương Tây đang lobby chính sách ở Quốc hội Việt Nam. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra yêu cầu in 3 bức thư đó lưu hành cho tất cả đại biểu quốc hội biết để cân nhắc

Quốc hội Việt Nam đã rất cởi mở tiếp nhận các đề xuất từ phía nước ngoài, thậm chí, theo bà Ninh là "cởi mở hơn cả Quốc hội Mỹ" bởi vì thực chất của lobby là vấn đề lợi ích. Các bên vận động chính sách cũng chỉ vì lợi ích của nhóm mình, hoặc vì lợi ích dân tộc nếu xét trên cấp độ quốc gia

"Trong xã hội lành mạnh, sẽ có lobby và counter-lobby (lobby ngược). Vấn đề của nhà nước là phải khách quan vì lợi ích cao hơn nữa," bà Ninh khẳng định

Theo bà, nếu có vài "đại gia" liên tục được được đề xuất tới Chinh phủ và một số doanh nghiệp khác rất cần đề đạt nhưng họ không tiếp cận được thì sân chơi không công bằng, không cởi mở và không dân chủ

"Vai trò của chính phủ là tạo kênh mở cho các nhóm lợi ích có thể đến nói cho chính phủ nghe. Quyết định cuối cùng vẫn là của chính phủ nhưng phải nghe các bên chứ không chỉ một bên," bà Ninh chia sẻ

Liệu Việt Nam đã đi lobby chính sách tại nước ngoài chưa ? Đâu là kinh nghiệm khi vận đồng hành lang bên ngoài lãnh thổ quốc gia ?

Lan Hương (http://vef.vn/2011-01-26-lobby-o-viet-nam-khong-the-chi-la-dong-tien-qua-lai)

LOBBY.VN
01-28-2011, 07:02 AM
Khi nhà ngoại giao Việt Nam xuất ngoại lobby

- Hội nhập càng sâu, Việt Nam càng cần vận động chính sách bên ngoài lãnh thổ để đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp Việt và lợi ích quốc gia. Khi chưa có những nhóm lobby chuyên nghiệp, các nhà ngoại giao vẫn đang đảm nhận công việc này. Chủ đề này đã được thảo luận sôi nổi tại Lễ công bố 500 DN lớn nhất VN 2010 (VNR500)

Ai cũng nói "vì nước, vì dân"

Lẽ đương nhiên, tất cả các nhóm lobby luôn cố gắng thuyết phục các nhà lập pháp, giới truyền thông và người dân tin rằng những gì họ làm là vì lợi ích quốc gia. Chẳng ai tự nhận rằng những gì chúng tôi làm chỉ là lợi ích nhóm, mặc dù sự thật mười mươi là như vậy

"Vấn đề là không có một định nghĩa chính xác nào cũng như không thể có sự đồng thuận hoàn toàn về thế nào là lợi ích quốc gia. Vì thế, các nhóm lobby hoàn toàn có thể tranh luận rằng những gì họ làm là vì quốc gia," GS Stephen Walt, Trường Hành chính Kennedy, ĐH Harvard phân tích

Giáo sư dẫn một ví dụ vào những năm 60s và 70s, có xung đột giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nên người Mỹ gốc Hy Lạp đã gây sức ép rất lớn để Chính phủ không bán vũ khí cho Thổ Nhĩ Kỳ. Họ cũng lập luận rằng điều đó là vì lợi ích quốc gia của Mỹ

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/thaoluanlobby2.jpg
Các doanh nhân, học giả thảo luận sôi nổi về chủ đề lobby tại Lễ công bố 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2010 (VNR500)


Trong một thể chế dân chủ thì các hoạt động lobby thường được mang ra thảo luận xem có thực sự vì lợi ích quốc gia hay không. Tuy nhiên, ngay cả ở Mỹ, trong nhiều trường hợp, có những nhóm lobby quá quyền lực, tới mức những gì họ làm không thể bị mang ra thảo luận và không có chính trị gia nào dám ra mặt phản đối họ, chẳng ai dám chọc giận họ

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm UB Đối ngoại Quốc hội và đại sứ Việt Nam tại nhiều nước châu Âu, cho rằng trong môi trường toàn cầu, dù các nước đều phụ thuộc và gắn kết chặt chẽ đến nhau, nhưng suy cho cùng, lợi ích quốc gia vẫn phải được đặt lên trên hết

"Ngày nay một nhà ngoại giao đi làm lobby cho đất nước phải hết sức hiểu nền kinh tế, xã hội và phải gần gũi với các chủ thể kinh tế xã hội. Lúc đó mới đem nghiệp vụ của họ đánh giá, phân tích cùng nhau chọn vũ khí gì," bà Ninh nhấn mạnh

Theo bà Ninh thì nhà ngoại giao kiêm vận động hành lang chỉ là người truyền thông, là nhà thương thuyết. Vũ khí chính phải do các doanh nghiệp và chủ thể trong nước tạo nên

"Lực là ở trong nước. Thế là của các nhà ngoại giao. Cả hai kết hợp với nhau tôi nghĩ may ra có thể thành công," bà Ninh chia sẻ

Hiểu thể chế để không bị "ăn hiếp"

Chính trường Mỹ khá minh bạch, nhưng hệ thống luật pháp Mỹ lại khá phức tạp nên ngay cả các quốc gia có truyền thông thương mại quốc tế lâu đời ở châu Âu và có nền văn hóa, chính trị tương đối gần gũi với Mỹ cũng phải tích cực lobby khi nhảy vào thị trường này. Đương nhiên, Việt Nam không thể bỏ qua hoạt động này

Bà Tôn Nữ Thị Ninh cho biết khi cá da trơn Việt Nam lần đầu bị áp thuế chống bán phá giá ở Mỹ, bà đang ở Brussels và nhận lệnh tìm hiểu xung quanh vấn đề này. Khi gặp trưởng bộ phận chống bán phá giá của Ủy ban châu Âu, họ nói VN chuẩn bị tinh thần chiến tranh hao mòn, phải xài nhà luật sư và lobby Mỹ thôi

"Ngay châu Âu thừa luật sư rất chuyên nghiệp nhưng khi có tranh chấp với Mỹ, họ phải thuê luật sư Mỹ. Không ai hiểu nổi ma trận luật kinh doanh ở Mỹ," bà Ninh kể lại

Đồng tình với ý kiến này, TS. Trần Sĩ Chương cho rằng khi làm việc với Mỹ hay bất kỳ ai, Việt Nam phải hiểu thể chế, vận hành của hệ thống chính trị chứ không nên cho rằng họ "ăn hiếp" mình. Đôi khi việc Mỹ áp dụng "trừng phạt" hoặc cắt giảm viện trợ cho nước ngoài vì những lý do rất... trời ơi. Nếu không tìm hiểu kỹ và có tác động với giới chính trị nước này thì chúng ta sẽ bị thiệt

Singapore là một ví dụ điển hình của một nước châu Á rất chủ động trong việc lobby chính sách tại Mỹ mà Việt Nam nên học tập. Họ có một đội ngũ nhân viên ngoại giao được đào tạo chuyên sâu về Mỹ, nhưng vẫn có cả một đội lobby chuyên nghiệp hỗ trợ

Ông Chương kể lại câu chuyện Singapore bị Quốc hội Mỹ "dọa" cắt viện trợ về môi trường lên tới cả chục triêu đô la một năm. Đích thân ông đại sứ Singapore tại Mỹ đã đến Quốc hội để hỏi lý do thì mới phát hiện ra là do một quý bà đại gia ở Wisconsin nhìn thấy một con cá vàng ở Singapore bị... đối xử sao đó ở Singapore nên quy ra đất nước này vi phạm bảo vệ môi trường. Bà mời ông nghị sỹ về nhà ăn cơm và đề nghị phải trừng phạt Singapore. Đại sứ Singapore sau khi biết lý do đã bay thẳng tới Wisconsin để giải trình với quý bà này. Sau đó mọi việc được giải quyết êm đẹp

Chính vì vậy, bà Tôn Nữ Thị Ninh đề xuất cần có đội ngũ lobby chuyên nghiệp hỗ trợ các nhà ngoại giao để đi vận động chính sách ở nước ngoài nhằm đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam


Lan Huong (http://vef.vn/2011-01-27-khi-nha-ngoai-giao-vn-xach-cap-di-lobby-quoc-te)

LOBBY.VN
02-05-2011, 06:39 PM
Chủ tịch HĐQT Alphanam
Xây dựng "Nguồn lực quan hệ" là rất quan trọng

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhh ung/Lobby%20Vietnam%20Club/mrHai1.jpg
Ông Nguyễn Tuấn Hải - Chủ tịch HĐQT Alphanam Group

Đầu xuân, chúng tôi đã có buổi trò chuyện khá cởi mở với ông Nguyễn Tuấn Hải - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Alphanam, về những trải nghiệm của 1 doanh nhân thành công

Alphanam không phải là 1 cái tên xa lạ, tuy nhiên ông Hải lại rất ít xuất hiện trên truyền thông. Hỏi ông về điều này, ông dí dỏm nói "ăn thì không nói, nói thì không ăn, vừa ăn vừa nói là nghẹn"

Xin chào ông, đầu tiên xin ông cho biết tại sao ông chọn tên doanh nghiệp là Alphanam ? Và cái tên đó liên quan gì tới triết lý điều hành doanh nghiệp của ông ?


Khi xây dựng công ty, lúc đó trong suy nghĩ của tôi đã hình thành ra một số tiêu chí để xây dựng một thương hiệu không phải chỉ cho một đời mình mà còn phải tồn tại hàng trăm năm, giống như các thương hiệu ở Tây

Chẳng hạn như đặt tên cho Công ty là phải không có dấu để bất kỳ nước nào cũng có thể đọc được và dưới 8 chữ cái (Theo một tiêu chí quốc tế)

Tôi đặt chữ A đầu là theo vần Anpha – hàm ý là luôn có tham vọng là người đứng đầu

Bên cạnh đó, triết lý của tôi là xây dựng một chuỗi lợi ích đồng hành. Mối quan hệ là xây dựng theo nguyên tắc công bằng

Tôi có công thức điều hành riêng trong vấn đề quản trị nhân sự 80% - 20%. Điều đó có nghĩa là 80% nhân sự cần ổn định, và 20% nhân sự là cần đào thải, thay thế liên tục

Ông đánh giá thế nào về xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, và Alphanam phải chuẩn bị những gì cho xu thế đó ?

Khi Việt nam gia nhập vào WTO, là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chúng tôi càng thấm thía được thời cơ và thách thức của nó

Thấy được đối thủ của mình giờ cũng đã mang tầm quốc tế, và bắt đầu phải đối mặt thực sự. Tôi luôn suy nghĩ trong mình khi hoạt động trên thương trường khi đối mặt với đối thủ là phải đánh thắng hoặc là cầu hòa chứ không để thua. Nếu đánh thắng được thì phải quyết tâm đánh thắng bằng được, nếu thấy không thể đánh thắng thì nhất định phải cầu hòa

Cụ thể, với sản phẩm thang máy Fuji thì Anphanam hiện nay là đứng số 1 tại Việt Nam về doanh thu, sơn Anphanam thì vượt qua nhiều đối thủ nhưng còn rất nhiều khó khăn trước những đối thủ khác đến từ Nhật, và chúng tôi đang liên doanh với một công ty của Nhật Bản để gia tăng sức mạnh cho mình

Ông có thể chia sẻ những khó khăn nào đáng nhớ nhất của những ngày đầu khởi nghiệp của mình ?

Tôi thì lại cho rằng, ngày đầu khởi nghiệp là quãng thời gian thuận lợi nhất. Lúc đó, tài sản của tôi bắt đầu từ con số 20.000 USD vào năm 1995. Tôi tiến hành thành lập công ty, những khoản chi phí lớn nhất lúc đó là thành lập doanh nghiệp, chi lương cho anh em, và mua tấm biển của Công ty hoành tráng (cười)

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh lại tốt, năm sau cao gấp nhiều lần năm trước. Tôi cho rằng, ngày đầu thành lập nghiệp của tôi rất là tốt, vào thời gian đó đất nước mới mở của nên thế hệ của chúng tôi có rất nhiều thuận lợi

Bây giờ hoạt động kinh doanh mới thấy khó khăn hơn, và mức độ khó thì ngày càng tăng lên theo thời gian

Kỷ niệm ấn tượng nhất là khi tôi định hướng chiến lược phát triển cho Công ty trong 5 năm đầu tiên thành lập, và đó là chiến lược tôi cho rằng rất đúng đắn. Từ bước đột phá đó, tôi mới có được thành công của Anphanam ngày hôm nay

Lúc đó tôi thực hiện chiến lược với 3 tiêu chí:

- Đầu tiên là làm thương mại tốt, xây dựng mối quan hệ, khách hàng và lựa chọn sản phẩm

- Sau đó là đầu tư vào mảng dịch vụ

- Cuối cùng là hoạt động sản xuất

Với chiến lược phát triển công ty 5 năm đầu như vậy, chúng tôi đã gặt hái được rất nhiều thành công, chỉ trong 4 năm Công ty đã lọt vào top 10 doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất Việt Nam

Khi những thuận lợi của cơ chế mở cửa ban đầu nhanh chóng qua đi, ông tiếp tục vận dụng những gì để xây dựng Alphanam thành công ?

Mỗi một giai đoạn, Anphanam trải qua những khoảnh khắc khó khăn khác nhau, vượt qua cái “Nguy” rồi tiến tới cái “Cơ”. Những điều mà Alphanam có được như ngày hôm nay đều là quyết tâm xây dựng được đội ngũ trí thức trẻ ngay từ ngày đầu tiên của Ban lãnh đạo Công ty

Trong hai nguồn lực mà bất kỳ CEO nào cũng quan tâm và chú trọng đó là tài chính và nhân lực. Thì còn một nguồn lực khác cũng rất quan trọng mà các sách lý thuyết bắt đầu phải nhắc đến đó là “nguồn lực quan hệ”

Anphanam cũng không nằm ngoài mối quan tâm đó, và xây dựng "nguồn lực quan hệ" trên 3 tiêu chí:

- Tin cậy: Quan hệ bằng chữ “Tín”

- Hợp tác cùng có lợi – Chuỗi lợi ích đồng hành

- Vận dụng chính sách, cơ chế, thời cơ,…đây là mối quan hệ đặc thù của Việt Nam

Mỗi một cá nhân, tổ chức có những cách xây dựng các mối quan hệ bằng cách khác nhau, mục tiêu khác nhau. Alphanam có cách xây dựng riêng của mình, và trong tương lai việc xây dựng những mối quan hệ này ngày càng quan trọng hơn

Quay trở lại với câu chuyện của Alphanam năm 2010, thương vụ phát hành cho đối tác chiến lược GEM và trái phiếu không chuyển đổi lợi tức 15% cho MB (NH Quân đội) đều có vẻ khá trục trặc, ông có thể nói rõ hơn ?

GEM là trường hợp đáng tiếc khi cả hai bên đã đi đến thống nhất được rất nhiều việc, nhưng quả thực là khâu thủ tục hành chính tại Việt Nam đã làm cho đối tác Mỹ rất bức xúc

Phía đối tác GEM của Mỹ cho rằng họ