Lobby & Quỹ đầu tư mạo hiểm

Discussion in 'StartUp Lobby' started by thoidaianhhung, Jan 9, 2008.

  1. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

    Bản Kế Hoạch Thành Lập
    Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Mạo Hiểm Espromote​


    Tên công ty: Công ty cổ phần đầu tư mạo hiểm Espromote
    Tên tiếng Anh: Espromote Venture Investment.JSC


    Theo báo cáo của chính phủ hàng năm các doanh nghiệp trong cả nước bỏ ra từ 5 đến 7 tỷ USD để nhập khẩu trang thiết bị máy móc công nghệ phục vụ cho sản xuất và sản phẩm công nghệ cao phục vụ cho tiêu dùng. Để tăng cường năng lực tự sản xuất trang thiết bị máy móc công nghệ phục vụ cho nền kinh tế nhằm giảm mức độ phục thuộc vào công nghệ nước ngoài chính phủ đã tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ trong nước phát triển.

    Chính phủ tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội. Chính phủ gia tăng đầu tư vốn máy móc trang thiết bị nghiên cứu hiện đại cho các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ. Các cơ quan hàng đầu về công nghệ trong nước này có thể tiếp cận và chuyển giao các công nghệ hiện đại của thế giới tới các doanh nghiệp công nghệ trong nền kinh tế.

    Chính phủ xây dựng các chương trình chiến lược quốc gia đầu tư vào công nghệ cao, chú trọng đưa đi đào tạo tại các nước phát triển đội ngũ chuyên gia đứng đầu các lĩnh vực công nghệ. Khởi tạo môi trường đầu tư kinh doanh công nghệ tại Việt Nam, chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu công nghệ cao Hòa Lạc Hà Nội và Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh kèm theo các ưu đãi đặc biệt cho việc đầu tư thành lập các doanh nghiệp công nghệ tại đây.

    Trong nền kinh tế tri thức công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng nhất là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế. Với những yếu kém về cơ cấu tổ chức tại các viện và trung tâm nghiên cứu hoạt động dưới nguồn vốn của chính phủ, những năm vừa qua đội ngũ nhân lực này chưa có đóng góp tương xứng vào tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Với những cải tổ mạnh mẽ trong giai đoạn 2006 đến 2009 chính phủ buộc các nhóm ứng dụng công nghệ trực thuộc các viện phải trở thành doanh nghiệp công nghệ. Hoạt động với động lực cung cấp các sản phẩm chất lượng đáp ứng cho nhu cầu của thị trường, hoặc các đơn vị nghiên cứu này phải giải thể.

    Chưa bao giờ các tổ chức khoa học công nghệ này và các nhóm nghiên cứu công nghệ độc lập lại đứng trước một thách thức buộc phải hành động như thời điểm này. Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản này sau một thời gian ngủ quên buộc phải làm việc để nhanh chóng đưa các nghiên cứu ứng dụng khả thi trở thành sản phẩm thực sự đáp ứng cho thị trường, đó cũng chính là con đường để họ tồn tại.

    Đội ngũ nhân lực được nhà nước gửi đi đào tạo tiếp cận công nghệ cao ở các nước phát triển mong muốn trở về đóng góp cho đất nước.

    Đội ngũ nhân lực khoa học trong nước và đội ngũ nhân lực được đào tạo ở nước ngoài chưa thể phát huy được hết kiến thức và khả năng để sản xuất ra những sản phẩm công nghệ cao các điều kiện trong nước. Một trong những yếu tố quan trọng đó là thiếu các tổ chức tài chính cung cấp các nguồn vốn mạo hiểm. Từ nguồn vốn có được đội ngũ công nghệ này có thể khởi tạo các doanh nghiệp từ những ý tưởng công nghệ đột phá mà họ đã xây dựng, nhanh chóng đưa các thành tự công nghệ này thành sản phẩm phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế nước nhà.

    Nguồn vốn của chính phủ thì đầu tư dàn trải không hiệu quả đặc biệt nhiều khi không được giao cho những dự án công nghệ khả thi. Các tổ chức tài chính như ngân hàng chưa xây dựng hướng kinh doanh vốn mạo hiểm cho doanh nghiệp công nghệ cao, chưa có đủ ngân lực để thẩm định những dự án như vậy đó là nguyên nhân mà đội ngũ làm công nghệ không thể tiếp cận nguồn vốn của các tổ chức tài chính trên. Đối với một cá nhân việc huy động vốn tự có để đầu tư vào dự án công nghệ là kế hoạch rủi ro và cơ hội thành công sẽ không cao. Hiện tại một số quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài đã hoạt động tại Việt Nam như IDG. Các quỹ đầu tư này mới chỉ cung cấp vốn cho một số nhỏ các lĩnh vực công nghệ có tỷ xuất lợi nhuận cao với các yêu cầu rất khắt khe về cơ hội đầu tư. Các quỹ đầu tư này chưa thể đáp ứng được nhu cầu vốn mà đội ngũ khoa học công nghệ trong nước đang cần để phát triển.

    Công ty cổ phần đầu tư mạo hiểm Espromote được thành lập đặt mục tiêu thu lợi nhuận từ việc cung cấp nguồn vốn tin cậy ở quy mô nhỏ. Espromote mong muốn trở thành đối tác chiến lược của đội ngũ khoa học công nghệ trong nước, hai bên sẽ cùng nhau khởi tạo và điều hành các doanh nghiệp công nghệ xuất sắc mục tiêu sản xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường về sản phẩm công nghệ cao. Espromote định hướng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ mới như: Hệ thống Nhúng, Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, điện tử và tự động hóa, khoa học vật liệu và công nghệ nano.

    Espromote đủ khả năng xây dựng mối quan hệ với các chuyên gia cố vấn là các GS, TS hàng đầu trên các lĩnh vực công nghệ ở Việt Nam. Espromote đã và đang xây dựng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn trong nước và một số tổ chức công nghệ nước ngoài. Với những khả năng liên kết các quan hệ hợp tác như trên Espromote tin rằng sẽ tham gia điều hành các doanh nghiệp công nghệ đi đến thành công.

    Trong giai đoạn phát triển 2 năm đầu tiên Espromote có nhu cầu vốn là 10 tỷ VND, sau hai năm Espromote tiến hành đánh giá hiệu quả các dự án đã tiến hành đầu tư và đề xuất nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

    Mục tiêu trong hai năm đầu tiên hoạt động Espromote trở thành thành viên hội đồng quản trị của 5 đến 7 công ty công nghệ tại Việt Nam. Mục tiêu sau 5 năm Espromote sẽ trở thành một trong những công ty đầu tư vốn mạo hiểm hàng đầu tại Việt Nam. Trong một tương lai không xa thương hiệu Espromote còn gắn liền với hình ảnh là nhà sở hữu điều hành chính quá trình sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Phát minh sáng kiếm do chính nguồn lực trong thương hiệu Espromote tạo ra nói riêng và của người Việt Nam nói chung, tự hào là sản phẩm công nghệ của người Việt.
     
  2. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    II.Phân tích sơ lược thị trường công nghệ tại Việt Nam​


    1.Thị trường dịch vụ công nghệ

    Sau khi mở cửa đất nước các cơ hội phát triển kinh doanh đến với mọi thành phần kinh tế trong cả nước. Với nguồn tài nguyên đa dạng, nguồn nhân lực dồi dào các thành phần kinh tế có nhu cầu mua các máy móc công nghệ để khai thác hiệu quả tối đa nguồn tài nguyên, sản xuất sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Do năng lực sản xuất chế tạo thiết bị công nghệ trong nước còn yếu kém nên đa phần các thiết bị công nghệ trên được nhập khẩu để cung ứng cho thị trường.

    Các sản phẩm công nghệ xuất xứ từ nhiều quốc gia trên thế giới với giá thành cao. Đối với sản phẩm công nghệ là đầu vào của dây truyền sản xuất thì hệ thống hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình vận hành sản xuất yếu kém làm cho các doanh nghiệp trong nước không khai thác hết công suất của thiết bị. Đối với sản phẩm công nghệ là sản phẩm tiêu dùng giá thành cao, công nghệ nhanh chóng lạc hậu làm cho đất nước tốn kém rất nhiều ngoại tệ mua các sản phẩm công nghệ mới này nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.

    Thị trường công nghệ phát triển nhanh là cơ hội kinh doanh cho các thành phần kinh tế có hiểu biết về lĩnh vực công nghệ. Đội ngũ kỹ sư và đội ngũ khoa học công nghệ trong nước, với kiến thức của mình họ hiểu được nguyên lý hoạt động và các sản phẩm cùng loại của các hãng danh tiếng trên thế giới. Với năng lực chuyên môn tương ứng họ thuyết phục được các hãng công nghệ nước ngoài để trở thành nhà đại diện độc quyền phần phối các sản phẩm công nghệ này ở Việt Nam. Đội ngũ này đồng thời gia cung cấp dịch vụ bảo hành sửa chữa máy móc cho các hãng công nghệ trên thế giới với khác hàng là đối tượng tiêu dùng trong nước.

    Nhìn nhận một cách tổng quan hầu hết các thành phần kinh tế tham gia hoạt động công nghệ đều chỉ dừng lại ở mức mua máy móc công nghệ nước ngoài và cung cấp dịch vụ gia tăng trên thiết bị công nghệ đó.

    2.Năng lực nghiên cứu sản xuất sản phẩm công nghệ

    Chúng ta chưa đủ năng lực đầu tư quy trình sản xuất cung ứng các linh kiện phụ kiện công nghệ từ trình độ thấp đến cao. Đội ngũ kỹ sư và nhà công nghệ được đào tạo trong và ngoài nước có đủ năng lực thiết kế và xây dựng mô hình máy móc công nghệ tương đương với nước ngoài. Đội ngũ này cần được cung cấp trang thiết bị phụ trợ để có thể lắp ghép lại thành các sản phẩm hoàn thiện nhưng hiện nay năng lực tự sản xuất và cung cấp sản phẩm phụ trợ này trong nước là rất yếu.

    Hoạt động kinh tế thế giới hiện nay là không biên giới không một quốc gia nào có thể tự mình cung cấp tất cả các giai đoạn của một sản phẩm hoàn thiện, mỗi quốc gia có sự phân công công việc khác nhau, có quốc giá chỉ làm nghiên cứu thiết kế sản phẩm và nghiên cứu thị trường. Quốc gia khác chuyên làm công việc sản xuất chi tiết các thiết bị phụ trợ, một quốc gia khác chuyên làm nhiệm vụ lắm ráp các thiết bị theo thiết kế của quốc gia đầu tiên. Mỗi một bước đều mang lại các giá trị gia tăng khác nhau trong đó quốc gia thực hiện việc thiết kế sản phẩm, nghiên cứu thị trường và phân phối sản phẩm là đạt được lợi nhuân cao nhất. Hiện nay Việt Nam chỉ tham gia như là quốc giá gia công lắp ráp sản phẩm với giá trị gia tăng thấp nhất.

    Trong thời gian ngắn Viêt Nam rất khó để trở thành một quốc gia cung cấp linh kiện phụ trợ, chỉ còn con đường trở thành quốc gia thực hiện công việc thiết kế các sản phẩm công nghệ theo nhu cầu của thị trường và thực hiện lắp ráp các thiết bị đó nhờ nguồn linh kiện nhập khẩu. Đây là những công đoạn mà sự thành bại chủ yếu phụ thuộc vào trình độ nhân lực và với nguồn vốn và nhân lực hiện tại chúng ta mới có cơ hội thành công.

    Trong thời gian qua đội ngũ kỹ sư và công nghệ trong viện nghiên cứu và các nhà nghiên cứu độc lập cũng đã thực hiện theo con đường trên. Đội ngũ nhà công nghệ này đã mua linh kiện rồi tự thiết kế lắp ráp thành các máy móc công nghệ hoàn chỉnh có chất lượng phù hợp với trình độ sử dụng tại Việt Nam và tương đương với sản phẩm nhập khẩu. Nhưng những sản phẩm này không hẳn được thị trường chấp nhận do sản phẩm không có thương hiệu, đa phần được sản xuất bởi một bộ phận cá nhân nhỏ lẻ nên không đạt được sự tin tưởng từ người sử dụng. Các tổ chức này đa phần do những nhà khoa học công nghệ tâm huyết thực hiện, họ không có nghiệp vụ thương mại, không có nhiều vốn để xây dựng thương hiệu riêng nên đa phần những ứng dụng này không được áp dụng vào thực tế. Đây là sự lãng phí lớn cho nền kinh tế, đó là nguyên nhân tại sao đội ngũ khoa học công nghệ chưa có đóng góp nhiều vào tốc độ tăng trưởng của đất nước. Đội ngũ nhà khoa học và công nghệ trong nước cần một tổ chức cùng tham gia, sẵn sàng chịu mạo hiểm cùng họ để đưa thành tựu ứng dụng khoa học trong nước ra thị trường.

    3.Yếu tố nước ngoài


    Từ những năm 2000 trở lại đây đất nước chúng ta đang đón nhận những cơ hội đầu tư mới từ các công ty công nghệ hàng đầu thế giới. Tại sao các công ty công nghệ lại để ý đầu tư đến thị trường Việt Nam, ngoài những ưu đãi do chính phủ khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực đặc biệt này, các nhà đầu tư còn nhìn nhận được nguồn nhân lực được đào tạo ở Việt Nam có thể đáp ứng được nhu cầu trong các nhà máy của họ. Đây là yếu tố quan trọng nhất để họ quyết định đầu tư, với hệ thống giáo dục khá tốt, hàng năm có hàng trăm ngàn kỹ sư công nghệ tốt nghiệp, với sức trẻ và khát vọng chinh phục công nghệ mới đó là động lực giúp công ty của họ thành công tại nước ta. Một thực tế đáng buồn là các công ty nước ngoài lại đủ khả năng nhận biết ra tiềm năng nhân lực đào tạo trong nước và sử dụng đội ngũ nhân lực này hiệu quả, các công ty trong nước với đầy đủ hiểu biết địa phương lại không có khả năng sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia mình đang sinh sống. Câu trả lời có thể là các công ty nước ngoài có tầm nhìn chiến lược xa hơn, dám chấp nhận rủi ro để khởi tạo thành công các công ty công nghệ tại miền đất mà trước đây chưa hề có khái niệm những công nghệ mới đó, các công ty trong nước không dám chấp nhận rủi ro nên chưa thể thành công trong lĩnh vực này.

    Một xu hướng nữa là các công ty công nghệ của Việt Kiều tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp dẫn đầu đang tìm hướng đầu tư khởi tạo các công ty công nghệ tại quê hương. Những lĩnh vực họ quan tâm như, phần mềm nhúng, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, điện tử và tự động hóa, công nghệ nano…Đội ngũ nhà khoa học công nghệ và doanh nhân Việt Kiều này họ muốn thực hiện chính các phát minh sáng chế của họ tại nhà máy ở Việt Nam, từ đây các thiết bị máy móc, sản phẩm công nghệ sẽ mang thương hiệu Việt một phần đáp ứng cho nhu cầu trong nước một phần phục vụ xuất khẩu.

    Tất cả các công ty công nghệ nước ngoài này khi vào Việt Nam đều muốn tìm các đối tác trong nước với điều kiện đã và đang hoạt động nghiên cứu kinh doanh các sản phẩm hoặc công nghệ tư đương. Đối tác trong nước đã đào tạo chuẩn bị sẵn một đội ngũ nhân lực chất lượng cao ban đầu, ngay sau khi có sự hợp tác hai bên có thể phát huy thế mạnh công nghệ của các đối tác nước ngoài và nhân lực chất lượng cao chi phí thấp trong nước tạo nên hiệu quả hoạt động kinh doanh to lớn.

    Đây là thị trường mở mà chưa có nhiều tổ chức tài chính trong nước tham gia đầu tư chuẩn bị các công ty công nghệ trong nước như trên nhằm đón nhận cơ hội hợp tác với các đối tác công nghệ lớn của nước ngoài. Để chuẩn bị số doanh nghiệp đủ lớn và đủ mạnh như trên chỉ còn cách duy nhất là đầu tư phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước, là bước đi nền tảng cho các cơ hội phát triển sau này
     
  3. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    III.Tầm nhìn ​


    1.Mục đích thành lập Espromote

    Các thành viên sáng lập Espromote nhận định rằng nhu cầu thị trường các sản phẩm công nghệ và dịch vụ công nghệ cao sẽ ngày càng lớn nhằm đáp ứng được tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước trong những năm sắp tới.

    Nhu cầu vốn và các dịch vụ hỗ trợ cho môi trường hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ phát triển sẽ ngày càng lớn. Để các hoạt động công nghệ trên được diễn ra chuyên nghiệp thì nhiệm vụ đầu tiên phải thành lập một tổ chức tài chính với tư cách pháp nhân và mục tiêu hoạt động hoàn chỉnh.

    Quyết định thành lập công ty cổ phần đầu tư mạo hiểm Espromote cho phép các thành viên sáng lập hoạch định chiến lược lâu dài cho tổ chức. Thực hiện ý tưởng xây dựng Espromote trở thành tổ chức tài chính uy tín, thân thiện cùng xây dựng và phát triển với đội ngũ nhân lực và công nghệ trong nước.

    2.Nhiệm vụ


    Trong 2 năm phát triển đầu tiên, Espromote phải đối mặt với những rủi ro khách quan. Ban giám đốc điều hành chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư công nghệ, môi trường hoạt động đầu tư vào công ty công nghệ khởi nghiệp trong nước mới hình thành. Tất cả những kinh nghiệm từ hai phía đầu tư và nhận đầu tư có được là học tập từ mô hình đầu tư của các công ty đầu tư mao hiểm nước ngoài, do sự khác biệt về văn hóa và môi trường sống mà rất nhiều yếu tố có thể thực hiện thành công ở nước ngoài những Việt Nam thì không. Cả hai phía cần chấp nhận rủi ro và tin tưởng sẽ tìm ra con đường thành công phù hợp với điều kiện Việt Nam.

    Espromote sẽ trở thành nhà đầu tư cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp. Espromote còn tham gia giúp đỡ xây dựng quy trình quản lý chuyên nghiệp trong các doanh nghiệp nhận đầu tư, Espromote trở thành đối tác thân thiện cùng phát triển.

    3.Chiến lược phát triển

    Chiến lược phát triển của Espromote được chia làm 3 giai đoạn:

    Giai đoạn 1

    Trong giai đoạn 6 tháng đầu tiên, đây là khoảng thời gian để ban giám đốc tìm kiếm hoàn thiện cơ bản đội ngũ quản lý và tiến hành các dự án đầu tư ở quy mô nhỏ.

    Giai đoạn 2

    Từ tháng thứ 6 đến hết năm thứ 2, quảng bá rộng rãi tầm nhìn và chiến lược đầu tư của công ty tiến hành mở rộng quy mô và lĩnh vực đầu tư.

    Giai đoạn 3

    Từ năm thứ 2 đến năm thứ 5, đầu tư nghiên cứu, mua, sở hữu các công nghệ nguồn. Xây dựng đội ngũ kỹ thuật và đầu tư nhà máy để nhanh chóng đưa các công nghệ trên thành sản phẩm thương mại trên thị trường.

    Mục đích trở thành thành viên hội đồng quản trị, không nắm quyền chi phối các công ty công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác nhau mà Espromote có khả năng đầu tư. Espromote sẽ quản lý được nguồn thông tin công nghệ vô cùng lớn, đội ngũ quản lý sẽ tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành nhanh chóng sau các dự án. Trong 2 năm đầu tiên hoạt động chiến lược như trên là hợp lý, những nền tảng kinh nghiệm và tầm nhìn công nghệ trên sẽ chuẩn bị cho Espromote sở hữu các công ty công nghệ của riêng mình trong tương lai
     
  4. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    IV.Định hướng đầu tư​


    1.Danh mục đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp


    Espromote định hướng đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên thuộc các lĩnh vực:
    -Phần mềm nhúng
    -Công nghệ thông tin
    -Công nghệ vật liệu mới
    -Công nghệ Hóa Học
    -Công nghệ Sinh Học
    -Công nghệ nano
    -Điện tử và tự động hóa

    Mục tiêu các doanh nghiệp công nghệ trên phải đưa ra được các sản phẩm công nghệ và dịch vụ công nghệ đang có tiềm năng và thị trương phát triển nhanh ở hiện tại và trong tương lai.

    2.Danh mục đầu tư công ty buôn bán thương mại sản phẩm công nghệ


    Hiện nay rất nhiều sản phẩm công nghệ mà năng lực sản xuất trong nước chưa thể cung ứng được đặc biệt như sản phẩm tiểu dùng công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ nano. Espromote hợp tác đầu tư với các đối tác phù hợp thành lập công ty với nhiệm vụ chuyên cung cấp sản phẩm công nghệ cao nói trên phục vụ cho nhu cầu thị trường.

    Lợi ích mang lại cho Espromote: Espromote có thể thu được lợi nhuận đầu tư trong thời gian ngắn, kiểm soát được thông tin sản phẩm công nghệ mới tại thị trường. Espromote có thể sử dụng hiệu quả một phần nhân lực tại các công ty công nghệ khởi nghiệp mà công ty đã đầu tư, nhân lực này tham gia nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm mẫu từ nước ngoài. Nghiên cứu đánh giá sản phẩm mẫu từ nước ngoài, tìm bí quyết công nghệ, sáng chế ra những dòng sản phẩm mới tốt hơn dựa trên nền tảng sản phẩm công nghệ đã có cơ hội tiếp cận.

    Tham gia thành công quá trình kinh doanh sản phẩm công nghệ cao góp phần nâng cao uy tín của Espromote trong cộng đồng hoạt động công nghệ.

    3.Quy mô đầu tư


    Trong giai đoạn đầu tiên Espromote tham gia đầu tư vốn từ 200 triệu đến 1 tỷ VND vào các dự án hoặc công ty công nghệ có tính khả thi cao, đây là giai đoạn khởi tạo thị trường, quy mô đầu tư vừa phải giúp giảm rủi ro cho nhà đầu tư và chia sẻ khó khăn với các đối tác tham.

    4.Điều kiện chấp nhận đầu tư


    Espromote tìm kiếm và đầu tư vào các công ty công nghệ thỏa mãn các điều kiện sau:
    -Đội ngũ sáng lập có quyền sở hữu công nghệ và ý tưởng công nghệ có khả năng cạnh tranh và thị trường tăng trưởng cao trong tương lai.
    -Đội ngũ lãnh trẻ tuổi đời dưới 35, tâm huyết,có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao
    -Dự án có tiềm năng phát triển bền vững và đột biến
    -Ý tưởng được hiện thực thành đề án kinh doanh khả thi
    -Đội ngũ sáng lập kêu gọi đầu phải đóng góp vốn ít nhất là 20% quy mô vốn của dự án

    V.Vấn đề pháp lý và cơ cấu tổ chức


    Pháp lý

    Espromote hoạt động dưới dạng công ty cổ phần, mục đích ngoài nguồn vốn ban đầu do các thành viên sáng lập đóng góp, trong quá trình hoạt động Espromote có thể tìm kiếm thêm các nhà đầu tư tiềm năng hợp tác cung cấp vốn, công nghệ và mô hình quản lý tiến cùng nhau tham gia đầu tư hiệu quả vào thị trường vốn công nghệ tại Việt Nam
     
  5. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    VI.Hoạt động​


    1.Hoạt động thu thập thông tin

    Đội ngũ điều hành tiến hành thu thập thông tin hoạt động khoa học công nghệ tại các trung tâm lớn như Viện Khoa Học công nghệ, các trường đại học lớn, Đại Học Bách Khoa, Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Công Nghệ tại miền Bắc và miền Nam. Thông tin tại các nhóm nghiên cứu xuất sắc, tìm kiếm dự án khả thi và để xuất cơ hội hợp tác.

    Theo dõi thông tin phát triển công nghệ của nước ngoài qua đó định hướng tìm hiểu thu thập thông tin trong nước, xác định những hướng đầu tư trong tâm ưu tiên thực hiện. Tham gia nghe các hội thảo khoa học công nghệ và báo cáo các đề tài khoa học công nghệ liên quan.

    Khảo sát đánh giá nhu cầu thiết bị máy móc công nghệ và sản phẩm công nghệ của thị trường trong nước. Đặc biệt đội ngũ điều hành phải đánh giá được xu hướng và nhu cầu của thị trường công nghệ trong tương lai, phân loại được nhóm doanh nghiệp với các nhu cầu công nghệ như thế nào.

    Trong một thời gian ngắn phải xây dựng được bản đồ phân bố nhân lực công nghệ, nắm bắt được danh sách các chuyên gia trong từng lĩnh vực công nghệ cụ thể.

    Xây dựng quan hệ tốt với tư cách công ty đầu tư công nghệ Espromote với các tổ chức khoa học công nghệ của nhà nước, từ đó chúng ta có thể nhận được các cơ hội cung cấp thông tin chính xác và những lời đề nghĩ hợp tác đầu tư từ những tổ chức trên.

    Xây dựng quan hệ với các doanh nghiệp có nhu cầu mua và nâng cấp công nghệ, những số liệu này giúp chúng ta có thể đưa ra các quyết định đúng đắn khi tham gia điều hành các công ty công nghệ mà Espromote đã đầu tư. Doanh nghiệp công nghệ trên sẽ phát triển công nghệ tương ứng cung cấp cho các doanh nghiệp mà Espromote đã có cơ hội nghiên cứu khảo sát.

    2.Hoạt động đầu tư

    a)Espromote tìm kiếm được thị trường sau đó đề nghị hợp tác với nhóm đội ngũ công nghệ có năng lực thực hiện mục tiêu đưa ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường.

    b)Espromote đã trở thành một công ty đầu tư uy tín, ban giám đốc sẽ nhận được các dự án công nghệ từ tổ chức hoặc nhóm cá nhân. Espromote cùng trao đổi với chủ dự án làm rõ mọi khía cạnh cả kỹ thuật cũng như kinh tế trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

    VII.Kế hoạch xây dựng đội ngũ nhân sự và quảng bá thương hiệu

    Nhân lực từ diễn đàn chuyên ngành

    Ban giám đốc của công ty là cá nhân tham gia hoạt động tích cực trên các diễn đàn chuyên ngành, chúng tôi nhận thấy những cơ hội hợp tác tại diễn đàn. Các diễn đàn chuyên ngành được xây dựng nhằm mục đích là môi trường giao lưu ảo giữa công đồng học sinh, sinh viên, chuyên gia công nghệ, thạc sỹ và tiến sỹ ở khắp mọi nơi trong cả nước và cộng đồng lưu học sinh ở nước ngoài. Rất nhiều trong số các thành viên của diễn đàn hiện đang theo học thạc sỹ hoặc nghiên cứu sinh tại các phòng thí nghiệm nổi tiếng tại Mỹ, Nhật, Đức…Các thành viên này đang tham gia trực tiếp các hướng nghiên cứu mới nhất hiện đại nhất mà thế giới đang theo đuổi.

    Espromote khi xây dựng được uy tín trong cộng đồng ảo này, công ty sẽ nhận được sự chia sẻ thông tin, đánh giá cố vấn cho các dự án dự định đầu tư trong nước, các thành viên có thể phân tích thông tin cố vấn xu hướng phát triển của lĩnh vực công nghệ Espromote đang định hướng đầu tư. Qua đó giúp Espromote hoạch định các chiến lược phù hợp để đón nhận cơ hội phát triển đó.

    Đội ngũ nhân lực này đều mong muốn sau khi học xong sẽ trở lập nghiệp trên chính quê hương, họ mong muốn có cơ hội và môi trương làm việc tốt trong nước. Ban giám đốc tin rằng khi chúng tôi đưa ra lời đề nghị hợp tác thì chính các thành viên này sẽ trở thành đối tác đầu tư tiềm năng trong tương lai không xa. Những chuyên gia này sẽ mang về Việt Nam các hướng công nghệ mới nhất và cơ hội để chúng ta rút ngắn thời gian tiếp cận đến trình độ công nghệ của thế giớ.

    Ban giám đốc hiện nay cũng đã thiết lập được một số quan hệ với các chuyên gia Việt Kiều Mỹ trong lĩnh vực công nghệ nano thông qua diễn đàn. Các chuyên gia này đang mong muốn tìm kiếm một đối tác phù hợp trong nước để có thể chuyển giao công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong nước. Có thể hợp tác Espromote chuẩn bị nhân lực và điều kiện vật chất trong nước phía chuyên gia cùng góp vốn để sản xuất sản phẩm công nghệ từ chính bằng phát mình sáng chế của họ.
    Đội ngũ chuyên gia này sẵn sàng là cầu nối để các công ty công nghệ trong nước tìm kiếm cơ hội hợp tác với các công ty công nghệ phù hợp ở Mỹ.

    Diễn đàn thực sự là một môi trường tốt để Espromote tìm kiếm thông tin, tìm kiếm nhân lực, xây dựng quan hệ hợp tác đầu tư với đội ngũ khoa học công nghệ trong và ngoài nước. Đây là một yếu tố mà các công ty đầu tư trong nước chưa thực sự khai thác được.

    VIII.Dự báo tài chính


    1.Chi hoạt động

    -Chi phí lương và thưởng cho ban điều hành
    -Chi phí di chuyển phục vụ hoạt động của ban điều hành
    -Chi phí hoạt động quảng bá
    -Chi phí thuê địa điểm, phí văn phòng
    -Chi phí thuế

    2.Tài chính đầu tư

    -Tiền vốn đầu tư vào các dự án
    -Chi phí tư vấn cho từng dự án nếu thấy cần thiết

    3.Các hình thức thu hồi vốn

    Với quyết định hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp Espromote có các hình thức thu hồi vốn sau:
    -Các công ty công nghệ hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty chi trả lợi nhuận thông qua cổ phần đóng góp
    -Espromote bán lại cổ phần cho đối tác khác có nhu cầu
    -Espromote xây dựng lộ trình đưa các công ty công nghệ hoạt động hiệu quả lên sàn và bán cổ phần sở hữu
     
  6. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Ở nước ta hiện nay các quỹ đầu tư hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư bất động sản, khu nghỉ mát, khai thác dịch vụ trên hạ tầng công nghệ nhập khẩu....Tìm một quỹ đầu tư về công nghệ có duy nhất IDG một công ty mới cung cấp vốn cho 1 số ít lĩnh vực rất nhỏ trong nhu cầu vốn cho thị trường công nghệ Việt Nam nói chung. IDG là một trong số những công ty thực hiện tài trợ dự án thành công và đó là một công ty nước ngoài chưa có một công ty trong nước nào thực sự tham gia thị trường này.

    Mình vừa tìm hiểu qua về lĩnh vực công nghệ của Israel, một đất nước có hơn 10 triệu dân nhưng có đến 80 quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ "Venture Capital Funds in Israel"

    Những quỹ đầu tư này thu hút vốn từ các tổ chức tài chính lớn nhất thế giới, rất nhiều tập đoàn công nghệ cao có chi nhánh quỹ đầu tư mạo hiểm ở đây như Siemens, LG, Samsung... đó là nguyên nhân giải thích tại sao trình độ công nghệ của Israel ngang bằng Mỹ và EU.

    Việt Nam có 80 triệu dân và cơ hội thành công trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm công nghệ còn rất lớn, chúng ta có quyền hy vọng sẽ sớm xuất hiện những công ty đầu tư của người Việt, tài trợ cho những dự án công nghệ của người Việt. Nước ta không còn là quốc gia tiêu thụ sản phẩm công nghệ nữa mà sẽ là quốc gia sáng tạo cung cấp công nghệ cao thế giới...

    "Ước mơ lớn của mình là thành lập được một quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ tại Việt Nam"

    Chia sẻ ước mơ đó cùng anh em chiến hữu, anh em cùng tham gia trở thành cổ đông của quỹ đầu tư mạo hiểm đó nhé.
     
  7. Trungvlkt

    Trungvlkt Guest

    Tán thành! Tán thành! Tán thành!

    Tớ hoàn toàn đồng ý và quyết góp sức cho giấc mơ của cậu! Àh ko, cho giấc mơ của chúng ta thành hiện thực.

    SẼ DỒN TOÀN TÂM SỨC CHO MỤC TIÊU NÀY.

    Trong vòng 1 tháng tới, những nhiệm vụ ưu tiên nhất của chúng ta là gì, tớ xin list tạm ra đây:
    1. Xây dựng lực lượng ban đầu cho espromote: 15 người. Cố gắng gồm nhiều anh em đến từ nhiều lĩnh vực, trước hết tập trung vào: embedded system, telecommunication, information technology.

    2. Xây dựng tầm nhìn cho espromte

    3. Lên được kế hoạch làm việc chi tiết trong 6 tháng.

    Deadline: 2008/01/31
     
  8. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    ĐẦU TƯ MẠO HIỂM

    Đầu tư mạo hiểm (Venture Investment - VI), vốn mạo hiểm (Venture Capital - VC) và Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund - VCF) được nghiên cứu lần đầu tiên tại Việt Nam từ năm 1991. Từ năm 1991 đến năm 1993, một nhóm nghiên cứu gồm Vũ Cao Đàm, Nguyễn Thanh Hà và Dennis Ray (Mỹ), đã thực hiện một số cuộc trao đổi bàn tròn tại Hà Nội và vào năm 1992, một seminar đã được tổ chức giữa nhóm nghiên cứu này với một số chuyên viên ngành tài chính, ngân hàng.

    Kết thúc giai đoạn nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được một số luận điểm và một số khuyến nghị về chính sách và luật lệ, được trình bày trong tập báo cáo kết thúc dự án “Finance institutions for S &T in Market Reform” do International Development Research Center (IDRC) tài trợ từ năm 1992.

    Đây là một thiết chế tài chính đặc trưng cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Nó đã không tồn tại trong hệ thống kinh tế chỉ huy và ngay cả trong một nền kinh tế thị trường chưa phát triển hoàn hảo. Bởi vì nó liên quan đến một phạm trù rất căn bản của kinh tế thị trường, đó là thị trường chứng khoán. Bài viết phân tích bản chất của VI với các đặc điểm, giai đoạn của nó, từ đó chỉ ra những cơ hội để hình thành VCF ở Việt Nam hiện nay.

    Vì sao cần “VI”?

    VI là thực hiện đầu tư vào hoạt động đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp hoặc đầu tư để lập ra một doanh nghiệp mới, mà đặc trưng cơ bản của nó là còn thiếu độ tin cậy về kết quả kinh doanh, chưa tỏ rõ khả năng sinh lợi của mình, những nơi mà các thể chế tài chính truyền thống (tín dụng, ngân hàng...) không để ý đến. Thay vì cho vay, họ đầu tư vốn để một công ty có thể phát triển, đồng thời có thể nhận lấy một tỷ lệ cổ phần không có lãi cố định hoặc quyền sở hữu cổ phần trong công ty mà họ đầu tư. Xét về bản chất, hệ thống tín dụng thông thường không thể thúc đẩy đổi mới công nghệ khi mà khả năng thành công về kỹ thuật và thương mại còn chưa rõ ràng.

    Trên thực tế, hệ thống tín dụng đã không đóng được vai trò gì lớn trong công cuộc đổi mới công nghệ của sản xuất. Lý do hoàn toàn đơn giản: Do bản chất kinh doanh của hoạt động ngân hàng, không thể thực hiện chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp, có rủi ro về khả năng thương mại, phù hợp với quy luật đổi mới công nghệ, trừ trường hợp Nhà nước có một chính sách hết sức ưu đãi cho việc này.

    Một công nghệ muốn đi vào sản xuất phải qua giai đoạn thử nghiệm, giai đoạn làm quen với thị trường. Thử nghiệm hoàn toàn có thể bị thất bại. Chế độ tín dụng ngắn hạn, lãi suất cao không thể thoả mãn những điều kiện của đổi mới công nghệ, nếu không muốn nói là nó bóp chết mọi ý đồ đổi mới công nghệ từ trong trứng.

    Chúng ta không thể và cũng không nên đòi hỏi ngành ngân hàng phải thực hiện chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp cho hoạt động đổi mới công nghệ. Đòi hỏi như thế là không hiểu biết về bản chất của hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Đương nhiên, các ngân hàng thương mại quốc doanh, với những khoản vốn lớn nhận được từ các nguồn như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các khoản tài trợ lớn của Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh châu âu (EU), có thể là những nơi có chế độ tín dụng dài hạn, lãi suất thấp, nhưng đổi mới công nghệ vốn chứa đựng những rủi ro kỹ thuật và thương mại, lại không thuộc đối tượng của những nguồn vốn này.

    Như vậy, muốn có một chế độ tạo vốn nào đó cho đổi mới công nghệ, phải đi theo một hướng tiếp cận khác phù hợp với kinh tế thị trường. VI giống như một cuộc đánh bạc của những nhà giàu chịu chơi, được ăn, lỗ chịu, một luật chơi chỉ có trong điều kiện phát triển thị trường chứng khoán, nó là lời giải cho những thách thức của trò chơi công nghệ trong nền kinh tế thị trường. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu thị trường công nghệ đã có câu nói bất hủ: “Công nghệ là trò chơi của người giàu, ước mơ của người nghèo và chìa khoá của người thông minh”. Chúng ta là người nghèo đi vào kinh tế thị trường. Nếu muốn chứng tỏ là người thông minh, chúng ta cần biết khơi dậy trò chơi mạo hiểm này của người giàu để tìm chìa khoá cho sự phát triển của mình. Một trong những trò chơi ấy, chính là sử dụng VC cho mục tiêu VI, và sự hình thành những VCF.

    Từ đâu “VI”?

    Cổ phiếu xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, ban đầu có lẽ không phải dành cho các nhà VI. Nhưng bản chất “đánh bạc” của cổ phiếu đã là một gợi ý rất quan trọng cho những người tham gia thị trường chứng khoán trong việc ném loại “tiền đánh bạc” này vào lĩnh vực đầu tư đổi mới công nghệ. “Đã đánh bạc, thì đánh bạc một thể” Đó có lẽ là ý tưởng rất quan trọng, từ đó hình thành loại VC, VI, và đi xa hơn là VCF.

    Các nhà tư bản khi ném tiền mua cổ phiếu đã phải tính toán đến sự lựa chọn giữa mạo hiểm và may mắn. Đầu tư đổi mới công nghệ được hiểu là mạo hiểm (thậm chí rất mạo hiểm), nhưng nếu thắng, thì sẽ giành được thế mạnh áp đảo trong cạnh tranh, sẽ thu về những khoản lợi nhuận siêu ngạch khổng lồ.

    Thực tế, quá trình đổi mới công nghệ của các hãng nổi tiếng trên thế giới, khi còn ở giai đoạn mới thành lập, chưa có nhiều vốn tự có, đã cho thấy, họ luôn có những vướng mắc liên quan đến việc tìm nguồn vốn, đến việc tìm các biện pháp khai thác những thành tựu của R &D với một lượng vốn đủ lớn để hiện thực hoá các kết quả của R &D.

    Những người ném tiền cho VC đã ý thức rất rõ ràng tính chất mạo hiểm của nó. Về bản chất, họ mang ý thức của kẻ đánh bạc, nhưng khác kẻ đánh bạc ở chỗ, họ đã phải xem xét khả năng thành công của những công nghệ mới sẽ được áp dụng. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa VI với đánh bạc, và đây cũng chính là lý do các VCF chứng minh được lẽ tồn tại của mình trong kinh tế thị trường.

    Đặc điểm của VI

    VI không tồn tại như một vật tự nó, mà phải có cơ sở kinh tế. Lẽ sống của VC là ở chỗ, nó đòi hỏi người ta bỏ vốn một cách dài hạn, nếu sinh lời thì cùng nhau ăn chia, nếu lỗ thì cùng nhau chịu, và tính mạo hiểm càng cao, thì khả năng sinh lợi càng lớn. Luật chơi này sẽ không thể tồn tại trong một hệ thống kinh tế “chộp giật”, không thể tồn tại với một hệ thống kiểm toán đang còn non yếu, và nhất là còn thiếu một hệ thống pháp luật có hiệu lực của nền kinh tế thị trường.

    Việc sử dụng đầu tư cổ phần không hưởng lãi cố định thay cho vay nợ giúp xoá bỏ tình trạng phải hoàn trả tiền vay theo kế hoạch định kỳ. Nó cho phép các công ty mới thành lập có thể đầu tư số tiền thu được để triển khai một ý tưởng mới về sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên công nghệ mới, đồng thời tạo ra một cơ sở vật chất mà công ty có thể sử dụng để thu hút thêm vốn từ bên ngoài, và nâng cao sự tín nhiệm của các tổ chức tài chính, các nhà cung ứng.

    Việc hỗ trợ tài chính thông qua hình thức cổ phần không hưởng lãi cố định tạo điều kiện cho các nhà VI chịu được những rủi ro từ các khoản đầu tư lớn vì một khoản đầu tư mang lại thành công và lợi nhuận lớn có thể thừa sức bù đắp lại một loạt những khoản đầu tư hoà hoặc lỗ vốn.

    Các VCF chuyên nghiệp cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ cho việc khởi xướng, gây dựng và mở rộng doanh nghiệp, cũng như nguồn tài chính cho quản lý /mua lại phần đầu tư lớn. Bên cạnh những đặc tính nổi bật này, một số quỹ có thể đi chuyên sâu vào các lĩnh vực công nghệ, như công nghệ thông tin hay sinh học, trong khi các quỹ khác lại đầu tư vào nhiều lĩnh vực công nghệ và phi công nghệ khác.

    Các công ty VI thường được thành lập dưới dạng các hợp doanh đầu tư vốn của các thành viên hữu hạn. Những thành viên này thường là các quỹ lương hưu tập thể, chính phủ, tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài, tập đoàn lớn, công ty bảo hiểm, các quỹ tự nguyện và thậm chí là các VCF khác. Khi các công ty VI thu hút được tiền từ các nguồn đó, họ tập hợp lại thành một qũy.

    Vai trò của VCF rất quan trọng trong giai đoạn bắt đầu sự đổi mới hay đột phá về công nghệ. Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc thử nghiệm công nghệ mới, sự không chắc chắn về tiến triển trong tương lai, các thị trường mở rộng, những trở ngại thấp và phi tiết kiệm quy mô.

    Khi kế hoạch kinh doanh được chấp nhận, các doanh nghiệp mới sẽ được đầu tư vốn. Để đáp lại, các nhà VI nhận được quyền sở hữu một tỷ lệ cổ phần đáng kể trong công ty mới, đồng thời được tham gia vào ban lãnh đạo công ty.

    Theo thời gian, tầm quan trọng của các kỹ năng kinh doanh và công nghệ giảm xuống, trong khi năng lực marketing và quản lý lại trở nên quan trọng hơn theo thời gian và cơ cấu của công ty mới thành lập trở nên hình thức hơn. Giai đoạn này, vai trò của VI chuyển từ sự chủ động can thiệp sang hình thức trợ giúp hoặc tư vấn.

    Vai trò của các nhà VI trong quá trình đổi mới đạt đến đỉnh cao khi họ “rời khỏi” các vụ đầu tư. Điều này thường được hoàn thành bằng việc nhà đầu tư bán cổ phần ra ngoài hoặc thông qua hình thức sáp nhập với công ty khác, nhờ đó các khoản đầu tư được chuyển thành vốn rút ra bằng tiền mặt được.
     
  9. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Các giai đoạn của VI

    Sự phát triển của một doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới và sự tham gia của VI có thể qua bốn giai đoạn như sau:

    Giai đoạn 1: Lúc này, các dự án kinh doanh mạo hiểm vẫn chưa có doanh thu từ sản phẩm và chưa sử dụng hoặc mới sử dụng rất ít vốn, điều đó thường chứng tỏ một đội ngũ quản lý chưa hoàn thiện nhưng có ý tưởng, kế hoạch và có thể có một vài phát triển sản phẩm ban đầu.

    Giai đoạn 2: Các dự án kinh doanh mạo hiểm vẫn chưa mang lại doanh thu từ sản phẩm, nhưng đã dùng một số vốn đầu tư, cho thấy sự phát triển sản phẩm đang được triển khai.

    Giai đoạn 3: Các dự án kinh doanh mạo hiểm đã tạo ra doanh thu từ sản phẩm, nhưng vẫn trong tình trạng lỗ.

    Giai đoạn 4: Các công ty có doanh thu lớn từ sản phẩm và hoạt động có lợi nhuận. Lộ trình của một doanh nghiệp từ lúc được đầu tư theo phương thức VI cho đến lúc ra thị trường chứng khoán có thể bao gồm các bước sau (số liệu là giả định):

    - Thiết lập: Một hoặc một số nhà doanh nghiệp, kỹ sư hoặc nhà nghiên cứu có ý tưởng công nghệ /sản phẩm mới bỏ 15.000 USD vốn thành lập công ty.

    - Khởi động góp VC lần thứ nhất: Để có thể phát triển sản phẩm mẫu /nguyên mẫu công nghệ, các sáng lập viên bán cổ phần (25%) cho các nhà VI để nhận về 100.000 USD, đưa giá trị công ty lên 400.000 USD.

    - Góp VC lần thứ hai: Để có thêm vốn, công ty phải hoàn chỉnh dự án và đưa ra chào bán. Dưới hình thức vốn VI, 2 triệu USD được góp vào để đổi lấy 50% cổ phần. Như thế giá trị công ty tăng lên 4 triệu USD.

    - Phát triển: Huy động vốn của toàn thể nhân viên của công ty. Công ty trao cho họ 15% cổ phần để lấy thêm vốn cho đầu tư mở rộng và cạnh tranh. Trong vòng 4 năm VI đem lại 13 triệu USD, kiểm soát 69% cổ phần. Tài sản của công ty bây giờ trị giá 32, 5 triệu USD.

    - Gia nhập thị trường chứng khoán: Qua 6 năm, sản phẩm đã phát triển tốt. Để tài trợ cho sự tăng trưởng, công ty phải bán 19% tài sản ở thị trường chứng khoán, thu về 21 triệu USD. Giá trị tích luỹ của công ty đạt 112 triệu USD. Các sáng lập viên chỉ còn sở hữu 9% cổ phần, nhưng giá trị cổ phần của họ đã lên tới hơn 10 triệu USD.

    Cơ hội hình thành các VCF ở Việt Nam

    Cho đến nay, Việt Nam mới có 3 loại hình tài chính chủ yếu cho phát triển sản phẩm dựa trên các công nghệ mới.

    Ngân sách nhà nước: Trước đây, ngân sách nhà nước chỉ cấp cho hoạt động R &D dưới dạng kinh phí sự nghiệp khoa học và chủ yếu là cho các viện nghiên cứu, trường đại học. Gần đây, một phần ngân sách đã được cấp cho các dự án sản xuất thử nghiệm. Đối tượng và hình thức cấp cũng được mở rộng, ví dụ cho các dự án có sự tham gia của các doanh nghiệp, hoặc các dự án ghi rõ địa chỉ áp dụng. Tuy nhiên, quy mô của nguồn tài chính này còn rất nhỏ bé, và cơ chế quản lý cứng nhắc đã gây khó khăn cho các hoạt động R &D và ứng dụng mang tính rủi ro cao.

    Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng đã có quy chế tín dụng cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ từ thập niên 80 của thế kỷ trước (Chỉ thị 16 và sau đó là Quyết định 270), nhưng không được thực hiện trên thực tế do cơ chế thị trường lúc đó chưa hoạt động, không tạo ra nhu cầu thực sự phải vay vốn. Đến nay, có thể nói cơ chế tín dụng không hoàn toàn thích hợp cho một số hoạt động R &D và đổi mới mang tính rủi ro cao, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập, chưa có tài sản thế chấp, chưa có thị trường ổn định...

    Đầu tư từ vốn tự có của các doanh nghiệp: Trong bối cảnh bước đầu công nghiệp hoá và mới chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phần lớn còn yếu và khả năng đầu tư từ vốn tự có là rất nhỏ bé.

    Như vậy, có thể thấy, các thể chế tài chính và nguồn đầu tư hiện tại chưa đủ đa dạng để tài trợ cho các hoạt động R &D, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, cần phải có những phương thức đầu tư tài chính mới như VI. VI trở nên quan trọng hơn khi một quốc gia muốn phát triển dựa trên những thành tựu khoa học và công nghệ mới. Trong khi đó, thị trường vốn không chính thức của Việt Nam có tiềm năng rất lớn chưa được khai thác. Một số lượng khổng lồ vốn nhàn rỗi trong nhân dân chưa được đưa vào sử dụng. Gần đây, một loạt các thể chế tài chính mới đã được thiết lập: Các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, quỹ bảo hiểm… với cả vốn trong và ngoài nước. Bản thân các thể chế tài chính đó cũng có nhu cầu tự nhiên là phải đầu tư để lấy lãi và tất nhiên, một trong những kênh đầu tư của họ có thể là các VCF. Một số yếu tố khác làm cho việc VI có thể khả thi ở Việt Nam là:

    - Việt Nam có một đội ngũ cán bộ nghiên cứu và mạng lưới các cơ quan R &D lớn. Đội ngũ và mạng lưới này đã tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu được đánh giá là “có giá trị và khả năng ứng dụng lớn”, nhưng cho đến nay vẫn ít được áp dụng. VI có thể thổi một luồng sinh khí vào lực lượng này.

    - Hệ thống luật pháp của Việt Nam đang được hoàn thiện dần, cho phép các tổ chức VI có thể hoạt động được. Ví dụ, Luật Doanh nghiệp hiện hành cho phép việc góp và rút vốn thuận lợi, dễ dàng; Luật Chứng khoán cho phép các loại hình quỹ đầu tư ra đời.

    - Thị trường chứng khoán đã hình thành và đi vào hoạt động. Trên thực tế, đã có một số VCF được thành lập ở nước ngoài nhưng nhằm vào thị trường Việt Nam, điển hình là Quỹ IDG Venture. Quỹ này đã huy động 100 triệu USD cho mục đích đầu tư ở Việt Nam, và đã đầu tư vào một số công ty non trẻ, nhưng có tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Một số quỹ đầu tư khác đã thành công trong các lĩnh vực đầu tư an toàn như bất động sản, doanh nghiệp cổ phần hóa, ví dụ, Vinacapital đang xúc tiến một VCF vào lĩnh vực công nghệ cao.

    Theo kinh nghiệm của nhiều nước, VI không phải là hình thức đầu tư đơn giản và yêu cầu phải hội tụ nhiều điều kiện mà Việt Nam còn phải cố gắng nhiều mới có được, ví dụ thái độ khoan dung với những công ty thất bại, óc mạo hiểm kinh doanh, tinh thần sáng tạo, vượt ra khỏi những thói quen và cách làm đã định hình.
     
  10. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Quỹ đầu tư mạo hiểm Nhật muốn đầu tư vào các doanh nghiệp Venture của Việt nam liên quan đến ICT

    Chào tất cả các bạn !

    Hiện nay, Công ty chuyên về đầu tư CAI (venture business) của Nhật đang tìm kiếm các nhà khởi nghiệp hoặc các doanh nghiệp trẻ đang hoặc trong quá trình triển khai kinh doanh liên quan đến lĩnh vực Internet (E-commerce, Mobile contents, Media, o­nline Advertisements...). Những doanh nghiệp trẻ này đang cần hỗ trợ về vốn và kỹ thuật để đầu tư cho dự án khởi nghiệp đang triển khai thì CAI sẽ xúc tiến đầu tư theo kiểu Venture investment bằng cách mua cổ phần của các công ty này và trở thành cổ đông chiến lược. Sau khi trở thành cổ đông chiến lược thì Công ty CAI sẽ support và tư vấn cho đối tác về technical, hõ trợ tài chính để doanh nghiệp trưởng thành.

    Nếu anh chị em nào hiện đang là nhà khởi nghiệp, hoặc có quen biết các doanh nghiệp trẻ mới thành lập đang kinh doanh lĩnh vực internet nói trên và đang có mong muốn kêu gọi vốn đầu tư thì xin hãy liên lạc hoặc giới thiệu cho mình với.

    Xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự hợp tác các bạn.
    Chi tiết xin liên hệ:
    Mạnh Dũng
    E-mail:dung@cai.co.jp or nguyenhosei0709@gmail.com
    Tel: 080-6533-7779

    http://www.nhatban.net/nb/forum/index.php?post_id=5427
     
  11. Thanks for your attention in our VCF. Now, we are finding enterpreuner who establishes ICT business to invest in. If you know any ICT potential projects, pls contact me at: dung@cai.co.jp or nguyenhosei0709@gmail.com

    Hope to have cooperation with you.
    Thx n rgds
    Nguyen Manh Dung
     
  12. Trungvlkt

    Trungvlkt Guest

    Dear Mr Dung,
    Thank for your regard. Glad to know you.
    Hope that you will coordinate closely with us to discover a number of opportunities in Vietnam.

    First discussion topic, what do you think about opportunity in embedded system outsourcing in Vietnam for Japanese market. I think the most Vietnam competitive advantages is potential human resource in embedded system. If we can deploy a business model [1 Japaneses engineer + 5 Vietnam engineer], I think we will success.

    Do you know USOLV company http://www.usol-v.com.vn/Default.aspx
    In my opinion, I think we can deploy above model better than USOL, which we can utilize the [advantages of Japanese technology, finance, brand ... + advantages of Vietnam human resource]

    Regards,
     
  13. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Welcome

    SoftBank Capital is an independent venture capital firm focused on early stage high growth technology based businesses benefiting from the rapid deployment and adoption of broadband and mobile technologies. We are a team of experienced entrepreneurs and investors who take a hands-on-approach to investing in order to help each portfolio company achieve its potential. SoftBank Capital offers entrepreneurs and their management teams valuable experience and resources, including our close association with SoftBank Corp. in Japan. We have direct market presence in two of the most significant areas for technology innovation and development with offices in Massachusetts and New York.

    Softbank Technology Ventures

    http://www.softbank.com/pages/home.html
     
    Last edited by a moderator: Nov 26, 2017
  14. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    MICROINVEST - Chắp cánh cho các ý tưởng lớn!

    Microinvest là Quỹ đầu tư phát triển thương hiệu số đầu tiên của Việt Nam. Microinvest được sinh ra không chỉ để đón chờ mà còn để thúc đẩy sự phát triển bùng nổ của ngành công nghệ thông tin và thương mại điện tử Việt Nam trong vài năm tới.

    Microinvest được thành lập với số vốn ban đầu là 10 tỷ đổng, trong đó Tập đoàn Truyền thông trực tuyến Micronet góp 51%, phần còn lại 49% được huy động từ các cổ đông chiến lược chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông quảng cáo.

    Microinvest coi các thương hiệu số được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin tiên tiến và internet rộng lớn là chìa khoá để giải quyết nhiều bài toán kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và của các nước đang phát triển nói chung.

    Do đó, Microinvest chủ trương khuyến khích các ý tưởng, dự án trực tuyến và thương hiệu số có khả năng tạo ra những thay đổi căn bản trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng như trong cuộc sống hiện đại, có tiềm năng giải quyết dứt điểm các vấn đề kinh tế xã hội tồn tại lâu đời gây trở ngại và lãng phí lớn cho các hoạt động của đất nước. Microinvest sẽ có mặt bất cứ lúc nào mà chủ nhân của các ý tưởng và thương hiệu số đó gặp khó khăn về tài chính, về giải pháp công nghệ. Chúng tôi sẽ góp vốn hoặc đầu tư mua lại để tái cấu trúc, tái thiết kế nhằm đưa doanh nghiệp trở thành một thương hiệu số thực thụ, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và có giá trị cao trên thị trường.

    Microinvest thừa hưởng và sử dụng tiềm lực tài chính, công nghệ và truyền thông của Tập đoàn Micronet sẵn sàng trở thành đối tác tin cậy, thậm chí phi lợi nhuận của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào để cùng nhau làm việc và xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững dựa trên nền tảng thông tin và tri thức.
    Việt Nam, ngày 01/01/2008

    MICROINVEST
    http://invest.com.vn/Content.aspx?id=6
     
  15. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Thư mời đầu tư

    MICROINVEST - Nơi hội tụ các nhà đầu tư thời đại số

    Về góc độ kinh doanh, ý tưởng thành lập Quỹ đầu tư Microinvest xuất phát từ lợi ích của một Liên minh giữa các tổ chức và doanh nghiệp vốn thuộc các ngành nghề rất quan trọng và sôi động trong thế giới Offline nhưng theo kinh nghiệm của các nước phát triển đi trước thì những doanh nghiệp này sẽ thực sự bùng nổ nếu gắn kết được các dịch vụ và sản phẩm truyền thống của mình với phương thức của thế giới trực tuyến trên mạng Internet. Sự kết hợp này đã trở thành xu thế tất yếu trong một nền kinh tế số hoá toàn cầu. Cụ thể đó là các ngành: Ngân hàng tài chính, Tư vấn đầu tư, Tư vấn luật, Tư vấn thương hiệu, Công nghệ thông tin, Truyền thông quảng cáo. Đó là một thứ lợi ích hoàn toàn mới nhưng hoàn toàn có thật, đầy tiềm năng và đang ngày càng lớn hơn trên môi trường internet.

    Sự có mặt của Microinvest sẽ như một sợi dây liên kết các công ty và tổ chức nói trên với nhau, để cùng xây dựng một chiến lược phát triển và chia sẻ những giá trị kinh tế từ sự phát triển bùng nổ của kinh doanh trên mạng và quảng cáo trực tuyến đem lại.

    Dù hiện tại công ty hay tổ chức của quý vị đang hoạt động trong lĩnh vực gì, đang đầu tư vào đâu, đang tiếp thị bằng cách nào, đang chăm sóc khách hàng ra sao ... thì chỉ trong vòng 3 đến 5 năm nữa, tất cả sẽ đều chủ yếu diễn ra trên mạng internet thông qua giao diện của các website, thông qua dịch vụ của các thương hiệu số, thông qua ảnh hưởng của các kênh truyền thông trực tuyến. Do đó, ngay từ bây giờ, hãy đầu tư và chuẩn bị trước cho sự nghiệp kinh doanh của mình một vị trí thực sự vững chắc trên môi trường mạng, vì nếu bạn không làm như vậy thì phần lớn các đối thủ cạnh tranh của bạn cũng sẽ làm như vậy.

    Microinvest được thành lập với số vốn ban đầu là 10 tỷ đồng, trong đó 51% được đóng góp bởi Tập đoàn truyền thông trực tuyến Micronet, 49% còn lại được chia thành 49 xuất, mỗi xuất 100 triệu đồng và sẽ được huy động từ các công ty hàng đầu trong các lĩnh vực nêu trên. Đây chính là cơ hội lớn để trở thành các cổ đông sáng lập trong một liên minh đầu tư thời đại số đầu tiên tại Việt Nam.

    Dự kiến Quỹ sẽ đi vào hoạt động ngay sau khi hội tụ đủ số cổ đông và hoàn thành thủ tục thành lập. Từ ngày 1/6/2008, Microinvest sẽ bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đăng ký trở thành cổ đông sáng lập của quỹ tại Trụ sở số 02 - Villa E - The Manor - My Dinh - Tu Liem - Ha noi. (Xem thủ tục đăng ký)

    Khi đi vào hoạt động, Microinvest tập trung vào 03 mảng chủ yếu:

    1. Đầu tư hoặc mua lại các ý tưởng, các dự án và các doanh nghiệp đang điều hành các website thương hiệu số có giá trị. (Trong đó ưu tiên đầu tư phát triển các dự án quan trọng từ nguồn của Tập đoàn Micronet, như mạng thương mại quốc tế WTO.VN, mạng doanh nghiệp số DOANHNGHIEP.VN, mạng thương hiệu quốc gia THUONGHIEU.VN, và các sàn giao dịch quan trọng như PROJECT.VN, PROJECT.COM.VN...)

    2. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường thương hiệu số tại Việt Nam. Bao gồm việc khuyến khích và hỗ trợ các chương trình hoạt động, các công trình nghiên cứu, các sàn giao dịch thứ cấp và trung tâm giao dịch cổ phiếu của các công ty thương hiệu số.

    3. Tham gia tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp, các cá nhân trong việc giao dịch chuyển nhượng các thương hiệu số, dự án số.

    Thông qua các hoạt động và chiến lược đầu tư chuyên nghiệp và toàn diện như trên, Microinvest hy vọng sẽ tạo được một cú hích mạnh, đem đến một tương lai đầy hứa hẹn cho ngành kinh doanh và quảng cáo trực tuyến Việt Nam, đồng thời đem lại những lợi ích to lớn về tài chính và quảng bá thương hiệu cho các cổ đông của Quỹ.

    Trân trọng hợp tác!
    Microinvest
     
  16. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Bắn cung... tìm vốn!

    Vì những nguồn tài trợ dự án trong nước hiện còn ít ỏi, việc tìm vốn đầu tư, nhất là cho những dự án công nghệ cao từ trong nước, chỉ còn một lối thoát duy nhất là hướng đến những nguồn vốn ở nước ngoài. Liên lạc với những "thiên thần" tài trợ (angles), và những quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital funds) bạn chưa hề thấy mặt, mà chỉ biết qua thư từ điện tử thì tương đối phức tạp hơn. Trước mắt, để lọt qua ngưỡng cửa của họ, có lẽ chúng ta cũng nên bàn thêm chút ít về thuật... "bắn cung"!

    Cầm một cây cung trên tay, đứng cách bia trăm thước mà bắn trúng hồng tâm đã là chuyện khó. Thử tưởng tượng nay nếu bị bịt mắt lại thì làm thế nào để có thể bắn trúng hồng tâm? Có lẽ bạn cho rằng điều này chỉ có thể xảy ra trong những chuyện kiếm hiệp của Kim Dung nhưng thực ra thì việc này không khó lắm đâu chỉ vì bạn không hề bị hạn chế bởi số tên có thể bắn đi. Do đó nếu cứ tiếp tục bắn mãi về hướng tấm bia... thì trước sau rồi thế nào cũng có một phát tên trúng đích!

    Chuyện tìm vốn tài trợ dự án cũng chỉ thế thôi. Tìm được một nguồn tài trợ cho dự án của mình cũng tương tự như đã bắn trúng hồng tâm, và muốn thế thì dù có bị bịt mắt đi nữa mà cứ bắn ra thật nhiều "phát tên" rồi thì thế nào cũng sẽ có một phát trúng đích.

    Vào thời buổi này dù ở bất cứ nơi nào, chỉ cần lên mạng Internet là bạn sẽ có thể tìm thấy địa chỉ liên lạc của những quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà tài trợ vốn đầu tư khắp thế giới. Cái lỗi thông thường sau đó là người cần tìm vốn đầu tư cứ theo danh sách địa chỉ đó mà tha hồ email toàn bộ bản dự thảo tài trợ dày cộm đến cho họ rồi... rung đùi ngồi nhà chờ tin vui! Tuy nhiên vấn đề không giản dị như vậy vì nếu không biết vót những mũi tên thật thẳng và gọn nhẹ thì dù có bắn bao nhiêu phát tên đi nữa cũng sẽ chẳng có chiếc tên nào bay được đến nơi chứ đừng nói đến việc trúng đích! Vậy thì thế nào là những mũi tên "tốt"?

    Với việc thông tin liên lạc dễ dàng ngày nay, số dự thảo tìm vốn đầu tư gửi đến những quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà tài trợ ngày càng gia tăng. Thời giờ của họ càng trở nên cực kỳ eo hẹp và vì thế bạn nên hết sức cẩn thận khi bắn đi "phát tên" đầu tiên của mình. Điều cần ghi nhớ là tuyệt đối tránh không nên gửi toàn bộ bản dự thảo kinh doanh đến cho họ vì những tài liệu quá rườm rà, mất nhiều thì giờ để download qua mạng internet và tốn công để đọc, sẽ có khả năng đi thẳng vào... sọt rác của họ mà thôi!

    "Phát tên" đầu tiên mà bạn bắn đi do đó chỉ nên là một lá thư ngắn kèm một bản tóm lược (Excutive summary) tập sự thảo kinh doanh chỉ tiết của bạn, và tất cả không nên quá một megabyte khi gửi qua mạng. Mục đích chính là làm sao để người nhận chỉ trong dăm phút đầu đọc lướt qua là có thể nắm bắt được hết những ý chính của dự án, và sẵn sàng muốn gặp bạn để tìm hiểu và bàn bạc thêm.

    Một bản tóm lược như thế chỉ nên dài không quá ba trang và gồm bốn mục chính:

    1. Giới thiệu tổng thể về dự án:

    Nên đi thẳng vào vấn đề bằng cách giới thiệu về ngành nghề hoạt động của bạn và thị trường đối tượng (target market) mà bạn muốn nhắm đến. Sau đó nên nói sơ qua về tình hình cạnh tranh và cho thấy những yếu tố chính khiến sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn vượt trội các đối thủ khác.

    Nếu là một sản phẩm hay dịch vụ mới thì ngay trong phần đầu này, mục đích của bạn là làm sao để người đọc phải... vỗ đùi thán phục và đồng ý rằng cái nhu cầu mà bạn tìm thấy cùng cách giải quyết của bạn thật độc đáo. Họ sẽ tự hỏi rằng tại sao không ai khác đã nghĩ ra trước, và giờ đây chỉ còn một cách duy nhất là họ cần phải hợp tác với bạn!

    2. Tình hình hiện tại:

    Trình bay một số dữ kiện về công ty của bạn, ai hiện là những người lãnh đạo, thành lập khi nào, vị thế trong ngành kỹ nghệ đang hoạt động ra sao, và nếu công ty đã hoạt động rồi thì kết quả lâu nay thế nào, đang gặp những trở ngại gì. Đối với một dự án mới thì cần cho biết là bạn đã tiến hành đến giai đoạn nào, chẳng hạn như là bạn đã khám phá ra cái "nhu cầu" đặc biệt và chế tạo được một "sản phẩm" để thỏa mãn nhu cầu ấy, nay được quá nhiều khách hàng ủng hộ nên cần phải gấp rút gọi thêm vốn để phát triển sản xuất v.v...

    3. Yếu tố thành công:

    Nên thuyết phục rõ ràng về những yếu tố quan trọng nhất đã và sẽ mang lại thành công cho dự án của bạn. Nếu là một dự án mới thì nên đưa ra những chi tiết như tên tuổi và thành tích của những nhân vật chính trong công ty, ghi ra những bằng sáng chế đã có và kết quả khảo sát thị trường v.v...

    4. Tính hình tài chính và nhu cầu tài trợ:


    Sang phần này thì bạn không nên rụt rè mà phải ghi rõ số tiền cần tài trợ, hình thức tài trợ, bao giờ thì cần vốn mới, tiền sẽ dùng vào việc gì và khi nào thì bạn có thể hoàn vốn. Nếu là dự án mới thì cần cho biết là bạn đã có những nguồn vốn nào từ trước đến nay, bao nhiêu là số tiền đóng góp và tỷ lệ cổ phần của bạn. Nếu là dự án mới thì số tiền mà bạn cần tài trợ cũng nên... nhiều hơn con số ban đầu đã dự định vì kinh nghiệm cho thấy là trong thực tế thì bao giờ số chi phí cũng luôn cao hơn dự trù.

    Sau khi trình bày bốn điểm trên đây thì bạn cũng nên thêm một ít hình ảnh hoặc sản phẩm đã chế tạo, hoặc mô hình nhà máy trong tương lai v.v... tuy nhiên chớ nên đưa quá nhiều vào phần phụ lục mà "phát tên của bạn lại trở nên nặng nề.

    Điểm quan trọng cuối cùng là việc lá thư và bản dự thảo tóm tắt của bạn cần được viết bằng tiếng Anh chuẩn. Đây là một vấn đề mà những người không quen dùng tiếng Anh thường mắc phải. Người viết bản dự thảo thường không thấy điều này nhưng người đọc thì sẽ nhận ra ngay những lỗi hành văn căn bản để rồi bị phân tâm và không còn chú ý hoàn toàn đến những điểm quan trọng khác mà bạn muốn trình bày. Do đó nếu không quan viết bằng tiếng Anh thì cách hay nhất là bạn nên tìm một người thông thạo để giúp.

    Sau khi đã chuốt "phát tên" đầu tiên của bạn thật gọn nhẹ và thật thẳng thì khi bắn đi, xác suất thành công chắc chắn sẽ tăng hơn trước rất nhiều. Bước kế tiếp là sẽ bắn tên về hướng nào. Đối với những sản phẩm công nghệ cao thì trước khi nhắm thật xa về hướng Silicon Valley ở Mỹ, bạn có thể tìm đến những nguồn vốn từ các nước trong vùng, mà đặc biệt nhất là ở Singapore vì thị trường vốn tại đây tương đối phát triển nhất ở Đông Nam Á. Sau khi gửi lá thư đầu tiên, bạn có thể bay từ Việt Nam sang để trực tiếp gặp mặt những nhà tài trợ hoặc những quỹ đầu tư mạo hiểm tại đây. Khéo sắp đặt thì bạn có thể viếng thăm năm hay sáu đối tác trong một chuyến đi ngắn và vì Singapore rất gần Việt Nam nên việc đi lại để tiếp tục triển khai dự án sau này cũng sẽ dễ dàng hơn.
     
  17. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Think Globally, Act Locally !

    "Chiến lược tập trung xây dựng quan hệ với công đồng chuyên gia Việt Kiều và các công ty công nghệ Việt Kiều tại Mỹ"

    Xin giới thiệu công ty EDI một công ty do tỷ phú Việt Kiều Mỹ sáng lập. Mr Trung Dũng là người năm 1984 đặt chân lên đất Mỹ với 2 USD năm 2001 ông bán công ty Ondisplay với giá 1.8 tỷ USD. Câu chuyện thành công của ông được ghi lại trong cuốn sách "Giấc Mơ Mỹ" !

    MANAGEMENT TEAM

    Thuy Mai, Chairman and CEO
    John Nguyen, Chief Strategy Officer
    Hung Pham, Chief Operating Officer
    Huan Le, Chief Administrative Officer and General Counsel
    Peter Edlund, Senior Vice President of Sales and Marketing
    Michael Neadeau, Vice President of Sales
    Eric Braswell, Senior Director of Global Channels
    Jean Respass, Director of Client Relations and Project Management
    Trent Hicks, Corporate Controller


    Thuy Mai, Chairman and CEO

    Mr. Mai is responsible for overall company management, direction and strategy. Prior to DiCentral, he was co-founder of Maingate Corporation. With over 20 years of industry experience, he has worked for United Space Alliance, Unisys, and AT&T Bell Laboratories. Mr. Mai earned a B.S. in Mathematics and Computer Science, and an M.S. in Electrical Engineering and Computer Science from the University of Illinois at Chicago.

    John Nguyen, Chief Strategy Officer

    Mr. Nguyen is responsible for the company’s business strategy. Prior to DiCentral, he was an equity research analyst at Lazard Freres Co & LLC. With over 20 years of technology industry experience, he has worked for AT&T, Siemens, Alcatel, and Nortel. Mr. Nguyen earned an M.S. and B.S. in Computer Science from the Illinois Institute of Technology and Aurora University in Chicago, Illinois.

    Hung Pham, Chief Operating Officer

    Mr. Pham is responsible for the company’s engineering and technical resources. With over 20 years of industry experience, he has worked for United Space Alliance and General Dynamics. Mr. Pham attended Saigon Medical School in Vietnam and earned a B.S. in Electrical Engineering from the University of Houston.

    Huan Le, Chief Administrative Officer and General Counsel

    Mr. Le is responsible for the company’s human resource and legal departments. Before DiCentral, he was Director of Risk and Corporate Counsel at Healix Infusion Therapy, Inc. Previous to Healix, Mr. Le was an associate in the corporate section of Zeleskey Cornelius Hallmark Roper & Hicks. He received his JD from the University of Texas School of Law and his BA in International Relations and Biology from the University of Southern California.

    Peter Edlund, Senior Vice President of Sales and Marketing

    Mr. Edlund is responsible for worldwide sales and marketing. He has over 17 years of sales and account management experience with a focus on supply chain solutions. He has held executive sales management positions with several technology firms and was instrumental in the formation of the DiCentral sales team. Mr. Edlund is a veteran of the U.S. Navy and attended Central Texas College and Embry Riddle Aeronautical University where he studied Aviation Business Management.

    Michael Neadeau, Vice President of Sales

    Mr. Neadeau is responsible for leading the company's data integration sales efforts. His experience spans over 12 years of software application solution sales in the supply chain industry. Prior to DiCentral, he was a sales executive at St. Paul Software. Mr. Neadeau earned a BA in Business Administration from the University of St. Thomas in St. Paul, Minnesota.

    Eric Braswell, Senior Director of Global Channels

    Mr. Braswell is responsible for the company’s channel development and strategic alliances. With over 10 years of channel sales prior to joining DiCentral, he was responsible for national and global accounts at Quick Eagle Networks. Additionally, he has worked as Vice President of Sales and Operations at United Networks, Inc. and in the VAR and channels community with Shared Technologies Fairchild and United Teleco. He earned his degrees and certifications from the University of Texas at Austin and Cornell University.

    Jean Respass, Director of Client Relations and Project Management

    Ms. Respass is responsible for providing leadership and direction for our product and services implementation strategy for the sales force. Ms. Respass has worked in the retail, manufacturing, and warehouse industries for 20 years. She previously worked for Walgreens and Land O’Lakes, where she managed and implemented Ecommerce solutions for a variety of network and supply chain environments. Ms. Respass earned her Bachelor of Science degree from Olivet University.

    Trent Hicks, Corporate Controller

    Mr. Hicks is responsible for overseeing the company’s accounting and finance functions. Prior to joining DiCentral, Mr. Hicks was responsible for accounting and finance at William George Co., Inc., where he served as Chief Financial Officer and Board member. Additionally, he has served as Loss Control Director for Land O’Pines Dairy, Inc. Mr. Hicks earned a BBA in Accounting from Stephen F. Austin University and an MBA from St. Mary’s University.

    EDI
     
  18. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    BOARD OF DIRECTORS

    Thuy Mai,

    Mr. Mai, Chairman and CEO of DiCentral, is responsible for overall company management, direction and strategy. Prior to DiCentral, he was co-founder of Maingate Corporation. With over 20 years of industry experience, he has worked for United Space Alliance, Unisys, and AT&T Bell Laboratories. Mr. Mai earned a B.S. in Mathematics and Computer Science, and an M.S. in Electrical Engineering and Computer Science from the University of Illinois at Chicago.

    John Nguyen,

    Mr. Nguyen, EVP and Chief Strategy Officer of DiCentral, is responsible for the company’s business strategy. Prior to DiCentral, he was an equity research analyst at Lazard Freres Co & LLC. With over 20 years of technology industry experience, he has worked for AT&T, Siemens, Alcatel, and Nortel. Mr. Nguyen earned an M.S. and B.S. in Computer Science from the Illinois Institute of Technology and Aurora University in Chicago, Illinois.

    Daniel Carroll Sr.,

    Mr. Carroll is the Chairman of The Carroll Group, a consulting firm specializing in business strategies. Mr. Carroll has had over 50 years of management experience, serving as President and Chief Executive Officer of Hoover Universal Inc., President & Chief Operating Officer of Gould Inc., and President of the Management Consulting Division of Booz Allen & Hamilton, Inc. Earlier he was employed by the Navy Department as a management engineer. In addition to service on the boards of several closely held businesses, Mr. Carroll has held directorships in twenty publicly held corporations and has served two of the latter corporations as the non-executive Chairman of the Board. He holds a BA in Government from Dartmouth College, obtained an MA in Political Science from the University of Minnesota, and pursued doctoral studies in Political Science and Social Psychology at the University of Chicago.

    Trung Dung,

    For more than 10 years, Trung has invested and co-founded multiple information technology companies. Trung is currently a Managing Director of V-Home Group, an investment company focusing on opportunities in Vietnam. Trung serves on the board of DiCentral, BlueKey Services, Fogbreak Software. Earlier, Trung was the founder, Chief Technology Officer of OnDisplay, a provider of Business-to-Business Integration Software. Trung helped grow OnDisplay from a product concept to an enterprise software company that was one of the ten most successful IPOs of 1999 and was ultimately acquired by Vignette Corporation in 2000 for $1.8 billion. In 2005, Trung was appointed by President George W. Bush to serve on the board of the Vietnam Education Foundation.

    Trung has completed postgraduate work in Computer Science at Boston University and holds Bachelor Degrees in Mathematics and Computer Science from the University of Massachusetts. Trung's personal and professional story has been profiled in many leading publications including Forbes, the Financial Times, the Wall Street Journal, the San Francisco Chronicle, People magazine, etc. and in books such as: "The American Dream" by Dan Rather, "The Incredible Payback: Innovative Sourcing Solutions That Deliver Extraordinary Results" by Dave Nelson, et al.

    Tom Do,

    Over the course of his career Tom Do has worked with airlines, aircraft manufacturers, leasing companies, financial institutions, and other businesses related to aviation, providing consulting services including strategic fleet planning, sales/marketing support, as well as transaction structuring and negotiating. From 1986 to 1991, Mr. Do was the Engineering Manager of Ground Support Products for McDonnell Douglas Aircraft Company in Long Beach, California. From 1991 to 1996, he was Director of Business Development for Boeing Aircraft Company in South East Asia. Both his experience and background have provided Mr. Do with an expertise in management, marketing, sales and contracting for multi-million dollar aviation operations specific to South-East Asia. Mr. Do holds a Master of Science in Electrical Engineering from the University of Southern California (USC) and has maintained the position of President and CEO of Coastline Beauty College in Fountain Valley, California since 1997.
     
  19. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Fogbreak Software

    Overview

    Fogbreak Software provides solutions to automate key controls for the procurement and inventory processes of today's innovative supply chain enterprises. Fogbreak's enterprise compliance management solutions deliver stronger financial controls, lower compliance cost and risk, and better decision making through improved business intelligence.

    Fogbreak solutions are built on an operational compliance platform that uniquely combines and processes business logic from contract terms and business policies with relevant operational transactions.

    Fogbreak enterprise solutions include:

    * Fogbreak Procurement Control
    * Fogbreak Inventory Liability Control


    Background

    Founded in 2001, Fogbreak Software teams manufacturing industry professionals and financial and accounting expertise with executives from some of the world's most successful software companies. This combination of domain expertise and a proven track record for delivering enterprise software is a significant competitive advantage in the development and delivery of next-generation software solutions.

    Headquartered in the San Francisco/Bay Area, Fogbreak's team is delivering proven value to global 2000 manufacturers like Symbol Technologies, Sanmina-SCI, and Plexus.

    BOARD OF DIRECTORS

    Fogbreak's accomplished team brings together world-class leaders in supply chain management, software development, and application integration.

    Nilesh Jain – Founder and CEO
    Bipin Nepani – Founder and CTO
    Trung Dung – Founder and Chairman

    Nilesh Jain – Founder and CEO

    Nilesh Jain serves as Bluekey Services chief executive officer. An enterpreneur who has played key roles in the success of several high-tech oragnizations. He brings to Bluekey substantial professional services and customer relations experience with major management consulting & software companies, including Ernst & Young, & SeeCommere. Before joining Bluekey, Nilesh ran a consulting organization where he established the business from ground up. Prior to that, he was Sr. Manager at SeeCommerce, a performance management software vendor. Prior to that, Nilesh was Sr. Manager at Ernst & Young (now Cap Gemini) responsible for large project teams with millions in revenues, managing complex implementations globally. He holds a B.S. degree in EE Engineering and an MBA from University of Pittsburgh.


    Bipin Nepani – Founder and CTO

    A driven enterpreneur and Technologist with 10 years of experience in managing technical projects, building application code structures, systems administration and implementing packaged Enterprise software. Bipin possess a strong technical background in multi-platform, multi-language development. Some of his core strengths include project management, scope determination, work prioritization and solution design for SCM, ERP applications such as Fogbreak Software, J.D. Edwards OneWorld and PeopleSoft. He has served in diverse roles in the hi-tech, education, publishing, pharmaceutical, services, engineering and software.


    Trung Dung, Founder and Chairman


    Trung, a pioneer in the development of business-to-business application integration technology, previously was the Founder, Chief Technology Officer and Chief Strategy Officer of OnDisplay, Inc. Trung grew OnDisplay from a product concept to an enterprise software company that was one of the ten most successful IPOs of 1999 and ultimately acquired by Vignette Corporation in 2000 for $1.8 billion. Prior to OnDisplay, Trung was an early Senior Engineer at Open Market, the first developer of Internet commerce software. Trung completed postgraduate work in Computer Science at Boston University and holds bachelor degrees in Mathematics and Computer Science from the University of Massachusetts. Trung's personal and professional story has been profiled in many leading publications including Forbes, the Financial Times, the Wall Street Journal and the San Francisco Chronicle, as well as in Dan Rather's book "The American Dream".

    http://www.fogbreak.com
     
  20. thoidaianhhung

    thoidaianhhung Administrator

    Joined:
    Jan 2, 2008
    Messages:
    154
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    16
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Quản Lý Đầu Tư Công Nghệ
    Location:
    Ha Noi - Viet Nam
    Successful Vietnamese in foreign countries

    Computer Science

    * Professor AnHai Doan (Đoàn An Hải), Department of Computer Science, University of Illinois at Urbana-Champaign, USA. Homepage Email: anhai@cs.uiuc.edu

    * Professor Hung Quang Ngo (Ngô Quang Hưng), Department of Computer Science and Engineering, SUNY at Buffalo, USA. Homepage

    * Dr. Minh Do (Đỗ Bình Minh), Embedded Reasoning Area (ERA), Palo Alto Research Center, USA. Homepage

    * Dr. Quang-Tuan Luong (Lương Quang Tuấn), Artificial Intelligence Center, SRI International, USA. Homepage

    * Professor Thu D. Nguyen (Nguyễn Đức Thụ), Department of Computer Science, Rutgers University, USA. Homepage

    * Professor Tu Bao Ho (Hồ Tú Bảo), School of Knowledge Science, JAIST, Japan. Homepage Email: bao@jaist.ac.jp

    * Professor Duc A. Tran, Department of Computer Science, University of Massachusetts, Boston, USA. Homepage Email: duc@cs.umb.edu

    * Dr. Hung H. Bui, Artificial Intelligence Center, SRI International, USA. Homepage

    * Professor T. D. Bui (Bùi Tiến Đài), Department of Computer Science, Concordia University, Canada. Homepage

    * Professor Huong Quynh Dinh, Department of Computer Science, Stevens Institute of Technology, USA. Homepage

    * Professor Phan Minh DUNG (Phan Minh Dũng), Department of Computer Science, Asian Institute of Technology, Thailand. Homepage Email: dung@cs.ait.ac.th

    * Professor Dung T. Huynh, University of Texas at Dallas, USA. Homepage Email: huynh@utdallas.edu

    * Dr. Vu Duong (Dương Nguyên Vũ), EUROCONTROL Experimental Centre, EUROCONTROL, France. Email: vu.duong@eurocontrol.int

    * Dr. Tran Hoai Linh, Faculty of Electrical Engineering, Warsaw University of Technology, Poland. Homepage Email: linh@iem.pw.edu.pl

    * Professor P. Tran-Gia, University of Würzburg, Germany. Homepage

    * Professor Khai N. Truong, Department of Computer Science, University of Toronto, Canada. Homepage

    * Professor Uyen Trang Nguyen, Computer Science and Engineering, York University, Canada. Homepage

    * Professor Thang N. Bui (Bui Nguyen Thang), Department of Math and Computer Science, Penn State University, USA. Homepage

    * Professor Lê Thi Hoài An (Lê Thị Hoài An), Département Informatique, Université Paul Verlaine - Metz, France. Homepage Email: lethi@sciences.univ-metz.fr

    * Dr. Phong Q. Nguyen (Nguyễn Phong Quang), Crypto Team, École normale supérieure, France. Homepage Email: Phong.Nguyen`at` ens.fr

    * Dr. Dang Van Hung (Đặng Văn Hưng), International Institute for Software Technology, United Nations University, Macao. Homepage Email: dvh[aT]iist[DoT]unu[DoT]edu

    * Professor Nguyen Hung Son (Nguyễn Hùng Sơn), Faculty of Mathematics, Informatics and Mechanics, Warsaw University, Poland. Homepage Email: son@mimuw.edu.pl

    * Mr./Ms. Trung Dung, Bluekey Services, USA.

    * Professor Tuan Pham, School of Information Technology, James Cook University, Australia. Homepage Email: tuan.pham@jcu.edu.au

    * Professor My Tra Thai (Thái Trà My), Computer and Information Science and Engineering Department, University of Florida, USA. Homepage Email: mythai@cise.ufl.edu

    * Professor Manh Tien Tran (Trần Mạnh Tiến), Dept. of Informatic and Microsystem Technics, University of Applied Sciences Kaiserslautern, Germany. Homepage Email: ManhTien.Tran@fh-kl.de

    * Professor Tien N. Nguyen (Nguyễn Nhựt Tiến), Electrical and Computer Engineering Department, Iowa State University, USA. Homepage Email: tien@iastate.edu

    * Dr. Phu Dung Le (Le Phu Dung), Faculty of Information Technology, Monash University, Australia. Homepage Email: Phu.Dung.Le@infotech.monash.edu.au

    * Professor Banh Tri An (Banh Tri An), Montefiore Institute, Department of Electrical Engineering and Computer Science, Université de Liège, Belgium. Homepage Email: Tri-An.Banh@ulg.ac.be

    * Professor Ngoc Thanh Nguyen (Nguyễn Ngọc Thành), Institute of Information Science & Engineering, Wroclaw University of Technology, Poland. Homepage Email: thanh@pwr.wroc.pl

    * Professor Hanh H. Pham (Phạm Hồng Hạnh), State University of New York at New Paltz, USA. Homepage Email: phamh@newpaltz.edu

    * Professor Congduc Pham (Phạm Công Đức), LIUPPA laboratory, University of Pau, France. Homepage Email: Congduc.Pham@univ-pau.fr

    * Professor Hien Nguyen, Department of Mathematics and Computer Science, University of Wisconsin-Whitewater, USA. Homepage

    * Dr. Quang-Huy Nguyen, Security Labs, Gemalto Corporation, France. Homepage Email: quang-huy.nguyen@gemalto.com

    * Professor Phuoc Tran-Gia (Tran-Gia Phuoc), Institute of Computer Science, University of Wuerzburg, Germany, Germany. Homepage Email: trangia@informatik.uni-wuerzburg.de

    * Professor Vinhthuy Phan (Phan Thanh Vĩnh Thụy), Department of Computer Science, The University of Memphis, USA. Homepage Email: vphan@memphis.edu

    * Professor Duc Bui (Bùi Minh Đức), Department of Computer Science and Software Engineering, Laval University, Canada. Homepage Email: duc.bui@ift.ulaval.ca

    Người Việt Thành Công Ở Nước Ngoài !
     

Share This Page